1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện (từ thực tiễn thành phố hồ chí minh)

120 11 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (từ thực tiễn thành phố hồ chí minh)
Tác giả Tạ Thị Hảo
Người hướng dẫn Pgs.Ts. Vũ Văn Nhiêm
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật hiện hành về tuyển dụng viên chức; tìm hiểu thực trạng tuyển dụng

Trang 1

TẠ THỊ HẢO

TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ GIÁO DỤC CÔNG LẬP

THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN (TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ GIÁO DỤC CÔNG LẬP

THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN (TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Định hướng nghiên cứu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Tạ Thị Hảo, học viên lớp Cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp và

Luật Hành chính, Khóa 34 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (mã

học viên 20340210046) xin cam đoan đề tài “Tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân được thực hiện trên cơ

sở nghiên cứu lý luận, khảo sát tình hình thực tiễn công tác tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ

Chí Minh Đồng thời, được sự hướng dẫn khoa học của Pgs.Ts Vũ Văn Nhiêm,

các tài liệu nghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, xuất phát

từ thống kê, khảo sát thực tiễn./

Người cam đoan

Tạ Thị Hảo

Trang 4

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ GIÁO DỤC CÔNG LẬP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 7 1.1 Khái niệm, đặc điểm tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 7

1.1.1 Khái niệm 7 1.1.2 Đặc điểm, vai trò tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 12

1.2 Căn cứ, nguyên tắc, điều kiện tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 14

1.2.1 Căn cứ tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 14 1.2.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 15 1.2.3 Điều kiện đăng ký tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 16

1.3 Thẩm quyền, phương thức, quy trình tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 17

1.3.1 Thẩm tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 17 1.3.2 Phương thức tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện 17 1.3.3 Quy trình tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 18 1.3.4 Tập sự và bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp viên chức 23

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 25

1.4.1 Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về tuyển dụng viên chức 25

Trang 5

1.4.2 Về chế độ, chính sách, môi trường làm việc để thu hút nguồn nhân lực tham gia dự tuyển viên chức 26 1.4.3 Năng lực tổ chức và nguồn nhân lực về tuyển dụng viên chức 27

Tiểu kết Chương 1 28 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ GIÁO DỤC CÔNG LẬP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN (TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH) VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 29 2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội; tình hình tổ chức

bộ máy, biên chế, số lượng người làm việc trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh 29

2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội tác động đến tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh 29 2.1.2 Tình hình tổ chức bộ máy, số lượng người làm việc trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh 31

2.2 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về căn cứ, nguyên tắc, điều kiện tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 36

2.2.1 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về căn cứ tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố

Hồ Chí Minh 36 2.2.2 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về nguyên tắc tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh 40 2.2.3 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về điều kiện tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố

Hồ Chí Minh 45

2.3 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về thẩm quyền, phương thức, quy trình tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 49

Trang 6

2.3.1 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về thẩm quyền tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành

phố Hồ Chí Minh 49

2.3.2 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về phương thức tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh 50

2.3.3 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về quy trình tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh 51

2.4 Thực trạng kết quả tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 62

2.5 Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 67

2.5.1 Ưu điểm 67

2.5.2 Hạn chế 68

2.5.3 Nguyên nhân 70

2.6 Kiến nghị hoàn thiện tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 72

Tiểu kết Chương 2 78

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề tuyển chọn và sử dụng nhân lực chuyên môn có chất lượng là công việc quan trọng mà các cơ quan, tổ chức đều phải chú trọng thực hiện, bởi con người là nguồn lực quý giá nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức Các đơn vị sự nghiệp công lập cũng không thể đứng ngoài hoạt động này Chính vì vậy, việc xây dựng một đội ngũ viên chức có trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc, trách nhiệm là yêu cầu cấp thiết trước tình hình đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế hiện nay

Đội ngũ viên chức cũng là một nguồn lực quan trọng để phục vụ công tác cán bộ trong tổ chức bộ máy nhà nước; theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, để sử dụng và bố trí đúng cán bộ, phát huy hết năng lực, sở trường của cán bộ cần phải làm tốt khâu phát hiện và lựa chọn cán bộ; trong tuyển chọn, Người cho rằng không thiên tư, thiên vị, không phân biệt người trong hay người ngoài Đảng mà lựa chọn những người thật sự

có đức, có tài Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở: “Kiến thiết cần có nhân tài Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều” “Dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”

Tuyển dụng viên chức là một trong những nội dung quản lý nhà nước về viên chức; tuyển dụng viên chức là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm trong đơn vị sự nghiệp công lập Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về tuyển dụng viên chức hiện nay tương đối đầy đủ, đã tạo dựng một cơ sở pháp lý khá vững chắc cho hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việc tổ chức thi tuyển, xét tuyển viên chức đã từng bước đi vào nề nếp và được tổ chức thường xuyên Bản thân là công chức, hiện đang gắn với công việc phụ trách tham mưu công tác quản lý viên chức đối với một số đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức, nên cần thiết nghiên cứu quy định về tuyển dụng viên chức để tìm hiểu rõ, nắm vững quy định nhằm áp dụng hiệu quả vào thực tiễn công việc góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ công tác được giao, đó là

lý do cá nhân chọn đề tài này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tuyển chọn nhân lực có phẩm chất, trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp

vụ vào viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công việc quan

Trang 8

trọng vì con người là yếu tố quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của một đơn vị Thời gian qua có những luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học liên quan nội dung tuyển dụng nhân lực, tập trung chủ yếu nghiên cứu về nhóm đối tượng công chức hoặc nghiên cứu về viên chức trong nhóm cán bộ, công chức và nghiên cứu về tuyển dụng viên chức theo quy định tại thời điểm nghiên cứu; một số

đề tài, công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Phạm Hồng Thái, “Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức”, Tạp chí Tổ

chức Nhà nước Số 1/2009 Tác giả đã nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển về quy định pháp luật và sử dụng tên gọi qua các giai đoạn cho đối tượng làm việc trong tổ chức bộ máy nhà nước, đó là những thuật ngữ về cán bộ, công chức, viên chức; việc sử dụng và phân định những đối tượng này cần đưa ra những quy định pháp luật cụ thể, riêng biệt để điều chỉnh cho phù hợp với vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng Tác giả đã cho rằng cần thiết phải ban hành Luật Viên chức khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định phạm vi những người là cán bộ, công chức, những đối tượng trước đó được xem như là viên chức không được đề cập tới trong Luật Cán bộ, công chức thì cần phải có Luật riêng để điều chỉnh những đối tượng còn lại (viên chức) Ngoài ra, Tác giả cũng nêu ra những quan điểm về đơn vị sự nghiệp, những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp, xu hướng phát triển của đơn vị sự nghiệp trong vai trò cung cấp dịch vụ công và tính chất hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ của từng lĩnh vực; đồng thời, Tác giả đã có đưa ra dự thảo cơ bản những vấn đề mà nội dung Luật Viên chức cần quy định, điều chỉnh Qua đó, nghiên cứu của Tác giả đã góp phần cho sự hình thành và phát triển những quy định pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức

Vũ Khoan - Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyên Phó Thủ tướng

Chính phủ, “Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật viên chức”, Tạp chí Tổ chức

Nhà nước Số 7/2009 Tác giả đã nghiên cứu các cách hiểu khi định nghĩa về viên chức trong quá trình dự thảo Luật Viên chức; mối tương quan giữa cán bộ, công chức sau khi Luật Cán bộ, công chức được ban hành với viên chức và những đặc điểm để phân biệt giữa cán bộ, công chức với viên chức; những vấn đề cần làm rõ

về viên chức khi ban hành Luật Viên chức trong mối tương quan với cán bộ, công chức đã được quy định bởi Luật Cán bộ, công chức năm 2008

Trần Thị Thơ - Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, “Hoàn thiện

pháp luật về công khai, minh bạch, khách quan trong tuyển dụng công chức, viên chức ở Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 4/2020 (từ trang 57 đến trang 61)

Trang 9

Qua bài viết, tác giả đã phân tích thực trạng quy định pháp luật, thực trạng thực hiện quy định pháp luật về đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan trong tuyển dụng công chức, viên chức; đồng thời, tác giả có những nhận định về ưu điểm, hạn chế trong quy định về đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan trong tuyển dụng công chức, viên chức và đề xuất kiến nghị nhằm đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan trong tuyển dụng công chức, viên chức ở nước ta trong thời gian tới,

một số kiến nghị như: “Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức (sửa đổi, bổ sung)

và các văn bản hướng dẫn thi hành cần cụ thể, chi tiết hơn, giảm bớt số lượng văn bản Bảo đảm hơn nữa tính đồng bộ, thống nhất giữa các quy định của Nhà nước với quy định của Đảng, tính thống nhất, liên thông với quy định quy định về xử lý kỷ luật, đánh giá công chức, viên chức; với quy định của Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Cần đẩy mạnh việc hoàn thiện xác định vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí việc làm

để làm căn cứ khoa học, khách quan cho hoạt động tuyển dụng công chức viên chức Tăng cường công tác kiểm tra, thanh ra, giám sát, đồng thời có cơ chế, chính sách thu hút rộng rãi và tạo điều kiện để các chủ thể tham gia kiểm soát việc thực hiện đảm bảo về công khai, minh bạch, khách quan trong tuyển dụng”

Mai Thị Minh Ngọc - Viện Nhà nước và Pháp luật Viện Hàn lâm Khoa học

xã hội Việt Nam, “Một số kiến nghị về tuyển dụng viên chức ở Việt Nam hiện nay”,

Tạp chí Quản lý nhà nước Số 298 (11/2020, từ trang 42 đến trang 46) Qua bài viết, tác giả đã nghiên cứu quy định pháp luật về viên chức, tuyển dụng viên chức; thực

tế tuyển dụng viên chức và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện tuyển dụng viên chức

ở nước ta

Luận văn Thạc sĩ Luật học, Nguyễn Huy Hoàng “Tuyển dụng viên chức tại

các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta hiện nay” năm 2011, Trường Đại học Luật

Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tuyển dụng viên chức đơn vị sự nghiệp công lập tính từ khi ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm

1998 đến trước khi Luật Viên chức năm 2010 có hiệu lực thi hành, thực tiễn tuyển dụng viên chức đơn vị sự nghiệp tại địa phương, ngành, lĩnh vực đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả về tuyển dụng viên chức

Luận văn Thạc sĩ Luật học, Nguyễn Thị Thơm “Pháp luật về tuyển dụng viên

chức ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp” năm 2016, Trường Đại học

Luật Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện

Trang 10

pháp luật tuyển dụng viên chức tại nước ta trong thời gian từ năm 2012 đến tháng 7 năm 2016 và đưa ra những nhận định, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức

Luận văn Thạc sĩ Luật học, Nguyễn Đình Tuệ “Tuyển dụng viên chức các đơn

vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện - qua thực tiễn tỉnh Hưng Yên” năm 2018, khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã

nghiên cứu về những vấn đề lý luận về tuyển dụng viên chức các đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn từ năm

2014 đến năm 2017 đồng thời đưa ra những giải pháp về tuyển dụng viên chức Qua nghiên cứu của tác giả, tuyển dụng viên chức trong thời gian này được thực hiện trên

cơ sở quy định của Luật Viên chức năm 2010 và Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ

Qua nội dung đề tài nghiên cứu của các tác giả, giúp tôi có thêm những thông tin để phân tích, so sánh sự thay đổi quy định pháp luật, thông qua thực tiễn tuyển dụng viên chức đơn vị sự nghiệp công lập

Các công trình, đề tài nghiên cứu có thời điểm nghiên cứu cụ thể, mục đích

và phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng cùng hướng tới phân tích, đánh giá làm rõ những vấn đề lý luận về viên chức, tuyển dụng viên chức; trong đó có công trình đã nghiên cứu đến hoạt động tuyển dụng viên chức tại một số địa phương, đơn vị; qua tìm hiểu trong số các công trình nghiên cứu thì chưa có công trình nghiên cứu về tuyển dụng viên chức đối với thời gian từ năm 2019 đến năm 2021 tại các đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, có một số quy định về tuyển dụng viên chức đã được sửa đổi, bổ sung; trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu về tuyển dụng viên chức của những công trình nêu trên, tác giả đã tiếp tục nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn theo đề tài “Tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện, từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là một vấn đề mới, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

Nội dung được thể hiện trong luận văn này, học viên mong muốn có một phần đóng góp trong việc nghiên cứu về tuyển dụng viên chức đơn vị giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung và thực tiễn tuyển dụng viên chức tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng

Trang 11

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật hiện hành về tuyển dụng viên chức; tìm hiểu thực trạng tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác tuyển dụng viên chức

để đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức và nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng viên chức, đảm bảo viên chức được tuyển phù hợp với vị trí việc làm theo chức danh nghề nghiệp; người được tuyển chọn phải đảm bảo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ gắn với hạng chức danh nghề nghiệp cần tuyển góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ viên chức trong thời gian tới tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Thực trạng tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh) và kiến nghị hoàn thiện tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

4 Giới hạn phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trước hết, giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu vấn đề lý luận và quy định pháp luật về tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng tuyển dụng viên chức tại đơn

vị giáo dục công lập (giáo dục bậc mầm non, giáo dục bậc tiểu học và giáo dục bậc trung học cơ sở) thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

Về giới hạn địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu thực tiễn tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

Giới hạn về thời gian: thời gian nghiên cứu của đề tài trong giai đoạn từ năm

2019 đến năm 2021

Với phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu phân tích, tổng hợp trong việc nghiên cứu những quy định của pháp luật liên quan đến công tác tuyển dụng viên chức; sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích,

so sánh để khái quát, sáng tỏ được vấn đề nghiên cứu, đảm bảo tính chuyên sâu, cụ

Trang 12

thể trong từng nội dung liên quan đến thực hiện pháp luật từ thực tiễn công tác tuyển dụng viên chức để qua đó biết được tình hình, thực trạng tuyển dụng viên chức; số lượng, chất lượng viên chức được tuyển dụng các đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

5 Các vấn đề dự kiến cần giải quyết

Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, quy định pháp luật về viên chức, tuyển dụng viên chức; xác định những yếu tố tác động đến việc tuyển dụng viên chức; đặc điểm, vai trò của tuyển dụng viên chức đối với việc xây dựng đội ngũ viên chức trong các đơn vị giáo dục công lập

Nghiên cứu thực tiễn về tuyển dụng viên chức trong các đơn vị giáo dục công tập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay; cụ thể:

về căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, quy trình thực hiện, kết quả công tác tuyển dụng viên chức; trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng, những ưu điểm, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập

Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực tiễn đã được nghiên cứu; Luận văn đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về viên chức cũng như thực hiện công tác tuyển dụng viên chức từ thực tiễn trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

6 Kết cấu của luận văn

Nội dung của luận văn gồm 02 chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp lý về tuyển dụng viên chức trong

đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Chương 2 Thực trạng tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập

thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh) và kiến nghị hoàn thiện

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ GIÁO DỤC CÔNG LẬP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN

CẤP HUYỆN 1.1 Khái niệm, đặc điểm tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm viên chức

Ở nước ta, các khái niệm “cán bộ”, “công chức”, “viên chức” từng không được phân định một cách rõ ràng1 Viên chức trong thời kỳ dài được quy định chung trong khái niệm công chức, điều này đã được thể hiện trong các văn bản pháp luật của nước ta2

, cụ thể:

Theo Sắc lệnh số 76/SL, những công dân Việt Nam được chính quyền nhân

dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định 3 Khái niệm công chức được đề cập trong Nghị định số

169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng: “Công dân Việt nam được

tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước” 4

đồng thời quy định cụ thể đối tượng và phạm vi áp dụng đối với công chức tại

khoản 1 Điều 2 của Nghị định này Nhằm cụ thể hóa Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng

và quản lý công chức đưa ra khái niệm “Công chức là công dân Việt Nam, trong

biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân

Hợp (chủ biên), Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.321

và Kỹ thuật, Hà Nội, tr.132

Trang 14

và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”

Trải qua quá trình phát triển của đất nước, người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, người được bầu ra để giữ chức vụ theo nhiệm kỳ hay người lao động tại các nông trường, nhà máy, xí nghiệp đều được gọi chung là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước”; khái niệm này được gọi chung cho tất cả những người

làm việc “trong biên chế” không có sự phân biệt và không có gì quá khác biệt

Đến Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003, lần đầu tiên viên chức được đề cập với tư cách một loại cán bộ,

công chức “Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc

giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”5 Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công

chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tiếp tục gọi viên chức là “cán bộ,

công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước”, theo đó viên chức chỉ bao

gồm những người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật Mặc dù đã phân định được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước được gọi là

“viên chức”, tuy nhiên, “viên chức” vẫn chưa được phân biệt rạch ròi, tách bạch ra khỏi khái niệm “cán bộ, công chức”

Nhằm xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ phù hợp với từng đối tượng; với sự ra đời của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức năm 2019, viên chức không còn là một dạng cán bộ, công chức nữa Luật Viên chức năm 2010 được ban hành, viên chức trở thành một khái niệm độc lập, với đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng

không thể nhầm lẫn với cán bộ, công chức; cụ thể: “Viên chức là công dân Việt

Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” 6

Điều này phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong phân biệt hoạt động quản lý nhà nước với hoạt động sự nghiệp, phù hợp với tính chất, mục đích và cơ chế hoạt động của hai loại cơ quan, đơn vị Việc tách viên chức ra khỏi

Trang 15

đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ tạo điều kiện để phát triển lực lượng viên chức vốn rất đông đảo mà còn góp phần giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước

Có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản về viên chức như sau: Viên chức là công dân Việt Nam Người nước ngoài, người không quốc tịch không thể làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập với tư cách là viên chức Viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp và được xếp hạng chức danh nghề nghiệp trong từng ngành, lĩnh vực Viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Hoạt động của viên chức là hoạt động nghề nghiệp Sau khi được tuyển dụng, viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.1.2 Tuyển dụng viên chức

Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 02/12/1998, theo đó "Tuyển dụng" được quy định là việc tuyển người vào cơ quan Nhà nước sau khi đã đạt kết quả của kỳ thi tuyển7

; theo đó, việc tuyển dụng viên chức phải thông qua thi tuyển, xét tuyển được thực hiện từ khi Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức có hiệu lực thi hành8

Tuyển dụng có thể hiểu là lựa chọn những người để làm những công việc nhất định Tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh giữa các ứng viên, như vậy

mới đúng nghĩa là “tuyển” Theo Luật Viên chức hiện hành, Tuyển dụng là việc lựa

chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập9 Tuyển dụng viên chức nhằm mục đích lựa chọn được người xứng đáng nhất, phù hợp với tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm Người được tuyển chọn phải đảm bảo yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ gắn với chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập Để lựa chọn được người xứng đáng nhất, phù hợp với tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm thì việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo thực hiện đúng trình tự thủ tục tuyển dụng viên chức theo quy định pháp luật; phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm gắn với tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp theo quy định và quỹ tiền lương của đơn vị

sự nghiệp công lập; việc tổ chức tuyển dụng phải đảm bảo công khai, minh bạch,

Trang 16

công bằng, khách quan và đúng pháp luật; đảm bảo tính cạnh tranh trong tuyển dụng viên chức; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm

1.1.1.3 Tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Tuyển dụng viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là một hoạt động diễn ra một cách thường xuyên, quan trọng để cơ quan có thẩm quyền lựa chọn người có đủ tiêu chuẩn, phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Người được tuyển dụng vào viên chức tại đơn vị giáo dục công lập thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện phải là công dân Việt Nam và cư trú tại Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp và được xếp hạng chức danh nghề nghiệp Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn

cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc của đơn vị sự nghiệp giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được xây dựng trên cơ sở đề án vị trí việc làm; các đơn vị giáo dục công lập bậc mầm non xác định vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc căn cứ theo Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/3/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ quy định về danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập; các đơn vị giáo dục công lập bậc tiểu học và trung học cơ sở xác định vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc căn cứ theo Thông tư số 16/2015/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập

Tuyển dụng viên chức vào làm việc tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, phù hợp vị trí việc làm và số lượng người làm việc được giao hàng năm của đơn vị, căn cứ vào nhu cầu công việc của đơn vị, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Người được tuyển chọn phải đảm bảo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ gắn với chức danh nghề nghiệp, hạng chức danh nghề nghiệp viên chức đơn vị cần tuyển Việc tuyển

Trang 17

dụng viên chức vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập phải được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật

Đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện do Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý gồm: trường mầm non, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là trung học cơ sở10 và Trường Chuyên biệt thuộc cấp huyện

Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp, được sử dụng làm căn cứ

để thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

Viên chức là đối tượng hoạt động nghề nghiệp nên được phân loại theo “hạng”; hạng chức danh nghề nghiệp là cấp độ thể hiện trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp

vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định

Sau khi được tuyển dụng, viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc Đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu (Hiệu trưởng) đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên

Với bản chất viên chức là người hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện công việc, nhiệm vụ trong hoạt động nghề nghiệp, chủ yếu là hoạt động cung cấp các dịch vụ công thuộc chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của đơn vị sự nghiệp

Ngoài những đặc điểm chung của viên chức, viên chức ở đơn vị sự nghiệp giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có những đặc điểm riêng biệt đó là những viên chức làm việc tại các trường học (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở) thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện gọi chung là đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, có những đặc điểm riêng biệt sau:

là bậc mầm non), trường trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là trung học

cơ sở (sau đây gọi chung là bậc trung học cơ sở)

Trang 18

Lực lượng nhân sự nòng cốt trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là viên chức vị trí giáo viên (chiếm tỷ lệ trên 70%/ tổng số lượng người làm việc tại đơn vị)

Làm việc dựa trên chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng đã được đào tạo, bồi dưỡng

và phải tuân thủ các quy định trong môi trường giáo dục được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đạo đức nghề nghiệp đối với hoạt động giảng dạy của đội ngũ nhà giáo

Viên chức thực hiện công việc, nhiệm vụ và được hưởng chế độ tiền lương, chính sách phụ cấp theo quy định của nhà nước; viên chức được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương theo từng hạng chức danh nghề nghiệp phù hợp với tiêu chuẩn vị trí việc làm

Trong đơn vị giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức cho học sinh bán trú, có thu phí để sử dụng cho việc trang bị cơ sở vật chất bán trú, bữa ăn bán trú, chi trả cho người lao động phục vụ công tác bán trú nhằm nâng cao chất lượng phục vụ đối với hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, xuất phát từ nhu cầu của

xã hội thuộc nhiệm vụ của đơn vị giáo dục công lập nhằm giảm một phần gánh nặng cho ngân sách nhà nước

1.1.2 Đặc điểm, vai trò tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.1.2.1 Đặc điểm

Tuyển dụng viên chức tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, tuyển dụng viên chức nhằm lựa chọn người làm việc tại các cơ sở

giáo dục công lập, bảo đảm nguồn nhân lực có phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị Tuyển dụng viên chức được tiến hành thường xuyên nhằm bổ sung, phát triển đội ngũ viên chức theo yêu cầu nhiệm vụ trên cơ sở số lượng người làm việc, vị trí việc làm để đề ra kế hoạch tuyển dụng phù hợp Tuyển dụng viên chức phải được thực hiện theo nguyên tắc, hình thức, trình tự, thủ tục thống nhất, chặt chẽ theo quy định của pháp luật

Thứ hai, tùy theo mức độ tự chủ của đơn vị giáo dục công lập để xác định

chủ thể có thẩm quyền tuyển dụng viên chức theo quy định của pháp luật Đối với đơn vị bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị bảo đảm chi thường xuyên thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức Đối với đơn vị công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp

Trang 19

công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên thì cơ quan có thẩm quyền quản

lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện

Thứ ba, đối tượng được tuyển dụng vào viên chức phải có đủ điều kiện, tiêu

chuẩn theo quy định pháp luật và tiêu chuẩn của đơn vị sự nghiệp để đáp ứng mục đích tuyển dụng là lựa chọn được người có phẩm chất, trình độ và năng lực; cụ thể:

Phẩm chất của viên chức thể hiện ở đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử nghề nghiệp Đó là các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp theo quy định của cơ quan có thẩm quyền; các chuẩn mực

xử sự của viên chức trong thực hiện nhiệm vụ và trong quan hệ xã hội phù hợp với công việc, lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp

Trình độ mà người dự tuyển viên chức cần đáp ứng được có thể hiểu là trình

độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ và các điều kiện, tiểu chuẩn phản ánh tính chất chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển

Năng lực của viên chức là khả năng đảm nhiệm công việc, chất lượng, hiệu quả công việc; năng lực của viên chức luôn gắn với mục đích, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp

Thứ tư, tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào vị trí việc làm, nhu cầu công

việc gắn với tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp nhằm lựa chọn được người phù hợp, đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định; sau khi được tuyển dụng, viên chức thực hiện nhiệm vụ thông qua hợp đồng làm việc giữa người đứng đầu đơn vị sự nghiệp với viên chức

Và tuyển dụng viên chức phải theo nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Viên chức trong đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập là người làm việc phục vụ cho hoạt động của nhà nước, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp nên quy trình tuyển dụng viên chức được quy định chặt chẽ nhằm tuyển chọn được người phù hợp cho vị trí công việc cần tuyển đảm bảo quy định theo pháp luật về viên chức và pháp luật có liên quan

1.1.2.2 Vai trò của hoạt động tuyển dụng viên chức tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Tuyển dụng viên chức là cơ sở để xây dựng đội ngũ viên chức; là khâu đầu tiên, quan trọng trong hoạt động tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Đối với một đơn

vị sự nghiệp giáo dục thành lập mới, thì tuyển dụng viên chức là một yếu tố quan trọng

Trang 20

để hình thành nguồn nhân lực của đơn vị, nhân tố con người đảm bảo về số lượng, chất lượng có vai trò quyết định để hình thành và phát triển đơn vị sự nghiệp giáo dục

Tuyển dụng viên chức nhằm bổ sung nguồn nhân lực, thay thế những viên chức nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác… nhằm thu hút những nhân tố mới đảm bảo tiêu chuẩn theo vị trí việc làm, trong phạm vi số lượng người làm việc được giao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, là đội ngũ kế thừa nhằm ổn định về nhân sự duy trì hoạt động của đơn vị sự nghiệp giáo dục

Tuyển dụng viên chức đủ số lượng, đảm bảo chất lượng sẽ tạo tiền đề cho đơn vị hoạt động hiệu quả, nâng cao uy tín của đơn vị sự nghiệp giáo dục

Tuyển dụng viên chức đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là thực hiện một trong những nội dung quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức tại đơn vị sự nghiệp; tuyển dụng viên chức là phương pháp có hiệu quả nhất để đưa đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tuyển dụng viên chức đi vào thực tiễn đời sống xã hội; tuyển dụng viên chức là phương thức thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức đảm bảo sự thống nhất theo quy định của pháp luật, theo đúng nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự thủ tục cụ thể trong thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục Ủy ban nhân dân cấp huyện

Tuyển dụng viên chức là cơ sở thực tiễn để đánh giá, tổng kết nhằm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức

1.2 Căn cứ, nguyên tắc, điều kiện tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.2.1 Căn cứ tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập11

Đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, hàng năm, căn cứ số lượng người làm việc được giao (trên cơ sở Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao và Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ) và số lượng người làm việc chưa sử dụng (dựa trên số lượng người làm việc được giao của đơn vị trừ đi số lượng người làm việc đang sử dụng thực tế theo bảng lương) của đơn

vị để xác định nhu cầu công việc cần tuyển, số lượng viên chức cần tuyển, tiêu chuẩn,

Trang 21

điều kiện viên chức cần tuyển và các yêu cầu cụ thể khác ở từng vị trí việc làm (theo quy định pháp luật và Đề án vị trí việc làm đã được phê duyệt); từ đó, đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng kế hoạch tuyển dụng báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt hoặc thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo thẩm quyền để làm căn cứ tuyển dụng trước mỗi kỳ tuyển dụng

1.2.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện

Nguyên tắc thứ nhất, việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo công khai,

minh bạch, khách quan và đúng pháp luật; các quy định của pháp luật về nguyên tắc này được quy định tại Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định cụ thể, chi tiết như công khai, minh bạch về căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền tuyển dụng viên chức; về ưu tiên trong tuyển dụng; về trình tự thủ tục tuyển dụng thì cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải đăng thông báo công khai ít nhất 01 lần trên một trong những phương tiện thông tin đại chúng … phải niêm yết công khai danh sách những người đủ điều kiện, tiêu chuẩn dự tuyển hoặc gửi thông báo bằng văn bản tới người dự tuyển không đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn

để người đăng ký dự tuyển được biết; thông báo công khai kết quả tuyển dụng trên trang thông tin điện tử Đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật trong tuyển dụng viên chức là nguyên tắc quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng viên chức được tuyển chọn, tạo sự tin tưởng của xã hội trong việc tuyển chọn viên chức đảm bảo theo quy định pháp luật, khắc phục tình trạng cơ quan, đơn

vị tuyển dụng đưa ra các điều kiện, tiêu chuẩn trái pháp luật

Nguyên tắc thứ hai, đảm bảo tính cạnh tranh trong tuyển dụng viên chức, cơ hội

dành cho các thí sinh là như nhau, một vị trí tuyển dụng có thể có nhiều ứng viên tham dự; cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng cần khách quan, công bằng trong tuyển dụng

để lựa chọn được người ưu tú nhất, phù hợp, xứng đáng nhất vào vị trí cần tuyển

Nguyên tắc thứ ba, những người được tuyển chọn phải đảm bảo đúng điều

kiện, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ gắn với chức danh nghề nghiệp, hạng chức danh nghề nghiệp theo vị trí việc làm cần tuyển

Nguyên tắc thứ tư, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp

công lập: vai trò của người đứng đầu đơn vị hết sức quan trọng; người đứng đầu đơn

vị được nhà nước trao quyền quản lý mọi hoạt động của đơn vị Theo quy định,

Trang 22

trường hợp đơn vị sự nghiệp được giao thẩm quyền tuyển dụng viên chức12 thì người đứng đầu đơn vị là Chủ tịch Hội đồng tuyển dụng viên chức, do đó sẽ có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả của công tác tuyển dụng viên chức; người đứng đầu đơn vị là người sử dụng, quản lý trực tiếp và ký hợp đồng làm việc đối với viên chức sau khi được tuyển dụng; người đứng đầu đơn vị không chỉ chịu áp lực trong thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật mà còn phải chịu trách nhiệm đối với sự phát triển của đơn vị; uy tín, hình ảnh viên chức quản lý đơn vị cũng

là một điểm thu hút nguồn nhân lực trong tuyển dụng viên chức tới đơn vị làm việc

Nguyên tắc thứ năm, ưu tiên người có tài năng, người có công với cách

mạng, người dân tộc thiểu số; đây là quy định thể hiện tính nhân văn; hiện nay, các đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức đã được pháp luật quy định bằng cách tính điểm số vào kết quả tuyển dụng theo thứ tự ưu tiên cho từng đối tượng

1.2.3 Điều kiện đăng ký tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trên cơ sở quy định của Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Viên chức năm 2019 và Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ, người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là người có Quốc tịch Việt Nam

và cư trú tại Việt Nam; từ đủ 18 tuổi trở lên; có đơn đăng ký dự tuyển (theo Luật Viên chức năm 2010) có Phiếu đăng ký dự tuyển (Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020); có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với vị trí việc làm dự tuyển; đủ sức khỏe để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo vị trí việc làm đăng ký dự tuyển; đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn

vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không thấp hơn các tiêu chuẩn chung, không được trái với quy định của pháp luật, không được phân biệt loại hình đào tạo

Bên cạnh đó, Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Viên chức năm 2019 quy định về các trường hợp không được đăng ký dự tuyển viên chức: người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định

về hình sự của tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng

Trang 23

1.3 Thẩm quyền, phương thức, quy trình tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.3.1 Thẩm tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Đối với đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư

và đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm chi thường xuyên thì người đứng đầu đơn vị

sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức và chịu trách nhiệm về quyết định của mình13 Theo quy định này, đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nếu đã được cơ quan có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân cấp huyện) quyết định giao quyền tự chủ về tài chính là đơn vị đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư hoặc đơn vị sự nghiệp đảm bảo chi thường xuyên thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc tuyển dụng viên chức và chịu trách nhiệm về quyết định của mình

Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên thì cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện14 Theo quy định này, đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên thì có một trong hai chủ thể có thẩm quyền tuyển dụng, cụ thể:

Một là, cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp giáo dục cấp huyện

là Ủy ban nhân dân cấp huyện

Hai là, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp có thẩm quyền tuyển dụng viên

chức cho đơn vị mình nếu được cơ quan có thẩm quyền phân cấp15

1.3.2 Phương thức tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển16

26/9/2020 của Chính phủ

26/9/2020 của Chính phủ

tỉnh là chủ thể có nhiệm vụ và quyền hạn trong quản lý về số lượng, tiêu chuẩn, tuyển dụng, sử dụng đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý

Trang 24

Nếu như đối với tuyển dụng công chức, thi tuyển là phương thức chủ đạo thì đối với tuyển dụng viên chức do đặc thù hoạt động nghề nghiệp nên cả thi tuyển và xét tuyển đều là những phương thức tuyển dụng cơ bản17

Ngoài phương thức thi tuyển hoặc xét tuyển, thì tiếp nhận vào làm viên chức18

cũng được xem như một phương thức tuyển dụng vào viên chức Tiếp nhận vào làm viên chức là thuật ngữ được sử dụng từ ngày 29/9/2020 khi Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng

và quản lý viên chức có hiệu lực thi hành (thay thế Nghị định số 29/2012/NĐ-CP và Điều 2 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP) và được quy định trong Mục 3 Xét tuyển viên chức Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ

1.3.3 Quy trình tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trên cơ sở kế hoạch tuyển dụng của đơn vị đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt (đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị

do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên) hoặc kế hoạch tuyển dụng (đối với đơn vị đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị đảm bảo chi thường xuyên và đơn

vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên được phân cấp) được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ban hành; và thông báo tuyển dụng viên chức đối với đơn

vị được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành

Căn cứ quy định hiện hành, tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện quy trình tuyển dụng thông thường được thực hiện qua 8 bước, cụ thể như sau:

Bước 1 Tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển và lập Danh sách người đăng ký

12/4/2012 của Chính phủ; từ ngày 15/01/2019 đến ngày 29/9/2020 được gọi là trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng theo quy định tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018

Trang 25

Bước 4 Hội đồng tuyển dụng viên chức lập danh sách, thông báo đến người đăng ký dự tuyển và triệu tập thí sinh đủ điều kiện tham dự vòng 2

Bước 5 Hội đồng tuyển dụng viên chức tổ chức tuyển dụng vòng 2

Bước 6 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp ban hành quyết định công nhận kết quả tuyển dụng viên chức Hội đồng tuyển dụng thông báo công khai kết quả, gửi thông báo đến người trúng tuyển viên chức

Bước 7 Người trúng tuyển hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng

Bước 8 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ban hành quyết định tuyển dụng đối với người trúng tuyển đã hoàn thiện hồ sơ, đủ điều kiện hồ sơ theo quy định hoặc quyết định hủy kết quả đối với người không đảm bảo điều kiện hồ sơ theo quy định

Người trúng tuyển nhận Quyết định tuyển dụng và đến đơn vị ký kết hợp đồng làm việc, nhận nhiệm vụ Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp ký hợp đồng làm việc đối với người trúng tuyển theo Quyết định tuyển dụng của cơ quan có thẩm quyền Người được tuyển dụng viên chức phải trải qua thời gian tập sự hoặc được miễn thực hiện chế độ tập sự theo quy định

Mỗi bước trong quy trình thực hiện tuyển dụng viên chức, pháp luật về tuyển dụng viên chức có quy định về thời gian thực hiện, thủ tục, quy trình và chủ thể tham gia thực hiện

1.3.3.1 Thi tuyển viên chức

Với phương thức thi tuyển, được thực hiện theo 2 vòng, như sau:

Thi tuyển vòng 1, thi kiểm tra kiến thức chung19, người dự tuyển phải thực hiện thi tuyển các bài thi sau: gồm thi trắc nghiệm trên máy vi tính20

hoặc thi trắc nghiệm trên giấy21

Nội dung thi gồm 3 phần, phần 1: kiến thức chung22, phần 2: ngoại ngữ23, phần 3: tin học24

Bên cạnh đó, người dự tuyển được miễn phần thi ngoại ngữ, tin học như sau: miễn phần thi ngoại ngữ đối với các trường hợp có bằng tốt nghiệp chuyên ngành

trắc nghiệp trên giấy

ngành, lĩnh vực tuyển dụng, thời gian thi 60 phút

Trang 26

ngoại ngữ cùng trình độ đào tạo hoặc ở trình độ đào tạo cao hơn so với trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển; có bằng tốt nghiệp cùng trình độ đào tạo hoặc ở trình độ đào tạo cao hơn so với trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm dự tuyển học tập ở nước ngoài hoặc học bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam, được cơ quan có thẩm quyền công nhận; có chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số hoặc là người dân tộc thiểu số dự tuyển vào viên chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số Miễn phần thi tin học đối với các trường hợp có bằng tốt nghiệp từ trung cấp trở lên các chuyên ngành liên quan đến tin học, công nghệ thông tin

Kết quả thi vòng 1 được xác định theo số câu trả lời đúng cho từng phần thi (3 phần) quy định, nếu trả lời đúng từ 50% số câu hỏi trở lên cho từng phần thi thì người dự tuyển được thi tiếp vòng 2

Thi tuyển vòng 2, thi môn nghiệp vụ chuyên ngành25: nội dung thi kiểm tra kiến thức, kỹ năng hoạt động nghề nghiệp người dự tuyển theo yêu cầu vị trí việc làm cần tuyển dụng; phải căn cứ vào nhiệm vụ, tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của chức danh nghề nghiệp viên chức và phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm cần tuyển Hình thức thi tại vòng 2 do người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định (chỉ thi một trong ba hình thức phỏng vấn26

, thực hành27, thi viết28) Thang điểm (thi phỏng vấn, thực hành, thi viết) là 100 điểm

1.3.3.2 Xét tuyển viên chức

Xét tuyển là phương thức thực hiện phổ biến trong tuyển dụng viên chức đơn

vị giáo dục công lập; xét tuyển viên chức được thực hiện theo 2 vòng, như sau:

Xét tuyển vòng 129, kiểm tra điều kiện, tiểu chuẩn của người dự tuyển đăng ký tại Phiếu đăng ký dự tuyển theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, nếu đáp ứng

đủ điều kiện thì người dự tuyển được tham dự vòng 2

Xét tuyển vòng 2, tương tự như vòng 2 của phương thức thi tuyển đã trình

bày, xét tuyển nghiệp vụ chuyên ngành với nội dung kiến thức, kỹ năng hoạt động nghề nghiệp người dự tuyển theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định chọn

Chính phủ

Trang 27

một trong ba hình thức để xét tuyển gồm phỏng vấn hoặc thực hành hoặc viết tại vòng 2 này phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của vị trí việc làm cần tuyển dụng

1.3.3.3 Tiếp nhận vào làm viên chức

Ngoài hình thức thi tuyển và xét tuyển, pháp luật còn quy định hình thức tuyển dụng viên chức đặc thù khác đó là tiếp nhận vào làm viên chức30 đối với một

số trường hợp, cụ thể:

Căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức và theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng được xem xét tiếp nhận vào làm viên chức đối với các trường hợp có ít nhất 05 năm công tác ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (không kể thời gian tập sự, thử việc, nếu có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn, kể cả thời gian công tác nếu có trước đó ở vị trí công việc thuộc các đối tượng quy định), gồm: người đang là cán bộ, công chức cấp xã; người đang ký hợp đồng lao động làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập theo quy định của pháp luật; người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu; người đang làm việc tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; người đang làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Người đã từng là cán bộ, công chức, viên chức, sau đó được cấp có thẩm quyền đồng ý chuyển đến làm việc tại lực lượng vũ trang, cơ yếu, tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết

Khi xem xét tiếp nhận vào viên chức thì quy trình thực hiện như sau: Khi xem xét tiếp nhận vào làm viên chức không giữ chức vụ quản lý đối với các trường hợp theo quy định nêu trên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức phải thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch theo quy định

Trang 28

Người dự tuyển thông qua hình thức tiếp nhận vào viên chức không giữ chức vụ quản lý sự nghiệp giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện phải trải qua kỳ kiểm tra, sát hạch của Hội đồng kiểm tra, sát hạch tổ chức do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch thực hiện kiểm tra về các điều kiện, tiêu chuẩn, văn bằng, chứng chỉ của người được đề nghị tiếp nhận theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển; sát hạch về trình độ hiểu biết chung và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người được đề nghị tiếp nhận Hình thức và nội dung kiểm tra, sát hạch do Hội đồng kiểm tra, sát hạch căn cứ vào yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, báo cáo người đứng đầu cơ quan, đơn

vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức xem xét, quyết định trước khi tổ chức kiểm tra, sát hạch

Đối với tiếp nhận các trường hợp vào làm viên chức để bổ nhiệm làm viên chức quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập thì không phải thực hiện quy trình nêu trên nhưng phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm và các điều kiện vào làm viên chức theo quy định; quyết định bổ nhiệm đồng thời là quyết định tiếp nhận vào làm viên chức

Pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức không quy định cụ thể hình thức và nội dung kiểm tra, sát hạch mà để quyền này cho Hội đồng kiểm tra, sát hạch và người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tiếp nhận vào làm viên chức quyết định Hội đồng kiểm tra, sát hạch có thể áp dụng linh hoạt các hình thức, nội dung kiểm tra, sát hạch khác nhau cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và vị trí việc làm theo nhu cầu của đơn vị tuyển dụng

1.3.3.4 Cách tính điểm, xác định người trúng tuyển và ưu tiên trong tuyển

Trang 29

Ưu tiên trong tuyển dụng viên chức: về chế độ ưu tiên trong tuyển dụng31

được quy định cụ thể, chi tiết theo 03 nhóm đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức, gồm:

Nhóm 1, được cộng 7,5 điểm vào kết quả điểm xét tuyển tại vòng 2 gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B

Nhóm 2, được cộng 5 điểm vào kết quả điểm xét tuyển tại vòng 2 gồm: Người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp phục viên, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, học viên tốt nghiệp đào tạo sĩ quan dự bị, tốt nghiệp đào tạo chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã ngành quân sự cơ sở được phong quân hàm sĩ quan dự bị đã đăng ký ngạch sĩ quan dự bị, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách như thương binh, con của thương binh loại B, con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động

Nhóm 3, được cộng 2,5 điểm vào kết quả điểm xét tuyển tại vòng 2 gồm: Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia công an nhân dân, đội viên thanh niên xung phong

Trường hợp người dự xét tuyển viên chức thuộc nhiều diện ưu tiên nêu trên thì chỉ được cộng điểm ưu tiên cao nhất vào kết quả điểm tại vòng 2

Việc cộng điểm ưu tiên trong tuyển dụng viên chức hiện nay đã được quy định cụ thể số điểm, dễ dàng cho các cơ quan, đơn vị áp dụng (trước đó Nghị định

số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 đã quy định đối tượng ưu tiên nhưng được tính theo thứ tự ưu tiên không quy định rõ số điểm)

1.3.4 Tập sự và bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp viên chức

Người được tuyển dụng vào viên chức phải thực hiện chế độ tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng32

Thời gian tập sự có các mức độ thời gian như sau: tập sự 12 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào chức danh nghề nghiệp có yêu cầu tiêu chuẩn trình độ đào tạo đại học; tập sự 09 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào chức danh nghề nghiệp có yêu cầu tiêu chuẩn trình độ đào tạo cao đẳng và tập sự 06 tháng đối với

Trang 30

trường hợp tuyển dụng vào chức danh nghề nghiệp có yêu cầu tiêu chuẩn trình độ đào tạo trung cấp

Trường hợp người tập sự nghỉ ốm đau hoặc có lý do chính đáng dưới 14 ngày

mà được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập nơi người được tuyển dụng vào viên chức đang thực hiện chế độ tập sự đồng ý thì thời gian này được tính vào thời gian tập sự

Thời gian nghỉ sinh con theo chế độ bảo hiểm xã hội, thời gian nghỉ ốm đau

từ 14 ngày trở lên, thời gian nghỉ không hưởng lương, thời gian bị tạm giam, tạm giữ, tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật không được tính vào thời gian tập sự

Nội dung tập sự, viên chức tập sự cần nắm vững quy định của pháp luật viên chức về quyền, nghĩa vụ của viên chức, những việc viên chức không được làm; nắm vững cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị sự nghiệp công lập nơi công tác; nội quy, quy chế làm việc của đơn vị; chức trách, nhiệm vụ và yêu cầu của vị trí việc làm được tuyển dụng; trau dồi kiến thức và rèn luyện năng lực,

kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm được tuyển dụng; tập giải quyết, thực hiện các công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng Đồng thời pháp luật viên chức quy định không thực hiện chế độ tập sự đối với các trường hợp đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đúng quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, được bố trí làm việc theo đúng ngành, nghề đào tạo hoặc theo đúng chuyên môn nghiệp vụ trước đây đã đảm nhiệm mà thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (nếu đứt quãng thì được cộng dồn) bằng hoặc lớn hơn thời gian tập sự tương ứng với thời gian tập sự của chức danh nghề nghiệp được tuyển dụng theo quy định Trường hợp người được tuyển dụng, tiếp nhận vào làm viên chức theo quy định, được bố trí làm việc theo đúng ngành, nghề đào tạo hoặc theo đúng chuyên môn nghiệp vụ trước đây đã đảm nhiệm thì thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội trước ngày tuyển dụng, tiếp nhận vào làm viên chức (nếu có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn) ở trình độ đào tạo tương ứng với trình độ đào tạo theo yêu cầu của vị trí việc làm được tuyển dụng, tiếp nhận được tính để làm căn cứ xếp lương theo chức danh nghề nghiệp phù hợp với vị trí việc làm được tuyển dụng, tiếp nhận

Việc xếp lương theo chức danh nghề nghiệp viên chức tương ứng với vị trí việc làm được tuyển dụng, tiếp nhận thực hiện theo quy định hiện hành

Trang 31

Bên cạnh đó, pháp luật về viên chức đã quy định rõ trong thời gian thực hiện chế độ tập sự, đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng viên chức phải cử viên chức tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng để hoàn chỉnh tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh nghề nghiệp trước khi bổ nhiệm Thời gian tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thời gian thực hiện chế độ tập sự Đối với các trường hợp không thực hiện chế độ tập sự, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải cử viên chức tham gia khóa bồi dưỡng để hoàn chỉnh tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh nghề nghiệp viên chức trước khi bổ nhiệm

Ngoài ra, pháp luật viên chức quy định không bố trí, phân công công tác đối với người được tuyển dụng đang trong thời gian thực hiện chế độ tập sự sang vị trí việc làm khác vị trí được tuyển dụng ở trong cùng đơn vị sự nghiệp công lập hoặc sang đơn vị sự nghiệp công lập khác Đây là các nội dung quy định mới, cụ thể, phù hợp với yêu cầu công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

Sau khi hết thời gian tập sự, trường hợp người tập sự được đánh giá kết quả tập sự đạt yêu cầu, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định theo thẩm quyền hoặc có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương cho viên chức33 Trường hợp người tập sự không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự hoặc có hành vi vi phạm đến mức phải xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hợp đồng làm việc và báo cáo cơ quan, đơn

vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức hủy bỏ quyết định tuyển dụng34

Nghị quyết Đại hội lần thứ VII nhấn mạnh yêu cầu: “Xây dựng đội ngũ viên

chức nhà nước có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo nghiệp vụ”, đây là những quan điểm thể hiện sự quan tâm của Đảng về xây dựng

đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ

Quy định pháp luật của nhà nước về tuyển dụng viên chức là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tuyển dụng viên chức; quy định đó bao gồm quy

Trang 32

định về căn cứ tuyển dụng, điều kiện, thẩm quyền, phương thức, trình tự, thủ tục tuyển dụng viên chức

Khi tổ chức tuyển dụng, các đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện phải căn cứ các quy định pháp luật về tuyển dụng viên chức để thực hiện hoạt động tuyển dụng đúng theo quy định của pháp luật Vì vậy, hiệu quả của tuyển dụng viên chức điều đầu tiên phụ thuộc vào tính khoa học, hợp lý, khả thi của các quy định pháp luật về tuyển dụng viên chức

Luật Viên chức ngày 15/11/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức ngày 25/11/2019, có hiệu lực từ ngày 01/7/2020; sau 10 năm thi hành kể từ khi Luật Viên chức năm 2010 có hiệu lực, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, hướng dẫn của các Bộ, ngành công tác tuyển dụng viên chức đã đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định Ngoài tiếp nhận vào làm viên chức với một số ít đối tượng theo quy định, công tác thi tuyển, xét tuyển viên chức được tổ chức rộng rãi, công khai đảm bảo cạnh tranh, khách quan và minh bạch hơn Đáp ứng yêu cầu thay đổi trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, các văn bản dưới luật như Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ (thay thế Nghị định

số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 và Điều 2 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018) và các Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành đã được ban hành quy định về tiêu chuẩn, điều kiện vị trí chức danh, tiêu chuẩn của hạng chức danh nghề nghiệp … nhằm hoàn thiện cơ chế tuyển dụng và quản lý đối với viên chức

Hệ thống văn bản quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức chưa ổn định, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung nên các cơ quan, đơn vị phải nghiên cứu, cập nhật để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành

1.4.2 Về chế độ, chính sách, môi trường làm việc để thu hút nguồn nhân lực tham gia dự tuyển viên chức

Các chế độ, chính sách để thu hút nguồn nhân lực như chế độ tiền lương, phúc lợi, thu nhập tăng thêm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng… là yếu tố quan trọng để thu hút nguồn nhân lực Nếu có nhiều chính sách chế độ đãi ngộ thì sẽ thu hút được nhiều ứng viên tham gia nộp hồ sơ dự tuyển, thuận lợi cho cơ quan tuyển dụng, có nhiều lựa chọn, để tuyển chọn được ứng viên phù hợp với vị trí theo yêu cầu vị trí công việc cần tuyển; ngược lại, chính sách đãi ngộ của cơ quan, đơn vị không phù hợp, bất cập khiến người lao động không mong muốn, không có nhu cầu

Trang 33

dự tuyển sẽ ảnh hưởng đến số lượng người nộp hồ sơ dự tuyển và chất lượng của hoạt động tuyển dụng viên chức

Cơ sở vật chất, trang thiết bị; yếu tố con người hiện hữu trong đơn vị sự nghiệp; mô hình, cách thức điều hành của người quản lý đơn vị, các mối quan hệ trong đơn vị sự nghiệp tạo môi trường làm việc gắn kết, phát triển cũng là yếu tố

quan trọng để thu hút nguồn nhân lực

1.4.3 Năng lực tổ chức và nguồn nhân lực về tuyển dụng viên chức

Đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có nhiều lợi thế về thu hút nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp; các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập được nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hoạt động ổn định, có sự hỗ trợ từ ngân sách trong lĩnh vực hoạt động nhằm thực hiện tốt việc cung cấp dịch vụ công Tâm lý của người lao động cũng ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng viên chức, vào biên chế tại đơn vị sự nghiệp để có cơ hội phát triển về chuyên môn nghề nghiệp, ổn định trong công việc, sự bảo vệ tốt hơn về chính sách, pháp luật

Vì được sự “bao cấp” của nhà nước nên có một vài đơn vị sự nghiệp giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện còn chưa chủ động trong hoạt động nghề nghiệp, bộc lộ một số những yếu kém về cơ chế, chế độ tiền lương, môi trường làm việc nên

có một bộ phận nhân lực có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác không muốn làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập Hiện nay, hoạt động cung cấp dịch vụ công không còn là độc quyền của đơn vị sự nghiệp công lập mà có sự cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ với cơ sở giáo dục ngoài công lập; do đó, các đơn vị giáo dục công lập cần nhận thức được vị trí của mình để có chiến lược phát triển phù hợp

để thu hút, lựa chọn được viên chức có trình độ, năng lực làm việc tại các đơn vị

Trang 34

Tiểu kết Chương 1

Qua các nội dung đã nghiên cứu, trình bày về lý luận và pháp luật tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Quy định pháp luật về tuyển dụng viên chức có sự điều chỉnh, sửa đổi nhằm hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn; cách tính điểm tuyển dụng (xét tuyển) hiện nay

có sự điều chỉnh, không tính điểm theo số điểm học tập, điểm tốt nghiệp vào kết quả tuyển dụng viên chức mà thực hiện theo tuyển dụng 02 vòng thi tuyển hoặc xét tuyển, điểm trúng tuyển trên cơ sở kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển vòng 2 (phỏng vấn, thực hành, thi viết); đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức được xác định bằng điểm số và được tính cộng điểm ưu tiên vào kết quả tuyển dụng (quy định trước đó đối tượng ưu tiên được tính theo thứ tự ưu tiên để xác định người trúng tuyển, không quy định điểm số cho đối tượng ưu tiên)

Quy định pháp luật về tuyển dụng viên chức hiện quy định rõ trong thời gian thực hiện chế độ tập sự; trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng viên chức phải cử viên chức tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng để hoàn chỉnh tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh nghề nghiệp trước khi bổ nhiệm Thời gian tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thời gian thực hiện chế độ tập sự Đối với các trường hợp không thực hiện chế độ tập sự, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải cử viên chức tham gia khóa bồi dưỡng để hoàn chỉnh tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh nghề nghiệp viên chức trước khi bổ nhiệm

Ngoài ra, pháp luật viên chức quy định không bố trí, phân công công tác đối với người được tuyển dụng đang trong thời gian thực hiện chế độ tập sự sang vị trí việc làm khác vị trí được tuyển dụng ở trong cùng đơn vị sự nghiệp công lập hoặc sang đơn vị sự nghiệp công lập khác

Quy định pháp luật về viên chức, tuyển dụng viên chức đã từng bước được hoàn thiện, hệ thống văn bản quy định về đối tượng này đã được cụ thể, tách bạch với đối tượng là cán bộ, công chức

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TRONG ĐƠN VỊ GIÁO DỤC CÔNG LẬP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN (TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH) VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội; tình hình tổ chức bộ máy, biên chế, số lượng người làm việc trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội tác động đến tuyển dụng viên chức trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt nằm ở miền Nam Việt Nam, có diện tích hơn 2.095 km2 Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây tiếp giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An, phía Đông tiếp giáp tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Nam giáp Biển Đông và tỉnh Tiền Giang Thành phố Hồ Chí Minh

là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế của vùng và của

cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong ba vùng kinh

tế trọng điểm lớn nhất nước và cũng là vùng động lực phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn Nam bộ và cả nước theo chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành phố có 19 khu chế xuất, khu công nghiệp, 219.051 doanh nghiệp, với hơn 2.950.000 lao động35; chiếm tỷ trọng 15% công nghiệp và 33% dịch vụ của cả nước; người lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh có mức thu nhập bình quân cao thuộc nhóm các tỉnh thành đứng đầu cả nước (khoảng 8,3 triệu đồng/tháng)

Thành phố Hồ Chí Minh có 01 thành phố, 21 quận, huyện, 312 phường, xã, thị trấn, trên 10 triệu dân (trong đó có hơn 02 triệu người vãng lai, tạm trú), cơ cấu dân cư đa dạng (ngoài dân tộc Kinh, có khoảng 400.000 người dân tộc Hoa, trên 25.000 người dân tộc Khơme, trên 7.500 người dân tộc Chăm, trên 2.500 người dân tộc Nùng)36, là nơi tập trung đông lực lượng trí thức, các nhà khoa học, người lao động là người nước ngoài, người từ các tỉnh, vùng miền khác đến sinh sống, học tập

và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh

kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 - Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 36

Công tác quy hoạch, quản lý và phát triển hạ tầng, dịch vụ đô thị đạt nhiều kết quả thiết thực Văn hóa - Xã hội, Y tế, Giáo dục - Đào tạo, Khoa học - Công nghệ tiếp tục phát triển Chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao, đảm bảo

an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng nghèo, gia đình chính sách, gia đình có công đạt nhiều tiến bộ37 Ước tính, cứ sau 05 năm dân số của Thành phố Hồ Chí Minh lại tăng thêm 01 triệu người, kéo theo các nhu cầu thiết yếu dịch vụ về nhà ở, giao thông, y tế nhất là lĩnh vực giáo dục; khi người dân từ nơi khác đến Thành phố học tập, làm việc và định cư tại Thành phố thì nhu cầu cho con, em đến trường ngày càng tăng; số học sinh tham gia học tập tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2014 - 2015

là 1.073.937 học sinh, trong đó khối mầm non có 160.258 học sinh, khối tiểu học có 549.878 học sinh và khối trung học cơ sở có 363.801 học sinh; năm học 2020 -

2021 là 1.201.681 học sinh, trong đó khối mầm non có 142.565 học sinh, khối tiểu học 640.588 và khối trung học cơ sở 418.528; dự kiến đến năm học 2025 - 2026 là 1.390.718 học sinh, trong đó khối mầm non có 184.621 học sinh, khối tiểu học 708.078 và khối trung học cơ sở 498.019 học sinh38; trước áp lực của việc số lượng học sinh có nhu cầu đến trường ngày càng tăng, quy định trường đạt chuẩn ngày càng được hoàn thiện, mô hình trường tiên tiến, hiện đại thí điểm thực hiện và đạt hiệu quả; Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh cần tăng lớp học, tăng trường học (xây dựng, thành lập trường mới) kéo theo tăng số lượng người làm việc tại đơn vị giáo dục công lập; nhu cầu tuyển dụng viên chức để thực hiện công tác giảng dạy, dịch vụ công về lĩnh vực giáo dục là chính đáng, cấp thiết để đáp ứng nhu cầu của xã hội

Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh chịu tác động và hậu quả của dịch bệnh Covid - 19, nhất là năm 2021 là năm chịu nhiều tác động của dịch bệnh, đại dịch Covid -19 với diễn biến phức tạp, lây lan nhanh đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội Sự phục hồi và phát triển về kinh tế - xã hội kéo theo nhiều cơ hội phát triển việc làm; Cơ hội việc làm và sự cạnh tranh nguồn nhân lực giữa khu vực nhà nước và tư nhân có sự đan xen, giằng co; vấn đề cốt lõi nhất đối với việc thu hút lao động, đào tạo lao động chất lượng cao, có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp vào làm việc tại đơn vị đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban

trường, lớp đến năm 2030

Trang 37

nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là môi trường làm việc, chính sách an sinh và chế độ đãi ngộ để viên chức, người lao động yên tâm công tác

Ngoài ra, ngày 24/11/2017 Quốc hội ban hành Nghị quyết số 54/2017/QH14

về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong đó tăng thêm thẩm quyền cho chính quyền Thành phố trong việc quản lý đất đai, quản

lý đầu tư, quản lý tài chính - ngân sách nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có nhiều quyền hạn hơn trong việc quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phê duyệt đầu tư công, có thêm những nguồn thu mới, có thể được giữ lại ngân sách nhiều hơn và được hưởng số thu từ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân Thành phố quản lý hoặc đại diện chủ sở hữu, được chủ động vay vốn bằng các hình thức khác nhau, ngoài ra chính quyền thành phố các cấp còn được chủ động phân quyền cho chính quyền cấp dưới, quyết định mức thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia thuộc Thành phố quản lý Cùng với Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội, Nghị quyết số 131/2020/NQ-QH14 ngày 16/11/2020 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh; và Nghị định số 33/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/NQ-QH14 ngày 16/11/2020 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo cơ chế đặc thù để Thành phố phát triển thành đô thị đặc biệt, có tổ chức chính quyền đô thị và thành phố thuộc thành phố đầu tiên của cả nước Thành phố đang thực hiện báo cáo, đánh giá kết quả sau 05 năm thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 và 01 năm thực hiện tổ chức chính quyền đô thị theo Nghị quyết số 131/2020/NQ-QH14 ngày 16/11/2020 và Nghị định số 33/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 để có những kiến nghị, đề xuất cơ chế, chính sách

để phát triển Thành phố xứng tầm tiềm năng, phù hợp với điều kiện địa phương

2.1.2 Tình hình tổ chức bộ máy, số lượng người làm việc trong đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2.1 Về tổ chức bộ máy

Ủy ban nhân dân các cấp Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên rà soát nhằm sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế; hiên nay, Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp tục rà soát sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập, các phòng, ban, đơn vị thuộc đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và Nghị

Trang 38

định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ Tính đến ngày 31/12/2021, số lượng tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân cấp huyện, như sau:

79 đơn vị so với năm 2015 (năm 2015 có 1.147 đơn vị, gồm giáo dục bậc mầm non

428 trường, giáo dục bậc tiểu học 461 trường, giáo dục bậc trung học cơ sở 258 trường); đơn vị giáo dục công lập tăng số lượng chủ yếu là các quận, huyện vùng ven Thành phố và thành phố Thủ Đức, số đơn vị tăng nhiều nhất thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức (trước đó là Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức): tăng 19 đơn vị (12 trường mầm non, 04 trường tiểu học và 03 trường trung học cơ sở); thứ hai thuộc

Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh tăng 17 đơn vị (09 trường mầm non, 07 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở); thứ ba là quận Bình Tân tăng 13 đơn vị (08

Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài nguyên và Môi trưởng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Y tế, Sở Lao động - Thương binh

và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Ban Dân tộc Thành phố, Thanh tra Thành phố và Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố

Ban Quản lý Khu Nông nghiệp công nghệ cao Thành phố, Ban An toàn giao thông Thành phố, Ban Quản lý Đầu tư - Xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Ban Quản lý Đầu tư - Xây dựng Khu đô thị mới Nam Thành phố, Ban Quản lý Đầu tư - Xây dựng Khu đô thị Tây Bắc, Ủy ban về người Việt Nam ở ngước ngoài Thành phố, Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành phố, Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Thành phố, Ban Quản lý An toàn thực phẩm Thành phố

Trang 39

trường mầm non, 04 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở); tiếp đó là Quận

12 tăng 10 đơn vị (05 trường mầm non, 02 trường tiểu học và 03 trường trung học cơ sở), huyện Nhà Bè và quận Tân Phú tăng 07 đơn vị trường học; huyện Hóc Môn tăng

6 và huyện Củ Chi tăng 05 đơn vị trường học… Số lượng đơn vị sự nghiệp giáo dục

công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện rất lớn 1.226/1.434 đơn vị, chiếm tỷ lệ

85,5% trên tổng số lượng đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Giáo dục là một trong những lĩnh vực Thành phố Hồ Chí Minh đang tích cực thực hiện tăng cường xã hội hóa, sắp xếp các cơ sở giáo dục cho phù hợp với quy hoạch của Thành phố nhằm giảm số lượng đơn vị sự nghiệp công lập hưởng lương ngân sách nhà nước, dần chuyển thành đơn vị giáo dục công lập tự chủ về kinh phí nhưng vẫn đảm bảo sự quản lý của nhà nước, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh

Phụ lục số 1 Thống kê số lượng đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh 45

2.1.2.2 Về số lượng người làm việc

Hàng năm, căn cứ số lượng người làm việc được Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành Nghị quyết thông qua, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giao chỉ tiêu số lượng người làm việc cho các Sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện; trên cơ sở số lượng người làm việc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giao, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện phân bổ số lượng người làm việc theo định mức quy định và phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ được giao, số lượng cụ thể, chi tiết đến từng đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc (trừ đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, không giao số lượng người làm việc)

Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến chỉ đạo các

cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã thực hiện tinh giản biên chế

và không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định Không giao số lượng người làm việc trong

Trang 40

các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư

Tổng số lượng người làm việc (biên chế sự nghiệp) tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giao năm 2021 khoảng 66.492 định biên, trong đó đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khoảng 64.267 định biên (chiếm tỷ lệ 96,6% trên tổng số biên chế của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện)

Tính đến tháng 12/2021, số lượng người làm việc có mặt tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khoảng 55.019 người; trong đó, số lượng người làm việc (viên chức) tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khoảng 53.561 người (bậc mầm non 12.530 người, bậc tiểu học 22.282 người, bậc trung học cở sở 18.235 người, giáo dục khác 514 người), chiếm

tỷ lệ 97,35% trên tổng số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện Số lượng viên chức quản lý đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khoảng 3.236 người (chiếm tỷ lệ 6,04% trên tổng

số viên chức đơn vị giáo dục công lập), trong đó trình độ trên đại học có 879 người, trình độ đại học có 2.344 người, trình độ cao đẳng có 13 người Số lượng viên chức

vị trí giáo viên đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khoảng 46.893 người (chiếm tỷ lệ 87,55% trên tổng số viên chức đơn vị giáo dục công lập), trong đó trình độ trên đại học có 1.229 người, trình độ đại học có 37.877 người, trình độ cao đẳng có 6.591 người, trình độ trung cấp có 1.196 người) Số lượng viên chức vị trí nhân viên đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khoảng 3.432 người (chiếm tỷ lệ 6,41% trên tổng số viên chức đơn vị giáo dục công lập), trong đó trình độ trên đại học có 190 người, trình độ đại học có 1.116 người, trình độ cao đẳng có 601 người, trình độ trung cấp có 1.525 người

Số lượng người làm việc có mặt tại đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tháng 12/2021 khoảng 53.561 người/64.267 định biên được giao năm 2021 (đạt tỷ lệ 83,34%); như vậy, đơn vị giáo dục công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện còn thiếu khoảng 10.706 người Ủy ban nhân dân cấp huyện cần tuyển dụng viên chức để đảm bảo số lượng người làm việc tại đơn vị giáo dục công lập trực thuộc

Ngày đăng: 11/01/2023, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm