Vì vậy, trong quá trình xem xét, giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vụ nuôi con của cha mẹ sau ly hôn theo pháp luật Việt Nam thì Tòa án ngoài việc phải tiến hành điều tra, tìm hiểu tâm tư
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM TRÔNG NOM, CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, GIÁO DỤC CON SAU KHI CHA MẸ LY HÔN
Xác định dựa vào sự thỏa thuận của cha mẹ
Quy định này thể hiện rõ tính ưu việt của pháp luật hiện hành so với các văn bản năm 1954 ở miền Nam Việt Nam Các quy định về quyền nuôi con và thăm nom dựa trên nguyên tắc người không có lỗi trong việc tan vỡ hạnh phúc gia đình sẽ tự nhiên có quyền nuôi con và quyền thăm nom, phản ánh xu hướng giải quyết ly hôn trên cơ sở lỗi của các bên.
Điều 81 Luật HNGĐ năm 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng, thể hiện trách nhiệm của người có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng không nên chỉ dựa trên lý do người đó phạm lỗi dẫn đến ly hôn, mà phải đặt lợi ích của con làm trung tâm Điều này cho thấy, không có lỗi trong quá trình ly hôn không đồng nghĩa với khả năng chăm sóc, giáo dục con tốt hơn, vì vậy cần nhìn nhận đúng vai trò và trách nhiệm trong nuôi dưỡng con cái sau ly hôn.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất khả năng hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Luật HNGĐ, BLDS và các luật liên quan đề cao quyền tự thỏa thuận của cha mẹ trong việc xác định ai là người trực tiếp nuôi con, thể hiện sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ Người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này Ngoài ra, quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng được đảm bảo nếu người đang trực tiếp nuôi con không bảo vệ tốt quyền lợi của trẻ, và có thể khởi kiện ra tòa để được xem xét và quyết định việc thay đổi người nuôi con sau ly hôn.
Tinh thần phối hợp và thỏa thuận giữa vợ và chồng sau ly hôn được thể hiện rõ qua Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP và tiếp tục được ghi nhận trong Luật HNGĐ năm 2014 Theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành, các bên phải thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn để đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ con Tòa án sẽ xác nhận thuận tình ly hôn khi vợ chồng tự nguyện yêu cầu và có thỏa thuận về việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con, tài sản chung, nợ chung Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào hai bên cũng có thể thống nhất tất cả các nội dung này.
Trong các vụ án tranh chấp về nuôi con sau ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cơ chế pháp luật tố tụng yêu cầu Thẩm phán lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên Việc lấy ý kiến này phải thực hiện một cách thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi và khả năng nhận thức của người chưa thành niên, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Ngoài ra, quá trình này đảm bảo giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên và chỉ tiến hành khi cần thiết để đảm bảo công bằng trong xét xử.
3 Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1964), Sắc luật số 15/64 quy định giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng, Sài Gòn
Điều 55 Luật Hợp tác gia đình năm 2014 quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em trong việc tham dự các hoạt động liên quan đến gia đình Cụ thể, các đại diện của cơ quan này được phép chứng kiến và tham gia ý kiến trong các cuộc họp, sự kiện liên quan đến gia đình Điều này nhằm đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình Việc có sự tham gia này góp phần thúc đẩy các chính sách về gia đình và trẻ em ngày càng hiệu quả hơn.
Ngoài ra, về thủ tục tố tụng áp dụng đối với việc ly hôn thuận tình, Điều 397
Theo Bộ luật TTDS, nếu hòa giải đoàn tụ không thành công, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và các thỏa thuận giữa các đương sự, đảm bảo các điều kiện như cả hai thực sự tự nguyện ly hôn, đã thống nhất về việc chia hoặc không chia tài sản chung, và các vấn đề liên quan đến trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; đồng thời, sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Các quy định pháp luật hiện hành thể hiện những thiếu sót, mâu thuẫn khiến gây ra nhiều cách hiểu khác nhau về việc xác định quyền trực tiếp nuôi con dựa trên thỏa thuận của các bên Khi cha mẹ thỏa thuận chia tài sản, chăm sóc và giáo dục con, quá trình giải quyết ly hôn thường diễn ra nhanh chóng, nhưng trong trường hợp không thể thỏa thuận, Tòa án sẽ quyết định dựa trên các yếu tố pháp luật Trong các trường hợp con đủ tuổi tự quyết với mong muốn sống chung với ai nhưng trái ý kiến của cha mẹ, việc xử lý sẽ phụ thuộc vào việc tôn trọng ý kiến của con hay theo quyết định của Tòa án; đồng thời, cần xem xét liệu có thủ tục xét nguyện vọng của trẻ em khi cha mẹ đã đồng thuận hay không để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ.
Sự khác biệt trong nhận thức về cơ chế pháp lý tại các Tòa án gây ra tình trạng chưa thống nhất trong việc áp dụng Một số Tòa án thực hiện thủ tục lấy ý kiến con trong mọi vụ ly hôn khi con đạt độ tuổi theo luật định, trong khi đó, có Tòa án không xem xét nguyện vọng của con trong các trường hợp ly hôn thuận tình hoặc chỉ áp dụng thủ tục này khi cha mẹ không thỏa thuận được người nuôi con.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, ý kiến của con cái chỉ là một phần trong quá trình xem xét quyết định của tòa án Tòa án nên dựa trên các thỏa thuận của vợ chồng để đưa ra quyết định cuối cùng, đảm bảo quyền lợi và lợi ích tốt nhất cho các bên liên quan.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, cũng như quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn Trong trường hợp hai bên không thể thỏa thuận, tòa án sẽ quyết định giao con cho người phù hợp nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ.
6 Khoản 3 điều 208 Bộ luật TTDS năm 2015
Trong quá trình giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con sau ly hôn, Tòa án sẽ căn cứ vào lợi ích của trẻ để đưa ra quyết định, đồng thời có xem xét nguyện vọng của con nếu trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên Một bên có thể trực tiếp nuôi con dựa trên các yếu tố liên quan đến quyền lợi về mọi mặt của trẻ, nhằm đảm bảo sự phù hợp và công bằng trong việc xác định người trực tiếp chăm sóc.
Trong quy trình giải quyết vụ án ly hôn, việc ưu tiên hàng đầu là thúc đẩy thỏa thuận giữa vợ chồng để đảm bảo quyền lợi cho các bên Khi xem xét ai là người trực tiếp nuôi con, Tòa án căn cứ vào thỏa thuận của hai bên, đồng thời ý kiến của con từ đủ 7 tuổi trở lên cũng được lắng nghe để đưa ra quyết định công bằng Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được, Tòa án sẽ dựa trên ý kiến của con và các chứng cứ để xác định người nuôi con phù hợp nhất Tuy nhiên, nếu đã có thỏa thuận rõ ràng giữa vợ chồng về việc nuôi con, thì Tòa án sẽ dựa trên thỏa thuận đó để quyết định giao quyền nuôi con cho mẹ hoặc cha, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho đứa trẻ.
Quan hệ HNGĐ được xem là một loại quan hệ dân sự theo nghĩa rộng và pháp luật cho phép các bên tự do thỏa thuận, tôn trọng thỏa thuận đó Việc quyết định ai là người nuôi con sau ly hôn cũng thuộc phạm vi các thỏa thuận hợp pháp giữa các bên Nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật dân sự đảm bảo các bên có quyền tự do giao kết và xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự theo ý muốn của mình, miễn là không trái với trật tự công cộng.
Nguyên tắc tự do ý chí trong luật dân sự phát xuất từ các lý thuyết về tự do của thế kỷ 18, có ảnh hưởng sâu rộng đến pháp luật dân sự củaPháp và Đức, và gián tiếp tác động đến luật dân sự Việt Nam Lý thuyết này ủng hộ tự do ý chí vô hạn, tin rằng sự thương lượng tự nguyện giữa các cá nhân giúp tạo ra công bằng và tự do Hệ quả của nguyên tắc này là các thỏa thuận và hành vi pháp lý đơn phương trở thành nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ dân sự, thể hiện sự coi trọng nghĩa vụ dựa trên ý chí của chủ thể bị ràng buộc, thay vì chỉ dựa vào nghĩa vụ pháp định.
Xác định dựa vào quyết định của Tòa án
Khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con và được Tòa án ghi nhận trong bản án ly hôn Trong trường hợp không thể thỏa thuận, Tòa án có thẩm quyền quyết định ai là người nuôi con dựa trên các yếu tố như ưu tiên giao con cho mẹ dưới 36 tháng tuổi; xem xét nguyện vọng của trẻ khi quyết định giữa cha hoặc mẹ; và dựa trên lợi ích tốt nhất của trẻ Tòa án cũng tham khảo ý kiến của các cơ quan nhà nước về gia đình và trẻ em để đảm bảo quyết định phù hợp và công bằng.
Trong quá trình quyết định giao con cho một bên nuôi dưỡng, Tòa án xem xét nhiều yếu tố, bao gồm lấy ý kiến và nguyện vọng của trẻ về việc sống cùng cha hoặc mẹ sau khi ly hôn, đặc biệt khi trẻ đạt độ tuổi và mức độ nhận thức nhất định Đây là thủ tục tố tụng có tính ràng buộc, thể hiện cơ chế nhân văn nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ Việc này có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận lẫn thực tiễn, đảm bảo rằng quyết định về quyền nuôi dưỡng trẻ trong quá trình ly hôn phản ánh nguyện vọng và lợi ích tốt nhất của trẻ.
Theo Điều 55, Khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, những người con có quyền được hưởng lợi ích lớn nhất từ quyền quyết định liên quan đến cuộc sống của chính mình, đặc biệt khi mất đi điểm tựa quan trọng như mái ấm gia đình có đủ cha lẫn mẹ Vì vậy, cần lắng nghe ý kiến của các con để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của chúng, nhằm xác định ai là người phù hợp nhất để con muốn sống cùng.
1.2.1 Việc lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên khi xem xét quyết định người trực tiếp nuôi con
Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi và khẳng định các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho trẻ em có khả năng hình thành quan điểm riêng Trẻ em có quyền tự do phát biểu quan điểm về các vấn đề ảnh hưởng đến mình, và các quốc gia phải tạo điều kiện để trẻ em thể hiện ý kiến trong các quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính Quan điểm của trẻ em phải được tôn trọng phù hợp với độ tuổi và mức độ trưởng thành của các em, nhằm đảm bảo quyền của trẻ em được bảo vệ một cách toàn diện.
Các quốc gia thành viên Công ước thể hiện tinh thần này qua các quy định pháp lý cụ thể Ví dụ, tại Mục 6 của Đạo luật Chăm sóc Trẻ em năm 2004 (sửa đổi năm 2012) của New Zealand, quy định về quyền của trẻ em trong các thủ tục tố tụng liên quan đến giám hộ, chăm sóc và liên lạc, nơi trẻ phải có cơ hội hợp lý để bày tỏ quan điểm về những vấn đề ảnh hưởng đến trẻ, và bất kỳ quan điểm nào của trẻ, dù trực tiếp hay qua đại diện, đều phải được Tòa án xem xét và cân nhắc.
Trong quá trình nội luật hóa Công ước về quyền trẻ em, pháp luật Việt Nam đã đảm bảo quyền của trẻ em dưới 18 tuổi (theo Bộ luật Dân sự) và đặc biệt chú trọng quyền của trẻ em dưới 16 tuổi (theo Luật Trẻ Em), trong đó có quyền được bày tỏ nguyện vọng liên quan đến các vấn đề của mình Pháp luật xác định rằng, trong tố tụng, trẻ em phải được bảo vệ, trợ giúp pháp lý và có quyền trình bày ý kiến mà không bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay gây áp lực tâm lý Trong quan hệ gia đình, đặc biệt là các tình huống cha mẹ ly hôn, luật Hôn nhân và Gia đình cũng quy định quyền của trẻ chưa thành niên - ở độ tuổi nhất định và có khả năng nhận thức nhất định - để thể hiện chính kiến và nguyện vọng của mình.
19 Điều 12 Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻm em năm 1989
Children have the right to be heard concerning matters that affect them They must be provided with reasonable opportunities to express their views, whether directly or through a representative Importantly, their opinions must be considered and taken into account in decision-making processes, ensuring their voice is respected and valued.
Bài viết của 21 Lê Thị Mận tập trung vào việc xét nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn, nhấn mạnh quyền của trẻ em trong việc lựa chọn nơi sinh sống phù hợp với lợi ích tốt nhất của mình Trong quá trình giải quyết tranh chấp ly hôn, Tòa án cần xem xét nguyện vọng của con để đảm bảo quyền tham gia ý kiến của trẻ được thực thi đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật Việc xác định quyền lợi của trẻ là yếu tố cốt lõi, giúp đảm bảo môi trường phát triển lành mạnh và ổn định cho trẻ sau khi cha mẹ chia tay Theo quy định pháp luật, trẻ em có quyền được trình bày ý kiến về nơi cư trú theo độ tuổi và khả năng nhận thức, từ đó hình thành quyết định công bằng, đúng quy chuẩn pháp lý.
Theo Điều 81 Luật HNGĐ 2014, Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dựa trên quyền lợi về mọi mặt của trẻ Đặc biệt, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án còn xem xét nguyện vọng của chính trẻ để đảm bảo quyền lợi tốt nhất.
Dựa trên nguyên tắc của Luật HNGĐ năm 2014, khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rõ ràng về việc lấy ý kiến của con chưa thành niên trong các vụ án tranh chấp về nuôi con sau ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con Thẩm phán bắt buộc lấy ý kiến của con từ đủ bảy tuổi trở lên, đồng thời có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em tham gia vào quá trình này nếu cần thiết Việc thu thập ý kiến của con và các thủ tục tố tụng liên quan phải đảm bảo thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, trình độ trưởng thành và khả năng nhận thức của trẻ, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và giữ bí mật cá nhân của trẻ.
Việc xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên là thủ tục bắt buộc trước khi ra quyết định ai là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ Tuy nhiên, nguyện vọng của con chỉ là một trong nhiều yếu tố để Tòa án tham khảo, bên cạnh điều kiện môi trường sống, hoàn cảnh thực tế của các bên để đảm bảo quyết định phù hợp với lợi ích tối đa của trẻ Tòa án phải lấy ý kiến của trẻ theo hướng dẫn của Tòa án tối cao, đảm bảo phương pháp lấy ý kiến thân thiện và phù hợp với lứa tuổi của trẻ Quyết định cuối cùng về việc giao con cho cha hoặc mẹ nuôi phải dựa trên nguyên tắc đặt lợi ích của trẻ làm trung tâm, cân nhắc mọi quyền lợi về mặt vật chất và tinh thần của con.
Tuy nhiên, vấn đề là việc lấy ý kiến được thực hiện theo hình thức nào? Có ngoại lệ nào trong việc xét nguyện vọng của con không?
Việc Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng con là minh chứng rõ ràng cho thực tiễn xét xử thiếu thuyết phục Điều này phản ánh những tồn tại trong quá trình xét xử về tranh chấp quyền nuôi con, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ và các bên liên quan Các quyết định chưa thực sự dựa trên các căn cứ pháp lý rõ ràng hoặc chưa phản ánh đúng thực trạng cuộc sống, làm giảm tính khách quan và công bằng trong quá trình giải quyết vụ việc Do đó, cần cải thiện quy trình xét xử để đảm bảo các quyết định về quyền nuôi con được đưa ra một cách thuyết phục, đúng đắn hơn.
Hiện nay, chưa có hướng dẫn pháp lý rõ ràng về hình thức “xem xét nguyện vọng của con” hoặc quy định về ngoại lệ trong quá trình xét xử, dẫn đến quyết định mang tính chủ quan của Tòa án Pháp luật chưa cụ thể hóa phương pháp lấy ý kiến của trẻ em một cách thân thiện, gây khó khăn trong việc đảm bảo quyền lợi của các cháu trong quá trình giải quyết tranh chấp Thủ tục xem xét nguyện vọng của con còn thiếu tính thống nhất, dẫn đến các hình thức thực hiện đa dạng, khó đồng bộ và rõ ràng Ví dụ thực tế, trường hợp của chị Nguyễn Thị Ch và anh Trương Anh Q, có hai con chung là Trương Trọng Th và Trương Minh Kh, hiện sống cùng anh Q, minh chứng cho việc quy trình này chưa được chuẩn hóa đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cháu trong quá trình giải quyết vụ việc.
Hay một trường hợp khác, tại bản ghi lời khai ghi ngày 23/11/2012 do cháu
H (sinh năm 2003) viết tay, ký tên tại Tòa án Quận 1 thể hiện nguyện vọng sống chung với mẹ nếu cha mẹ ly hôn Tuy nhiên, tại phiên xét xử sơ thẩm ngày 25/01/2013, ông L, cha của H, cho rằng bản ghi lời khai của cháu H không có cơ sở tin cậy Để làm rõ, Hội đồng xét xử đã trực tiếp hỏi lại cháu H về ý muốn sống với cha hay mẹ trong quá trình xử lý vụ án ly hôn.
Qua các trường hợp đã nêu, có thể thấy rằng Tòa án đã thực hiện việc lấy ý kiến của các con bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả lấy lời khai trực tiếp bằng văn bản tại trụ sở Tòa án và để các con trình bày trực tiếp tại phiên tòa.