1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết lại vụ án dân sự

72 22 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền Khởi Kiện Yêu Cầu Tòa Án Giải Quyết Lại Vụ Án Dân Sự
Tác giả Nguyễn Đồng Vũ
Người hướng dẫn TS. Sỹ Hồng Nam
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 10,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. QUYỀN KHỞI KIỆN YÊU CẦU TÒA ÁN GIẢI QUYẾT LẠI (15)
    • 1.1. Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết (15)
    • 1.2. Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện đối với việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác (21)
      • 1.2.1. Vướng mắc, bất cập đối với việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác (23)
      • 1.2.2. Kiến nghị hoàn thiện đối với việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác (27)
  • CHƯƠNG 2. QUYỀN KHỞI KIỆN YÊU CẦU TÒA ÁN GIẢI QUYẾT LẠI VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI KHỞI KIỆN RÚT ĐƠN KHỞI KIỆN (30)
    • 2.1. Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện (30)
    • 2.2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn rút đơn khởi kiện dưới góc độ thực tiễn xét xử (36)
      • 2.2.1. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện khi bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ đối với nguyên đơn (36)
      • 2.2.3. Kiến nghị hoàn thiện việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn rút đơn khởi kiện (41)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Mặc dù, công tác xây dựng hoàn hiện pháp luật tố tụng dân sự thời gian qua đã được quan tâm, chú trọng nhưng khi triển khai đã có những vướng mắc trong quy định pháp luật về quyền khởi k

QUYỀN KHỞI KIỆN YÊU CẦU TÒA ÁN GIẢI QUYẾT LẠI

Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm Được quy định trong Hiến pháp 2013 và cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng Dân sự cùng các văn bản hướng dẫn của ngành Tòa án, quyền khởi kiện tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp Việc công nhận quyền khởi kiện mang ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn, góp phần xây dựng nền tư pháp dân chủ và công bằng.

BLTTDS quy định các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự và trình tự thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự Khi quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức bị xâm phạm, họ có quyền được bảo vệ theo pháp luật Pháp luật tố tụng dân sự quy định rõ quyền khởi kiện của đương sự nhằm đảm bảo bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Theo Điều 161 BLTTDS, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan đều có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì thiếu điều luật để áp dụng, thể hiện sự đảm bảo quyền tiếp cận công lý của người dân.

Nguyên đơn có quyền quyết định có khởi kiện hay không, cũng như phạm vi và số lượng bị đơn trong vụ án dân sự Họ có thể khởi kiện một hoặc nhiều bị đơn liên quan đến một hoặc nhiều mối quan hệ pháp luật để được Tòa án giải quyết Người khởi kiện, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm.

Các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của họ được xem là nguyên đơn hợp pháp Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện hợp lệ và chỉ xét xử trong phạm vi nội dung đã nộp trong đơn khởi kiện của đương sự, đảm bảo tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn có giới hạn trong một số trường hợp nhất định theo quy định tại khoản 1 Điều Điều này nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa quyền lợi của các bên liên quan và tính hợp pháp của các vụ kiện, đồng thời quy định rõ các trường hợp không được quyền khởi kiện để tránh những tranh chấp không cần thiết.

Theo quy định tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án nếu vụ kiện sau không khác gì vụ kiện trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp, trừ các trường hợp được quy định rõ tại khoản 3 Điều 192 và điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này Căn cứ vào Điều 217 BLTTDS, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự khi vụ việc đã rơi vào các trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án trong quá trình thụ lý.

Trong trường hợp vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc các trường hợp khác theo Nghị quyết số 04/2017, nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án Tuy nhiên, đối với các trường hợp đình chỉ khác, đương sự sẽ mất quyền khởi kiện và không thể yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự.

Vụ án sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết sẽ bị chấm dứt hoàn toàn cả về thủ tục lẫn nội dung tranh chấp Tuy nhiên, quyết định này không phải là nhận định của Tòa án về nội dung vụ việc đã thụ lý Các lý do đình chỉ phổ biến bao gồm việc nguyên đơn mất quyền khởi kiện, chẳng hạn như không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và các chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo một quan điểm phân tích:

Không phải ngẫu nhiên mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định không cho phép nguyên đơn khởi kiện lại vụ án có cùng các bên đương sự và quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp, nhằm đảm bảo nguyên tắc Res judicata Nguyên tắc này, bắt nguồn từ nguyên tắc tư pháp “vấn đề đã được giải quyết”, được áp dụng đối với các vụ án do Tòa án Việt Nam thụ lý và cả những vụ án đã được Tòa án nước ngoài xử lý trước đó Quy định này được cụ thể hóa tại điểm d khoản 1 Điều 472 của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), nhằm tránh việc tái khởi kiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

Thứ nhất, nguyên đơn không được quyền khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây:

Nguyên đơn không được khởi kiện lại bị đơn đối với yêu cầu đã bị Tòa án bác bỏ hoặc đã được Tòa án giải quyết, dù nguyên đơn đã khởi kiện ban đầu để Tòa án xem xét yêu cầu liên quan Sau khi Tòa án ra quyết định không chấp nhận hoặc chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại yêu cầu đó Điều này đảm bảo tính cuối cùng của các quyết định của Tòa án và tránh việc lặp lại các vụ kiện về cùng một yêu cầu đã được giải quyết.

Trong vụ án, nếu có yêu cầu phản tố và yêu cầu này đã được Tòa án giải quyết trong cùng một vụ việc, thì bên đưa ra yêu cầu phản tố không được khởi kiện để yêu cầu Tòa án xem xét lại yêu cầu phản tố đó.

Thứ hai, "Tòa án đã giải quyết" thể hiện việc Tòa án đã ra quyết định áp dụng pháp luật dựa trên các tình tiết khách quan của vụ án và chứng cứ do các bên trình bày Các quyết định về thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án không được xem là phần của quá trình “giải quyết” vụ án bởi Tòa án.

Các trường hợp dưới đây không được coi là các vụ án đã được Tòa án giải quyết: khi Tòa án từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết vì không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp; nguyên đơn tự nguyện rút đơn khởi kiện hoặc từ bỏ vụ việc; hoặc nguyên đơn không tuân thủ các yêu cầu cụ thể của Tòa án dẫn đến việc đình chỉ giải quyết vụ án.

Theo quy định, nguyên đơn không được khởi kiện lại vụ án tại chính Tòa án đã giải quyết vụ án đó hoặc tại Tòa án khác của cùng một quốc gia, không phân biệt quyết định của Tòa án có thể bị kháng cáo hay chưa có hiệu lực pháp luật.

Nguyên tắc Res judicata được áp dụng trong trường hợp cùng một vụ án, có cùng các bên đương sự và nội dung tranh chấp, nhưng được nhiều Tòa án của các nước cùng thụ lý và giải quyết Khi một Tòa án phát hiện vụ án đã được Tòa án khác giải quyết, Tòa án đó sẽ từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết vụ án để đảm bảo quyền quyết định cuối cùng và tránh xử lý chồng chéo.

Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện đối với việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là quyết định của Tòa án nhằm chấm dứt hoạt động tố tụng của vụ án khi có căn cứ pháp luật phù hợp Căn cứ để đình chỉ được quy định rõ trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), và khi có các căn cứ này, Tòa án có quyền ra quyết định đình chỉ Một trong những hậu quả pháp lý của việc đình chỉ là nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự đó nếu muốn Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung, đương sự không được khởi kiện lại vụ án đã bị đình chỉ nếu vụ kiện sau trùng khớp về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp, trừ các trường hợp pháp luật quy định ngoại lệ cho phép khởi kiện lại một vụ án mới trong một số tình huống đặc biệt.

BLTTDS chưa rõ liệu Tòa án có quyền đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và các khoản phí tố tụng khác theo quy định Trong trường hợp này, đương sự có quyền khởi kiện lại hay không vẫn là vấn đề gây tranh cãi, do đó, còn tồn tại quan điểm cho rằng việc đình chỉ khi nguyên đơn chưa nộp phí thuộc trường hợp khác theo quy định tại Điều.

218 BLTTDS Do đó, đương sự vẫn có quyền khởi kiện lại

Theo khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, việc đình chỉ vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác là phù hợp với quy định pháp luật Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của TANDTC đã xác nhận rằng trong trường hợp tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án vì nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng, nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu giải quyết tiếp vụ án Điều này đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng trong việc xử lý các trường hợp liên quan đến chi phí tố tụng trong tố tụng dân sự.

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), khi nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác, vụ án sẽ bị đình chỉ Đồng thời, theo giải đáp của Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC), nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết tiếp vụ án trong trường hợp này, khác với trường hợp rút đơn khởi kiện.

Tuy nhiên, dưới góc độ thực tiễn xét xử đã có những phán quyết khác nhau của mỗi Thẩm phán về quyền khởi kiện lại như sau:

Bà Trương Thị Mỹ Ngọc khởi kiện bà Tào Yến về việc tranh chấp chia thừa kế di sản của ông Tôn Thất Kham, được Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã 03 lần gửi thông báo yêu cầu bà Ngọc nộp tiền tạm ứng chi phí định giá nhà đất, và ngày 13/01/2017, bà Ngọc đã xin tạm hoãn việc nộp tiền nhưng bị Tòa án từ chối Ngày 13/03/2017, Tòa án gửi công văn tiếp tục yêu cầu bà Ngọc thực hiện nghĩa vụ nộp phí định giá nhà đất để đảm bảo quá trình giải quyết vụ án diễn ra đúng tiến độ.

Bà Ngọc được đề nghị đóng tiền tạm ứng chi phí định giá theo Thông báo số 768/TB-TA ngày 02/3/2017 do Tòa án gửi, nếu không sẽ bị đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật Tuy nhiên, đến ngày 07/07/2017, bà Ngọc vẫn không nộp tiền tạm ứng, dẫn đến Tòa án sơ thẩm ban hành Quyết định số 839/2017/QĐST-DS ngày 07/7/2017 đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đồng thời ghi rõ quyền khởi kiện lại khi có yêu cầu Bà Ngọc kháng cáo quyết định này, nhưng tại Quyết định số 66/2018/QĐ-PT ngày 18/4/2018, Toà án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh đã giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm.

Theo Quyết định giám đốc thẩm số 21/2020/DS-GĐT ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân tối cao, việc ghi “đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án dân sự khi có yêu cầu” là vi phạm khoản 1, Điều 218 BLTTDS, dẫn đến việc hủy bỏ Quyết định giải quyết kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 66/2018/QĐ-PT ngày 18/4/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao cùng với Quyết định đình chỉ vụ án dân sự số 839/2017/QĐST-DS của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh Đồng thời, quan điểm của tòa sơ thẩm và phúc thẩm về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ khác biệt so với ý kiến của Hội đồng giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể là về quyền khởi kiện lại vụ án dân sự.

1.2.1 Vướng mắc, bất cập đối với việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác

Tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác là số tiền tòa án tạm tính để chi trả cho việc định giá tài sản và các chi phí pháp lý phát sinh từ yêu cầu của đương sự Thực tế, nhiều nguyên đơn không đủ điều kiện kinh tế để nộp số tiền tạm ứng cao, dẫn đến việc tòa án đình chỉ giải quyết vụ án mà không cho phép khởi kiện lại để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, gây bất lợi và hạn chế quyền khởi kiện của đương sự Một số thẩm phán linh hoạt hướng dẫn đương sự rút đơn chờ khi đủ điều kiện để khởi kiện lại, nhưng trong nhiều trường hợp, nếu không đồng ý hoặc không được hướng dẫn, thẩm phán sẽ chỉ đình chỉ vụ án theo quy định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình tố tụng dân sự.

Việc xác định loại chi phí tố tụng mà đương sự không nộp theo thông báo của Tòa án đang là vấn đề gây tranh cãi, đặc biệt là trường hợp Thẩm phán phải đình chỉ giải quyết vụ án do thiếu khoản phí này Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về quy trình và điều kiện xác định các chi phí tố tụng không được nộp đúng hạn Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình xét xử và quyền lợi của các bên liên quan trong vụ án Tìm hiểu rõ các quy định liên quan giúp đảm bảo đúng pháp luật và tăng hiệu quả công tác tố tụng tại tòa án.

2 Quyết định giám đốc thẩm số 21/2020/DS-GĐT ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân tối cao, phụ lục số 1 của Luận văn

Cụm từ “Chi phí tố tụng khác” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS bao gồm các khoản chi phí quy định tại mục 2 Chương IX, như chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí cho người làm chứng, phiên dịch, luật sư và các chi phí tố tụng khác theo quy định của luật khác Những chi phí này là những khoản cần thiết để đảm bảo quá trình giải quyết vụ án diễn ra thuận lợi, tránh gây khó khăn trong quá trình tố tụng.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc quy định các chi phí tố tụng khác trong luật có thể gây ra hiểu lầm về phạm vi các loại chi phí này, đặc biệt là không rõ chi phí tố tụng khác bao gồm những khoản nào Ví dụ, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài hoặc chi phí cho người làm chứng chưa rõ liệu có thuộc diện chi phí tố tụng khác theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự hay không Điều này có thể gây ra những vướng mắc trong quá trình xét xử thực tiễn.

Trên thực tiễn đã có cách giải quyết như sau:

Ví dụ một: Công ty X khởi kiện vụ án “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” tại

TAND TP.HCM yêu cầu bị đơn là Công ty A, có trụ sở tại Hàn Quốc, trả tiền do đã thực hiện hợp đồng dịch vụ Đồng thời, TAND TP.HCM yêu cầu nguyên đơn nộp chi phí ủy thác tư pháp để tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp cho bị đơn theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã gửi Công văn số 225/UTTPDS-TA yêu cầu Bộ Tư pháp ủy thác việc tống đạt các tài liệu pháp lý, bao gồm Đơn khởi kiện, Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập, cho bị đơn là Công ty A để đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra thuận lợi và đúng quy định pháp luật.

Tại Công văn số 1865/BTP - HTQT, Bộ Tư pháp trả lại hồ sơ ủy thác cho TAND Tp H vì chưa đầy đủ tài liệu

Tại Quyết định số 573/2012/QĐTĐC-KDTM-ST ngày 29/8/2012, TAND

Tp H quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nhằm chờ đợi việc ủy thác tư pháp để tống đạt tài liệu của Tòa án và thu thập chứng cứ cần thiết Quyết định này giúp đảm bảo quá trình tố tụng được thực hiện đúng quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án Việc tạm đình chỉ phù hợp khi cần thực hiện các thủ tục ủy thác tư pháp trong quá trình tố tụng dân sự tại Tp H.

Tại Biên bản làm việc ngày 24/12/2018 ở trụ sở TAND Tp H, Tòa án thông báo cho đại diện phía nguyên đơn về việc nộp phí ủy thác tư pháp

QUYỀN KHỞI KIỆN YÊU CẦU TÒA ÁN GIẢI QUYẾT LẠI VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI KHỞI KIỆN RÚT ĐƠN KHỞI KIỆN

Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện

Quyền khởi kiện lại của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được quy định chung với điều luật về trả lại đơn khởi kiện, không theo một điều luật riêng biệt Điều này thể hiện qua quy định tại Điều 192, trong đó có các ngoại lệ và các quy định riêng liên quan đến quyền nộp đơn khởi kiện lại, như điểm c khoản 1 và khoản 3 của Điều 192 Thời điểm rút yêu cầu khởi kiện cũng ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý, đặc biệt trong các giai đoạn khác nhau của vụ án như trước khi thụ lý, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 192.

Khi 192 BLTTDS người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi thụ lý vụ án, thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện Điều này cho thấy, quyền khởi kiện lại được quy định rõ ràng tại khoản 3 Điều 192 BLTTDS, bảo vệ quyền của người khởi kiện trong quá trình tố tụng dân sự.

Trong giai đoạn sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án, việc rút đơn khởi kiện của đương sự sẽ được Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS, quy định rằng “Người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện” Người khởi kiện cũng có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS, đảm bảo quyền lợi tố tụng của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Bộ luậtTố tụngDân sự quy định rõ tại khoản 2 Điều 244 rằng nếu đương sự tự nguyện rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình, Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.

Trường hợp này Bộ luật tố tụng dân sự chưa có quy định rõ về việc người khởi kiện có quyền khởi kiện lại hay không?

Trước hoặc trong phiên tòa phúc thẩm, khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Hội đồng xét xử bắt buộc phải hỏi ý kiến bị đơn để đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên Việc này nhằm duy trì tính công bằng, minh bạch và tuân thủ quy trình tố tụng pháp luật Quy trình này giúp xác nhận quyết định rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời tạo điều kiện cho bị đơn thể hiện quan điểm, đảm bảo quyền tranh luận hợp pháp trong quá trình xét xử.

Khi bị đơn đồng ý, Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Trong trường hợp này, theo khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, người khởi kiện không phải lúc nào cũng có quyền khởi kiện lại sau khi rút đơn, đặc biệt là trong các giai đoạn khác nhau của vụ án, vì BLTTDS quy định khác nhau cho từng trường hợp cụ thể Trong giai đoạn trước khi Tòa án thụ lý giải quyết và xét xử sơ thẩm, luật không cho phép người khởi kiện khởi kiện lại các yêu cầu đã rút.

Theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án khi thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 192 BLTTDS:

Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau: khi người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc trong các vụ việc như yêu cầu ly hôn, thay đổi người nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc bồi thường thiệt hại, cũng như các yêu cầu về thay đổi người quản lý tài sản, người quản lý di sản, người giám hộ hoặc các tranh chấp liên quan đến đòi tài sản, nhà đất, quyền sử dụng đất thuê hoặc cho mượn mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu theo quy định của pháp luật Ngoài ra, đương sự cần đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện theo luật định và trong các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Với những quy định pháp luật nêu trên sẽ có những vướng mắc như sau:

Theo quy định của BLTTDS, trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi thụ lý vụ án, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192 thì không rõ liệu họ có quyền khởi kiện lại hay không Tuy nhiên, theo quan điểm từ các học viên pháp lý, có thể áp dụng quy định tại Điều 218 để xác định quyền khởi kiện lại của người khởi kiện, nhằm đảm bảo quyền của đương sự không bị mất đi khi rút đơn trước khi tòa án thụ lý Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, đương sự có thể rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu, nhưng hiện tại BLTTDS chưa quy định rõ về quyền khởi kiện lại trong trường hợp này, khiến vấn đề còn chưa được rõ ràng và cần có quy định cụ thể hơn trong luật.

Thứ hai, phạm vi rút đơn khởi kiện của người khởi kiện cũng có những bất cập trong quy định của pháp luật như sau:

Người đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện trở lại ngoài các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 192 BLTTDS, còn theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS, là “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện” Trong trường hợp đình chỉ do người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện, họ vẫn có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự đó, theo quy định tại Điều 218 BLTTDS Tuy nhiên, khi người khởi kiện chỉ rút một phần yêu cầu khởi kiện, luật chưa quy định rõ ràng về quyền khởi kiện lại đối với phần yêu cầu đã rút, gây ra những hiểu lầm trong thực tiễn liên quan đến việc rút một phần yêu cầu và hậu quả đình chỉ phần đó Thực tế, nhiều trường hợp người khởi kiện không từ bỏ yêu cầu của mình mà chỉ muốn có thời gian thu thập thêm chứng cứ hoặc thỏa thuận với bị đơn để giải quyết phần tranh chấp, nhằm giảm thiểu chi phí tố tụng, nhưng đôi khi sau đó không thể đi đến thống nhất, dẫn đến những tranh luận về quyền khởi kiện lại đối với phần yêu cầu đã rút.

Trong vụ vi phạm hợp đồng cho thuê nhà, nguyên đơn không chỉ đòi tiền thuê mà còn yêu cầu bồi thường chi phí sửa chữa nhà theo thỏa thuận Trong quá trình xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã xin rút một phần yêu cầu liên quan đến chi phí sửa chữa, và Hội đồng xét xử đã căn cứ vào Khoản 2 Điều 224 Bộ luật Tố tụng Dân sự để đình chỉ yêu cầu này Tuy nhiên, pháp lý để xác định quyền khởi kiện của đương sự về yêu cầu trên là không rõ ràng, trong khi thực tế yêu cầu của nguyên đơn là chính đáng, phản ánh quyền và lợi ích hợp pháp của họ Điều này gây ra sự không hợp lý và thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của đương sự.

Trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, nguyên đơn kiện yêu cầu trả tiền gốc và tiền lãi Tuy nhiên, trước khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã rút yêu cầu đòi lãi với lý do sẽ tính lại phần tiền lãi rồi khởi kiện sau Vậy, đương sự có quyền khởi kiện lại yêu cầu đòi lãi sau khi đã rút yêu cầu ban đầu không?

Trong vụ án ly hôn, nguyên đơn có thể khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng nhưng sau đó rút yêu cầu này Tuy nhiên, nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án khác với nội dung “Yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn” trong tương lai.

Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần có hướng dẫn rõ ràng về cách hiểu thuật ngữ “Rút toàn bộ đơn khởi kiện” nhằm đảm bảo thống nhất trong quá trình xử lý vụ án Việc xem xét nội dung này sẽ giúp điều chỉnh phù hợp, tránh gây thiệt thòi cho người khởi kiện phải tạm thời rút yêu cầu vì lý do khách quan mà không có cơ hội để tiếp tục khởi kiện lại Điều này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, đảm bảo tính công bằng trong xét xử.

Thứ ba, khoản 1 Điều 192 BLTTDS đã quy định cụ thể các trường hợp

Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn rút đơn khởi kiện dưới góc độ thực tiễn xét xử

2.2.1 Nguyên đơn rút đơn khởi kiện khi bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ đối với nguyên đơn

Quyết định đình chỉ giải quyết của Tòa án chấm dứt mọi hoạt động tố tụng đối với vụ án, đồng nghĩa với việc người khởi kiện muốn khởi kiện lại từ đầu phải thực hiện lại toàn bộ trình tự khởi kiện Lý do người khởi kiện rút đơn thường xuất phát từ việc giữa nguyên đơn và bị đơn đã giải quyết được tất cả nội dung vụ án, ví dụ như bị đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nguyên đơn hoặc nguyên đơn tự nguyện rút đơn khởi kiện Trong thực tế xét xử, Thẩm phán vẫn phải căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều để xử lý các trường hợp này một cách phù hợp.

217 BLTTDS đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nhưng không ghi rõ hậu quả về quyền khởi kiện lại trong quyết định, do lo ngại bị đơn sẽ phản đối vì cho rằng đã thực hiện xong nghĩa vụ và rút đơn Việc này giúp đảm bảo quyền của nguyên đơn được bảo vệ mà không gây tranh cãi thêm về quyền khởi kiện lại sau khi vụ án bị đình chỉ.

Vấn đề này gây ra lúng túng trong thực tiễn khi Thẩm phán ghi vào quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quyền của đương sự được nộp lại đơn khởi kiện, giúp đảm bảo quyền lợi của họ Tuy nhiên, còn có trường hợp Thẩm phán không ghi rõ hậu quả khởi kiện lại mặc dù căn cứ đình chỉ phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, dẫn đến sự không rõ ràng trong quá trình thi hành án.

Ví dụ 1: Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 49/2019/QĐST-

Vào ngày 25/6/2019, Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dựa trên việc nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tuy nhiên, quyết định này không đề cập rõ ràng về quyền khởi kiện lại của đương sự trong phần tuyên hậu quả của việc đình chỉ Việc xác định rõ quyền khởi kiện lại là nội dung quan trọng nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan theo quy định pháp luật.

Ví dụ 2: Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 03/2021/QĐST-

Vụ án ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xác định việc đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định này cũng nêu rõ nguyên đơn vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án sau khi bị đình chỉ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại BLTTDS 2004 tại điểm đ khoản 1 Điều 192 thì việc

“Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án” là căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án, và khi Tòa án đình chỉ, các đương sự không còn quyền khởi kiện lại Tuy nhiên, quy định này đã phát sinh những bất cập thực tiễn, như trường hợp thỏa thuận không thành thì đương sự mất quyền khởi kiện, hoặc các bên đã thỏa thuận xong nhưng lại rút đơn khởi kiện, khiến quy định này trở nên hạn chế Trong quá trình sửa đổi, Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) đã loại bỏ căn cứ này để đảm bảo quyền của các đương sự được hợp lý hơn.

Quan điểm của tác giả cho rằng quyền khởi kiện lại của nguyên đơn vẫn tồn tại ngay cả khi bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ hoặc có thỏa thuận khác để nguyên đơn rút đơn khởi kiện, vì các thỏa thuận giữa các đương sự có thể không được thông báo cho Toà án Việc xác định các bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cần dựa trên quá trình cung cấp, thu thập chứng cứ phù hợp Trong trường hợp nguyên đơn cho rằng nghĩa vụ của bị đơn chưa xong, họ có quyền khởi kiện lại để xem xét toàn diện yêu cầu của mình Đồng thời, khi bị đơn đã thực hiện đủ nghĩa vụ theo yêu cầu của nguyên đơn mà nguyên đơn vẫn còn quyền khởi kiện, vấn đề này sẽ được giải quyết trong vụ án mới và yêu cầu của nguyên đơn có thể bị bác bỏ nếu bị đơn có bằng chứng chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ đầy đủ.

7 Xem http://Congbobanan.toaan.gov.vn/2ta331994t1cvn/chi-tiet-ban-an, phụ lục số 5 của Luận văn

8 Xem http://Congbobanan.toaan.gov.vn/2ta697879t1cvn/chi-tiet-ban-an, phụ lục số 6 của Luận văn

Dựa trên các phân tích trên, việc xác định quyền khởi kiện lại của đương sự trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn do Thẩm phán không thể xác định chính xác trong một số trường hợp Do đó, cần làm rõ tầm quan trọng của việc ghi nhận hậu quả về quyền khởi kiện lại vụ án trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án để đảm bảo quyền lợi của đương sự được bảo vệ rõ ràng và đầy đủ.

2.2.2 Ghi nhận hậu quả về quyền khởi kiện lại vụ án của đương sự trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

Trong thực tiễn xét xử, việc ghi hậu quả của quyết định đình chỉ về quyền khởi kiện lại trong quyết định đình chỉ vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Một số cho rằng, việc này giúp đảm bảo quyền lợi của người khởi kiện, tránh bỏ lọt các trường hợp có căn cứ hợp pháp Trong khi đó, một số ý kiến tranh luận rằng, ghi nhận hậu quả này có thể làm phức tạp quá trình tố tụng và gây thêm tranh luận không cần thiết Tuy nhiên, đa số ý kiến đều thống nhất rằng, việc xác định rõ hậu quả của quyết định đình chỉ là cần thiết nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình xét xử.

Quan điểm đầu cho rằng cần ghi rõ trong phần hậu quả của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án whether đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không, dựa trên hướng dẫn của Mẫu số 45-DS kèm theo NQ số 01/2017/NQ-HĐTP Việc ghi nhận này phụ thuộc vào từng trường hợp đình chỉ cụ thể, phù hợp với quy định tại Điều 218 của BLTTDS, bao gồm cả việc xác định tiền tạm ứng án phí Thiếu việc ghi rõ hậu quả về quyền khởi kiện lại sẽ vi phạm tố tụng và ảnh hưởng đến quyền của đương sự trong quá trình tố tụng hình sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng không cần phải ghi nhận hậu quả về quyền khởi kiện lại vụ án trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, vì không có điều khoản nào của BLTTDS bắt buộc phải ghi Quyền khởi kiện lại của đương sự phụ thuộc vào từng trường hợp sau khi có quyết định đình chỉ, và Tòa án sẽ căn cứ vào việc đương sự khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1 Điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

218 BLTTDS sẽ đánh giá và quyết định đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không

Quan điểm của tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ:

Theo hướng dẫn của mẫu số 45-DS, việc ghi hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án phải dựa vào từng trường hợp cụ thể nhưng chưa quy định rõ ràng cách ghi nhận Điều 25 NQ số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn về hậu quả của đình chỉ vụ án dân sự, quy định rằng trong các trường hợp đình chỉ theo điểm d và đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS, tòa án phải nêu rõ hậu quả pháp lý, đặc biệt về quyền khởi kiện lại của đương sự nếu vụ kiện bị đình chỉ mà không có sự thay đổi về nguyên đơn, bị đơn hoặc quan hệ pháp luật tranh chấp Tuy nhiên, các điểm d, đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS đã không còn phù hợp vì sửa đổi bổ sung năm 2011 và không quy định trong Điều 217 BLTTDS, khiến hướng dẫn này chỉ áp dụng cho những trường hợp cụ thể Do đó, không có quy định pháp luật bắt buộc phải ghi vào quyết định đình chỉ về quyền khởi kiện lại vụ án, cũng như không bắt buộc giải thích hậu quả cho đương sự trước khi đình chỉ theo hướng dẫn tại Điều 25 NQ số 05/2012/NQ-HĐTP.

Thứ hai, như đã phân tích tại chương 1 thì việc xác định về quan hệ pháp luật có tranh chấp không hề đơn giản

Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS, để xác định đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không cần xem xét yếu tố quan hệ pháp luật có tranh chấp, trong đó nếu vụ kiện sau không liên quan đến quan hệ pháp luật đã tranh chấp trước đó, đương sự sẽ không có quyền khởi kiện lại Thực tế, quan hệ tranh chấp được Tòa án xác định khi thụ lý vụ án dựa trên yêu cầu của đương sự, và trong nhiều trường hợp có thể có nhiều quan hệ tranh chấp khác nhau Trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, thông tin về số, ngày tháng thụ lý và quan hệ tranh chấp là bắt buộc, đảm bảo tính chính xác của hồ sơ Tuy nhiên, không phải Tòa án nào khi thụ lý vụ án cũng xác định đúng chính xác quan hệ tranh chấp ban đầu, đặc biệt khi đương sự khởi kiện lại bằng cách thay đổi yêu cầu hoặc cách trình bày, hoặc phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Thẩm phán, dẫn đến việc xác định quan hệ tranh chấp có thể khác đi và Tòa án buộc phải thụ lý vụ án mới.

Trong ví dụ một, A kiện B đòi lại số tiền B còn thiếu do không thanh toán đầy đủ đơn hàng Thẩm phán có thể xác định vụ việc là tranh chấp "đòi lại tài sản" hoặc "tranh chấp hợp đồng mua bán", tùy theo từng tình huống cụ thể.

Trong ví dụ hai, A kiện B yêu cầu B trả lại diện tích đất, liên quan đến ba quan điểm xác định quan hệ tranh chấp Quan điểm thứ nhất cho rằng đây là tranh chấp về quyền đòi lại tài sản, cụ thể là quyền sử dụng đất Quan điểm thứ hai xác định đây là tranh chấp về quyền sử dụng đất Trong khi đó, quan điểm thứ ba xem đây là tranh chấp đất đai nói chung Các luận điểm này giúp làm rõ tính chất và phạm vi của tranh chấp trong vụ việc này.

Ngày đăng: 11/01/2023, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w