Tiểu luận “Biện pháp chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế Thực tiễn áp dụng thông qua vụ việc chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội” đã làm rõ một số vấn đề lý luận về biện pháp chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế và thực tiễn áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở nước ta thông qua vụ việc chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội.
NỘI DUNG
Một số vấn đề lý luận về biện pháp chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế
1.1 Khái niệm bán phá giá và chống bán phá giá
Bán phá giá trong thương mại quốc tế xảy ra khi hàng hóa xuất khẩu từ nước này sang nước khác với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh Theo Hiệp định GATT, bán phá giá được định nghĩa là các sản phẩm được bán trên thị trường nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm tại thị trường xuất khẩu Hiệp định ADA cũng xác định rằng một sản phẩm bị coi là bán phá giá khi giá xuất khẩu thấp hơn mức giá có thể so sánh của hàng hóa tương tự tiêu thụ tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại bình thường Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) xem hành vi này như một hoạt động cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu Để ngăn chặn bán phá giá, GATT 1994 cho phép các thành viên áp dụng thuế chống bán phá giá (CBPG) khi bán phá giá gây thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp trong nước hoặc ảnh hưởng đến sự hình thành của ngành công nghiệp mới CBPG là một biện pháp phòng vệ thương mại, thường dưới dạng thuế, nhằm loại bỏ lợi thế không công bằng của các sản phẩm bán phá giá và bảo vệ ngành công nghiệp trong nước khỏi tác động tiêu cực của hàng hóa nhập khẩu giá thấp.
1 Điều VI.1 Hiệp định GATT 1994
Theo Điều VI.2 Hiệp định GATT 1947 và quy định năm 2017, biện pháp chống bán phá giá (CBPG) được áp dụng khi hàng hóa bị xác định là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam, gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Các biện pháp này nhằm bảo vệ ngành công nghiệp nội địa, ngăn chặn sự hình thành hoặc mở rộng của các ngành bị tổn thương do hoạt động bán phá giá.
Trong WTO, nguyên tắc về biện pháp chống bán phá giá (CBPG) được quy định tại Điều VI của Hiệp định GATT, và Hiệp định ADA chi tiết hoá các quy định này về điều kiện, thủ tục kiện và áp dụng biện pháp CBPG Mỗi quốc gia cũng xây dựng quy định riêng dựa trên các nguyên tắc chung của WTO để điều chỉnh vấn đề này Đối với doanh nghiệp, biết rõ các quy định của WTO là đủ để hiểu về các vấn đề cơ bản liên quan đến CBPG trong thương mại quốc tế, nhưng để nắm rõ thủ tục, trình tự và cơ quan có thẩm quyền của từng thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp cần tìm hiểu pháp luật của từng nước Tại Việt Nam, việc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, điều tra và áp dụng biện pháp CBPG tuân thủ chặt chẽ Hiệp định ADA và các văn bản pháp luật như Luật Quản lý ngoại thương 2017, Nghị định số 90/2005/NĐ-CP thay thế bằng Nghị định số 10/2018/NĐ-CP Việt Nam đã ban hành các quy định pháp luật phù hợp nhằm thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trong nước.
1.2 Điều kiện và trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Theo quy định của WTO, việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (CBPG) chỉ được thực hiện sau khi cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu tiến hành điều tra và kết luận xác nhận sự tồn tại của cả ba điều kiện: hàng hóa nhập khẩu đang bán phá giá, gây thiệt hại thực tế hoặc đe dọa gây thiệt hại đối với các doanh nghiệp trong nước sản xuất sản phẩm tương tự, và hành động bán phá giá làm trì trệ thị trường nội địa.
Quy trình thành lập ngành công nghiệp trong nước có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng bán phá giá và thiệt hại vật chất Theo quy định của WTO và Luật Quản lý ngoại thương 2017, việc áp dụng biện pháp CBPG đối với hàng nhập khẩu yêu cầu hàng hóa bị bán phá giá với biên độ lớn hơn 2% Ngành sản xuất trong nước sẽ bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại hoặc cản trở sự hình thành của ngành, dựa trên các quy định tại Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/1/2018 Ngoài ra, cần thiết phải xác định có mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa việc nhập khẩu hàng hóa bán phá giá và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, "vụ kiện" CBPG thực chất là một quy trình gồm các bước Kiện - Điều tra - Kết luận - Áp dụng biện pháp CBPG (nếu có), nhằm xử lý các nghi ngờ về bán phá giá hàng nhập khẩu gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Đây không phải là thủ tục tố tụng tại tòa án mà là thủ tục hành chính do cơ quan hành chính của nước nhập khẩu thực hiện nhằm giải quyết tranh chấp thương mại giữa ngành sản xuất nội địa và nhà xuất khẩu nước ngoài Quy trình điều tra áp dụng thuế CBPG bắt đầu từ việc tổ chức, cá nhân trong ngành sản xuất trong nước gửi yêu cầu; tiếp đến, cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi xướng điều tra hoặc từ chối đơn; và sau đó tiến hành điều tra sơ bộ để xác định các bước tiếp theo của quá trình xử lý.
5 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017
6 Điều 23, 24, 25 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP
7 Khoản 1 Điều 79 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017
Quá trình điều tra sơ bộ về bán phá giá và thiệt hại bắt đầu từ việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi gửi cho các bên liên quan, đồng thời xác minh dữ liệu do các bên cung cấp Tiếp đó, họ đưa ra kết luận sơ bộ, có thể kèm theo quyết định áp dụng biện pháp tạm thời như buộc đặt cọc hoặc ký quỹ Sau bước này, cuộc điều tra về bán phá giá và thiệt hại tiếp tục, bao gồm cả khảo sát thực địa tại nước xuất khẩu nếu cần thiết Kết quả cuối cùng của quá trình này là quyết định có hay không áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Sau đó, biện pháp này sẽ được rà soát lại sau 01 năm kể từ ngày quyết định, để đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp, và cuối cùng là rà soát cuối kỳ, được thực hiện trước khi kết thúc thời hạn áp dụng biện pháp, đảm bảo tất cả các điều kiện và tình hình hiện tại đều được xem xét kỹ lưỡng.
Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá (CBPG) không phụ thuộc vào việc hàng hóa nước ngoài bán phá giá, mà đòi hỏi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định Cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu chỉ có thể ra quyết định áp dụng biện pháp CBPG sau khi tiến hành điều tra, xác định và kết luận rõ ràng về sự tồn tại của cả ba điều kiện cần thiết Điều này đảm bảo quá trình xem xét và áp dụng biện pháp CBPG được thực hiện theo đúng quy trình pháp luật.
1.3 Áp dụng biện pháp chống bán phá giá và điều kiện miễn trừ áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Theo quy định của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, các biện pháp chống bán phá giá (CBPG) bao gồm việc áp dụng thuế CBPG và cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp CBPG, góp phần đảm bảo cân đối thị trường và bảo vệ ngành công nghiệp trong nước.
Cơ quan điều tra của Việt Nam, đã được phép của các nhà sản xuất trong nước, tiến hành xem xét các vụ việc về hàng hóa bán phá giá nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước Theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016, thuế chống bán phá giá (CBPG) được đánh vào hàng hóa nhập khẩu bán phá giá nhằm bảo vệ sản xuất trong nước khỏi tác động tiêu cực của hàng hóa bán phá giá nhập khẩu gây thiệt hại đáng kể.
8 Khoản 2 Điều 82 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017
Thuế chống bán phá giá (CBPG) có thời hạn không vượt quá 5 năm kể từ ngày ban hành quyết định và có thể gia hạn sau khi Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét việc duy trì biện pháp này Quyết định áp dụng thuế CBPG chỉ có hiệu lực đối với hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia bị kiện sau thời điểm ban hành, và việc áp dụng thuế từ trước đó chỉ thực hiện khi thiệt hại thực tế cho ngành sản xuất nội địa Cơ quan điều tra xác định mức thuế dựa trên biên độ phá giá, đảm bảo mức thuế này không vượt quá hoặc bằng biên độ phá giá và xác định riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu CBPG nhằm duy trì điều kiện thương mại công bằng, không phải là biện pháp bảo hộ, và có thể hạn chế đối với các nhà sản xuất lớn bằng cách giới hạn độ rộng của biên độ phá giá Trong trường hợp nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết nâng giá hoặc ngừng phá giá, cơ quan điều tra có thể đình chỉ hoặc kết thúc điều tra mà không áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế CBPG, miễn là cam kết này đủ để khắc phục thiệt hại Mức tăng giá đề xuất thường nhỏ hơn hoặc bằng biên độ phá giá để đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của biện pháp.
10 Khoản 5 Điều 4 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016
Điểm 11 khoản 3 Điều 81 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 thay thế cho khoản 3, 4 Điều 22 Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 nhằm khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Cơ quan điều tra sẽ từ chối chấp nhận các cam kết về giá từ phía nhà sản xuất hoặc xuất khẩu nếu nhận thấy các cam kết này không khả thi, ví dụ như số lượng nhà xuất khẩu quá lớn Tuy nhiên, cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá, mặc dù không bắt buộc, và các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất khẩu nào chấp nhận cam kết giá cũng như cung cấp thông tin định kỳ về việc thực hiện cam kết đó.
Theo quy định tại Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, không phải tất cả các trường hợp hàng hóa nước ngoài bán phá giá đều có thể áp dụng biện pháp chống bán phá giá, vì có những trường hợp loại trừ Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu có biên độ bán phá giá không vượt quá 2% giá xuất khẩu vào Việt Nam sẽ không bị áp dụng biện pháp CBPG Ngoài ra, hàng hóa từ các nước có khối lượng hoặc số lượng không vượt quá 3% tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, và tổng của các nước này không vượt quá 7%, sẽ bị loại khỏi phạm vi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.
Thực tiễn áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở nước ta thông qua vụ việc chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội
vụ việc chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội
2.1 Quy trình, thủ tục pháp lý mà Bộ Công thương, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành và nội dung giải quyết các đề nghị, kiến nghị của Công ty CP thang máy Thiên Nam trong thời gian tiến hành rà soát chống bán phá giá đối với thép không gỉ lần 1 và lần 2 trong vụ việc
Nhận định của Luật sư về quy trình, thủ tục pháp lý mà BCT, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành:
12 Khoản 2 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017
BCT nêu rõ trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng bợ thuế (CBPG) tuân thủ theo pháp luật về CBPG Việt Nam và hướng dẫn thu nộp thuế CBPG của Bộ Tài chính Các quy định này căn cứ vào luật quản lý thuế và các quy định pháp lý liên quan khác, đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong quá trình thực hiện Trình tự, thủ tục thực hiện của BCT được quy định rõ ràng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng biện pháp CBPG đúng quy định của pháp luật Việt Nam.
Ngày 06/5/2013, Ban Chống bán phá giá (BCT) tiếp nhận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội nhập khẩu vào Việt Nam, với các mã HS 7219.32.00, 7219.33.00, 7219.34.00, 7219.35.00, 7219.90.00, 7220.20.10, 7220.20.90, 7220.90.10, 7220.90.90, do Công ty TNHH POSCO VST và Công ty cổ phần Inox Hòa Bình đại diện ngành sản xuất trong nước gửi hồ sơ yêu cầu Sau quá trình thẩm tra, nhận thấy hai công ty đủ tư cách khởi kiện do chiếm khoảng 81,1% thị phần thép không gỉ tại Việt Nam, xác nhận họ có đủ vai trò đại diện ngành sản xuất trong nước theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11.
Văn bản cho biết, ngày 02/7/2013, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 4460/QĐ-BCT về việc tiến hành điều tra vụ việc dựa trên đơn kiện tiếp nhận vào ngày 06/05/2013 Quyết định này dựa trên quy định tại khoản 4 Điều 10 của Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11, theo đó, trong vòng sáu mươi ngày kể từ khi nhận hồ sơ đầy đủ theo quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh, Bộ trưởng Bộ Thương Mại có trách nhiệm ra quyết định điều tra.
Ngay sau quyết định này, Cơ quan điều tra đã gửi Bản câu hỏi điều tra về lượng và giá trị, dựa trên phản hồi của các doanh nghiệp liên quan và dữ liệu từ Tổng cục Hải quan Việt Nam Giai đoạn điều tra (POI) tập trung xác định biên độ bán phá giá từ ngày 01/4/2012 đến ngày 31/3/2013, nhằm làm rõ tác động của thép nhập khẩu đối với ngành sản xuất trong nước Kết quả điều tra cho thấy trong giai đoạn 2011-2013, các chỉ số về sản xuất, bán hàng, giá bán, thị phần, công suất, dòng tiền, lao động và tiền lương đều giảm (SEO: báo cáo điều tra thép nhập khẩu), phản ánh ngành thép nội địa đã chịu thiệt hại đáng kể do thép nhập khẩu giá trị thấp gây ra Báo cáo cũng ghi nhận rằng trong năm 2010-2011, lượng thép nhập khẩu từ bốn quốc gia bị cáo buộc chiếm 72-76% tổng lượng nhập khẩu (tương đương khoảng 69.000 tấn/năm), trong khi các nhà sản xuất Việt Nam còn nhập thêm từ các quốc gia khác, chiếm 23-27% (khoảng 20.000 tấn/năm), cho thấy mức độ ảnh hưởng rõ rệt của thép nhập khẩu đến thị trường trong nước.
Vào ngày 02/12/2013, Cục Quản lý cạnh tranh đã công bố Kết luận điều tra sơ bộ liên quan đến vụ việc áp dụng biện pháp CBPG đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội nhập khẩu vào Việt Nam Các mã HS được đề cập bao gồm 7219.32.00, 7219.33.00, 7219.34.00, 7219.35.00, 7219.90.00, 7220.20.10, 7220.20.90, 7220.90.10 và 7220.90.90, từ các nước/vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Loan Vụ việc này đã được xác định theo mã số 13-KN-BPG-01, phù hợp với quy định của pháp luật về cạnh tranh tại Việt Nam.
Theo Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11, cơ quan điều tra có trách nhiệm công bố kết luận sơ bộ trong vòng 90 ngày kể từ ngày ra quyết định điều tra, nhằm thông báo các nội dung liên quan đến quá trình điều tra cho các bên liên quan.
Vào ngày 25/12/2013, sau khi xem xét toàn bộ thông tin từ các bên liên quan, BCT đã ban hành Quyết định số 9990/QĐ-BCT về việc áp dụng biện pháp CBPG tạm thời trong 120 ngày, với mức thuế CBPG cụ thể cho hàng hóa của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam Căn cứ Khoản 3, Điều 22, Nghị định 90/2005/NĐ-CP, từ ngày 16/01 đến 18/04/2014, Cơ quan điều tra đã tiến hành thẩm tra tại chỗ các doanh nghiệp liên quan Ngày 06/6/2014, họ tổ chức phiên tham vấn để các bên liên quan trình bày quan điểm trước khi ra kết luận cuối cùng Toàn bộ ý kiến và bình luận đều được phân tích, tổng hợp và phản ánh trong Báo cáo cuối cùng của cơ quan điều tra.
Hội đồng xử lý vụ việc CBPG đã họp ngày 13/8/2014 và nhất trí về các nội dung liên quan, gồm có tình trạng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây thiệt hại, và có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá nhập khẩu với thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước Do đó, hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam đáp ứng đủ điều kiện để áp dụng biện pháp CBPG theo Điều 6 Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11.
Vào ngày 05/09/2014, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 7896/QĐ-BCT áp dụng biện pháp chống bán phá giá (CBPG) đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội, dạng cuộn hoặc tấm với độ dày ≤ 3,5mm, đã qua ủ hoặc xử lý nhiệt, và ngâm hoặc cạo gỉ để loại bỏ tạp chất dư thừa trên bề mặt Những sản phẩm này thuộc các mã HS: 7219.32.00; 7219.33.00; 7219.34.00; 7219.35.00; 7219.90.00; 7220.20.10; 7220.20.90; 7220.90.10; 7220.90.90 và được nhập khẩu vào Việt Nam từ các quốc gia/vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Loan Mức thuế CBPG chính thức sẽ được áp dụng theo quy định cụ thể trong Thông báo đính kèm của Quyết định đối với các doanh nghiệp sản xuất hoặc xuất khẩu nước ngoài nhập khẩu các mặt hàng này vào Việt Nam.
Sau một năm kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp CBPG, các bên liên quan có quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ Công Thương rà soát nếu có bằng chứng chứng minh sự cần thiết Ngày 15/9/2015, Cục Quản lý cạnh tranh tiếp nhận hồ sơ hợp lệ từ Công ty TNHH POSCO VST và Công ty Cổ phần Inox Hòa Bình đề nghị rà soát thuế CBPG đối với sản phẩm thép không gỉ cán nguội nhập khẩu Sau khi xem xét hồ sơ, ngày 21/10/2015, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 11353/QĐ-BCT tiến hành rà soát lần thứ nhất, gửi câu hỏi điều tra về lượng và giá trị đến các nhà sản xuất/xuất khẩu, dựa trên đó lựa chọn mẫu để điều tra Kết quả rà soát ngày 29/4/2016 cho thấy mức thuế CBPG mới tăng mạnh, từ 3,07% lên đến 25,35%, ngoại trừ thép nhập khẩu từ Malaysia có mức giảm nhẹ, và mức thuế áp dụng đến tháng 10/2019, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ngành sản xuất trong nước.
Cục Quản lý cạnh tranh đã tiếp nhận hồ sơ yêu cầu rà soát lần thứ hai về thuế chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội nhập khẩu vào Việt Nam kể từ ngày 19/02/2017 Đến ngày 15/4/2017, các doanh nghiệp nhập khẩu thép và công ty xuất khẩu nước ngoài vào Việt Nam đã nộp hồ sơ yêu cầu rà soát Ngày 23/5/2017, Bộ Công thương ban hành Quyết định số 1849/QĐ-BCT tiến hành rà soát lần thứ hai vụ việc này Vào ngày 04/07/2018, Bộ Công thương tiếp tục ban hành Quyết định mới liên quan đến quá trình rà soát.
Theo Quyết định số 2398/QĐ-BCT, mức thuế chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội giữ nguyên từ đợt rà soát trước, áp dụng từ ngày 20/7/2018 đến ngày 6/10/2019, cho nhiều quốc gia và nhà cung cấp Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng loại trừ các sản phẩm thép không gỉ mà ngành sản xuất trong nước chưa có khả năng sản xuất hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, nhằm đảm bảo phù hợp với thực tế sản xuất trong nước và tránh gây thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước.
Vào ngày 02/10/2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 3551/QĐ-BCT về việc tiến hành rà soát cuối kỳ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với các mặt hàng thép không gỉ cán nguội Việc này nhằm đánh giá lại hiệu quả các biện pháp phòng vệ thương mại và xác định các bước tiếp theo phù hợp Ngày 21/10/2019, Bộ Công Thương tiếp tục ban hành các văn bản liên quan để thúc đẩy quá trình rà soát, đảm bảo ứng phó hiệu quả với các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ lợi ích của ngành thép trong nước.
Quyết định số 3162/QĐ-BCT xác nhận kết quả rà soát cuối kỳ việc áp dụng thuế CBPG đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội có xuất xứ từ Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Loan Theo quyết định này, biện pháp CBPG được gia hạn thêm 05 năm nhằm đảm bảo công bằng và ổn định thị trường thép trong nước Mức thuế cụ thể được quy định rõ ràng trong quyết định để thực hiện đúng quy định về thuế chống bán phá giá Quyết định này góp phần bảo vệ ngành thép trong nước trước các hành vi bán phá giá từ các quốc gia liên quan.
Quyết định 3162/QĐ-BCT Đến nay, ngày 05/04/2022, BCT ban hành Quyết định 625/QĐ-BCT giữ nguyên việc áp dụng biện pháp CBPG