1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường internet theo pháp luật việt nam

89 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường internet theo pháp luật Việt Nam
Tác giả Trần Lực
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thái Cường
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự và Tố Tụng Dân Sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM DƯỚI DẠNG CHỮ VIẾT HOẶC KÝ TỰ TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET (17)
    • 1.1. Khái quát về tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường (17)
      • 1.1.1. Khái niệm và lịch sử hình thành tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự (17)
      • 1.1.2. Đặc điểm của tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường (23)
      • 1.1.3. Phân loại (26)
    • 1.2. Quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (27)
      • 1.2.1. Khái niệm quyền tác giả (27)
      • 1.2.2. Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả (28)
      • 1.2.3. Nội dung quyền tác giả trong môi trường Internet (31)
      • 1.2.4. Các ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả trong môi trường Internet (35)
    • 1.3. Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (37)
      • 1.3.1. Hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (37)
      • 1.3.2. Hành vi xâm phạm quyền tài sản đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Intenet (44)
      • 1.3.3. Một số hành vi khác xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (51)
  • CHƯƠNG 2. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM DƯỚI DẠNG CHỮ VIẾT HOẶC KÝ TỰ TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (54)
    • 2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (54)
      • 2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả (54)
      • 2.1.2. Điều kiện để tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường (56)
      • 2.1.3. Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả (57)
      • 2.1.4. Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet (59)
    • 2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (63)
      • 2.2.1. Bổ sung quy định liên quan đến thời hạn bảo hộ quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (64)
      • 2.2.2. Hoàn thiện quy định về giới hạn quyền sao chép đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (65)
      • 2.2.3. Quy định cụ thể trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung (67)
      • 2.2.4. Quy định cơ quan chuyên trách có thẩm quyền xử lý vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (71)
      • 2.2.5. Áp dụng “chữ ký điện tử” như một biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet (72)

Nội dung

Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet .... Mặc dù đã có các quy định pháp luật điều chỉnh các v

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM DƯỚI DẠNG CHỮ VIẾT HOẶC KÝ TỰ TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET

Khái quát về tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường

1.1 Khái quát về tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet

Internet đã và đang tác động sâu sắc đến lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả Để hiểu rõ và bảo vệ tốt các tác phẩm dạng chữ viết hoặc ký tự trên môi trường Internet, cần quan tâm đến khái niệm, lịch sử hình thành, động lực thúc đẩy sự phát triển của loại tác phẩm này Đồng thời, nắm vững các đặc điểm cơ bản, đặc trưng, cũng như phương pháp phân loại của các tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet.

1.1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet

Vào thế kỷ XX, sự ra đời của máy tính cá nhân và các thiết bị scan đã mở ra thời kỳ mới cho các tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự, tạo ra dạng thức lưu trữ dữ liệu điện tử Nội dung tác phẩm được số hóa thành tín hiệu điện và hiển thị trên các thiết bị điện tử, nhưng để đọc các tập tin số hóa này, người dùng cần sử dụng máy tính cá nhân cồng kềnh và khó mang theo Do đó, sách in trên giấy vẫn giữ vai trò quan trọng vì dễ sử dụng và là phương tiện truyền bá tri thức chủ đạo.

Xuất hiện cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI, làn sóng công nghệ đã thúc đẩy sự phổ biến của máy tính cá nhân và Internet toàn cầu Môi trường kỹ thuật số đã thay đổi căn bản cách sao chụp, sử dụng, trao đổi và phát hành các tác phẩm văn học, nghệ thuật Các thiết bị đọc sách kỹ thuật số ngày càng nhỏ gọn và tiện dụng, trong khi Internet giúp truyền đạt và lan truyền thông tin dễ dàng hơn mà không cần sử dụng vật liệu giấy.

4 Vũ Thị Phương Lan, tlđd (2), trang 20 và 21

Internet ra đời từ năm 1955 khi IBM phát triển hệ thống mạng thông tin thương mại đầu tiên kết nối 1200 máy điện báo trên toàn nước Mỹ để đặt chỗ cho các chuyến bay của American Airlines Nhờ cuộc cách mạng công nghệ và thông tin, các hệ thống mạng khép kín dần chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, thương mại và tài chính quốc tế Vào những năm 1960, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã phát triển hệ thống ARPANET để liên lạc thông tin mới, mở đầu quá trình hình thành Internet Từ năm 1980, mạng ARPANET kết nối nhiều mạng khác và mở rộng sang phạm vi toàn cầu theo phương thức TCP/IP Những năm 1990 chứng kiến sự ra đời của World Wide Web, đánh dấu bước ngoặt phát triển mạnh mẽ của Internet với hàng nghìn mạng nối kết, từ 3 mạng vào thập niên 1970 đến hơn 50.000 mạng vào năm 1996 và số lượng không ngừng tăng sau đó Hiện nay, không có tổ chức nào kiểm soát hoàn toàn Internet hay sở hữu một cơ sở dữ liệu tập trung.

Kể từ những năm “đổi mới”, việc sử dụng máy tính tại Việt Nam đã trở nên phổ biến hơn, mặc dù ban đầu mang tính chất tự phát Tuy nhiên, giai đoạn này chứng kiến Internet vẫn chưa thực sự phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Đến năm 2000, số lượng máy tính cá nhân tại Việt Nam còn khá khiêm tốn so với dân số, cho thấy mức độ phát triển công nghệ thông tin còn hạn chế so với các nước phát triển khác.

IBM, viết tắt của International Business Machines, là tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia có trụ sở tại Armonk, New York, Mỹ Được thành lập năm 1911 dưới tên gọi Computing Tabulating Recording (CTR), IBM đã đổi tên thành International Business Machines vào năm 1924, khẳng định vị thế hàng đầu trong ngành công nghệ toàn cầu.

Mạng khép kín là hệ thống mạng giới hạn truy cập trong một vùng địa lý cụ thể hoặc dành cho một chức năng riêng biệt, như mạng nội bộ của công ty hoặc cơ quan hành chính Ngược lại, mạng mở cho phép mọi người dễ dàng truy cập, tạo điều kiện thuận lợi cho giao tiếp và chia sẻ thông tin rộng rãi Việc hiểu rõ sự khác biệt giữa mạng khép kín và mạng mở giúp tối ưu hóa an ninh và hiệu quả hoạt động của hệ thống mạng.

TCP/IP, viết tắt của Transmission Control Protocol/Internet Protocol, là giao thức chính điều phối truyền thông giữa các máy tính kết nối Internet Nó quy định cách đóng gói, gửi và nhận dữ liệu (gói tin) giữa các thiết bị mạng, đảm bảo truyền tải thông tin chính xác và hiệu quả Được phát triển vào năm 1978 bởi Bob Kahn và Vint Cerf, TCP/IP là nền tảng cốt lõi của Internet, hỗ trợ kết nối toàn cầu và mang lại sự liên kết không gián đoạn giữa các hệ thống máy tính.

8 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2015), Quyền tác giả trong không gian ảo, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia

Thành phố Hồ Chí Minh, trang 13 và 14

Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam liên tục nằm trong top 20 quốc gia có số người dùng Internet lớn nhất thế giới, với tỷ lệ hơn 30% dân số sở hữu và truy cập internet, trở thành một trong những thị trường phát triển mạnh mẽ trong khu vực Đông Nam Á.

Tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trên môi trường Internet là thành quả của sự phát triển công nghệ điện tử Dù có những đặc điểm riêng biệt, các tác phẩm này vẫn giữ lại những đặc điểm của tác phẩm in trên giấy truyền thống, đóng vai trò là nguồn tài liệu quý báu để nâng cao tri thức, bồi dưỡng thẩm mỹ, đạo đức, và quan điểm sống cho con người qua các thời kỳ.

Để bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet, cần hiểu rõ định nghĩa “tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự” là gì và cách nó thể hiện trên môi trường mạng Trong pháp luật Việt Nam và các tài liệu liên quan, không có quy định rõ ràng về định nghĩa này trong môi trường Internet, chỉ xác định tác phẩm chung chung trong Điều 4 khoản 7 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung qua các năm 2009, 2019 và 2022.

Tác phẩm được hiểu là sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, thể hiện bằng mọi phương tiện hoặc hình thức nào, phù hợp với quy định của Luật SHTT và Công ước Berne năm 1886 Theo đó, các tác phẩm bao gồm các sản phẩm như sách, bài giảng, phát biểu, bài thuyết giáo và các dạng công trình tương tự, bất kể phương thức biểu hiện ra sao Các quy định này cũng nhấn mạnh rằng tác phẩm là kết quả sáng tạo nguyên gốc thể hiện tâm tư, tình cảm của con người, phù hợp với luật sở hữu trí tuệ của Hàn Quốc và Estonia.

Vào cuối năm 1997, tỷ lệ máy tính cá nhân trên dân số tại Việt Nam đạt 5,19/1000, gần bằng mức của Indonesia (5/1000) Trong khi đó, Malaysia có tỷ lệ máy tính cá nhân là 11/1000, còn Singapore cao hơn nhiều với 80/1000 Điều này cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về mức độ phổ biến của máy tính cá nhân giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á vào cuối thập kỷ 20.

11 Theo thống kế của Trung tâm Internet Việt Nam VNNIC, năm 2012, số lượng người sử dụng Internet là 31.304.211 người, chiếm khoảng 35,58%

12 Nguyễn Thái Cường (2020), Bình luận bản án quyền tác giả - Góc nhìn pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Nhật

Tác phẩm là sản phẩm trí tuệ do cá nhân hoặc nhóm người sáng tạo ra trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, được thể hiện qua các phương thức hoặc hình thức khác nhau trên một dạng vật chất nhất định Một tác phẩm có tính nguyên gốc là thành quả sáng tạo trí tuệ của chính tác giả, có thể nhận biết và sao chép bằng các hình thức khách quan, trực tiếp hoặc qua các thiết bị kỹ thuật Theo tác giả Trần Văn Nam, tác phẩm bao gồm các sản phẩm trí tuệ do cá nhân hoặc nhóm người sáng tạo ra trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, thể hiện sự sáng tạo trên các phương diện vật chất khác nhau (Nguồn: Bản, Hàn Quốc, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, trang 33).

Theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm các tác phẩm thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác, như sách giáo khoa, giáo trình và các tác phẩm khác Ngoài ra, theo Điều 7 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ, quy định chi tiết về một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật, các tác phẩm này cũng được pháp luật bảo vệ để đảm bảo quyền lợi của tác giả.

Quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet

Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ về quyền tác giả (QTG) nói chung cũng như quyền tác giả đối với các tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet Hiểu rõ về các quy định này giúp bảo vệ quyền lợi người sáng tạo và thúc đẩy sự phát triển của nội dung số trên mạng Nội dung bài viết phân tích các khái niệm cơ bản về QTG, các chủ thể được pháp luật bảo hộ quyền tác giả, cũng như các nội dung chính của quyền này trong môi trường Internet Đồng thời, bài viết cũng đề cập đến các ngoại lệ và giới hạn của QTG trong bối cảnh số hóa và mạng Internet, giúp làm rõ các phạm vi và hạn chế của quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam.

1.2.1 Khái niệm quyền tác giả Để hiểu rõ bản chất việc bảo hộ QTG đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự, đầu tiên phải làm rõ khái niệm QTG QTG được biết đến như một trong hai nội dung cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật, bên cạnh quyền liên quan Đối tượng được bảo hộ của QTG bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; trong khi đó, đối tượng được bảo hộ bởi quyền liên quan là các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (khoản 1, Điều 3 Luật SHTT) Như vậy, so với quyền liên quan, QTG được xây dựng nhằm bảo vệ những sáng tạo trí tuệ ban đầu, cơ sở để hình thành các quyền liên quan Theo pháp luật Việt Nam, QTG được công nhận và bảo vệ ngay từ khi tác phẩm được hình thành, tác giả không cần đăng ký để thụ hưởng QTG mà chỉ cần thỏa mãn các điều kiện như: tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm, tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định và tác phẩm phải được thể hiện trên một lãnh thổ ở đó bảo hộ QTG (khoản 1 Điều 6 Luật SHTT)

Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT đã đưa ra định nghĩa về QTG như sau: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Ngoài ra, còn có tác giả định nghĩa: “Quyền tác giả là khả năng được pháp luật bảo hộ cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được độc quyền khai thác lợi ích vật chất và tinh thần từ các tác phẩm văn học, nghệ thuật do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” 18 Thêm vào đó, Điều 18 Luật SHTT đã liệt kê các thành phần cấu tạo nên QTG, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Khi khai thác, sử dụng, công khai tác phẩm thì có thể phát sinh nhiều vấn đề về mặt lợi ích kinh tế cũng như giá trị của bản thân tác phẩm, dẫn đến hạn chế sự sáng tạo Do đó khi bảo hộ QTG, pháp luật bảo hộ trên cả hai mặt là lợi ích kinh tế và giá trị nhân thân, để có thể đạt được mục đích vừa khuyến khích sự sáng tạo, vừa đảm bảo sự phát triển xã hội Với tầm quan trọng ấy, QTG được xem là một trong số những quyền cơ bản và quan trọng nhất trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và pháp lý của Việt Nam hiện nay

1.2.2 Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả

Trong quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả (QTG), các chủ thể tham gia gồm có tác giả (hoặc đồng tác giả) và chủ sở hữu quyền tác giả Tác giả (hoặc đồng tác giả) là người sáng tạo ra tác phẩm, có quyền sở hữu và hưởng thụ các quyền liên quan đến tác phẩm đó.

Theo khoản 1 Điều 12a Luật SHTT, tác giả được hiểu là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, nghĩa là chỉ có cá nhân mới có khả năng lao động trí tuệ để sáng tạo Các tổ chức và chủ thể khác không thể là tác giả mà chỉ nắm giữ quyền tài sản đối với tác phẩm Do đó, cá nhân phải đóng vai trò quyết định trong việc sáng tạo để được công nhận là tác giả của tác phẩm.

Tác phẩm là kết quả của sự sáng tạo trực tiếp của cá nhân, phản ánh ý tưởng và sự thể hiện cá nhân trong quá trình sáng tạo Một tác phẩm không nhất thiết chỉ do một người tạo ra mà có thể do nhiều người hợp tác trực tiếp hoặc chia thành nhiều phần do các tác giả khác nhau sáng tạo Tuy nhiên, Luật SHTT chưa quy định rõ thế nào là sự sáng tạo trong từng tác phẩm, theo từ điển tiếng Việt, sự sáng tạo là quá trình sáng tạo độc đáo và có giá trị mới mẻ.

Sáng tạo được hiểu là việc tạo ra giá trị mới về vật chất và tinh thần, dựa trên sức lao động và khả năng suy xét để cho ra các tác phẩm độc đáo Theo các tài liệu khoa học, sáng tạo còn bao gồm các sáng tạo trong lựa chọn và sắp xếp câu chữ, nốt nhạc, màu sắc, và đường nét, được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Trong phạm vi nhất định, sáng tạo chủ yếu là hoạt động tạo ra tác phẩm từ lao động trí óc, yêu cầu người sáng tạo đóng vai trò quyết định trong việc thể hiện ý tưởng và hình thành tác phẩm dưới một hình thức cụ thể Những cá nhân hoặc tổ chức chỉ hỗ trợ, góp ý hoặc cung cấp tư liệu không được xem là tác giả theo quy định pháp luật về quyền tác giả.

Những người làm công việc dịch thuật, biên tập, chuyển thể, phóng tác, chú giải, tuyển chọn đều được coi là tác giả của tác phẩm phái sinh Hoạt động sáng tạo bảo hộ quyền tác giả (QTG) bao gồm các cách lựa chọn và sắp xếp câu chữ, nốt nhạc, màu sắc, và đường nét Việc dịch, cải biên tác phẩm đã có cũng được xem là hoạt động sáng tạo, yêu cầu trung thành với nguyên tác nhưng có thể thay đổi hình thức biểu hiện và ngôn ngữ thể hiện Các hoạt động như chuyển thể, chú giải, biên soạn, tuyển chọn không chỉ là hoạt động sáng tạo mà còn tạo ra các tác phẩm phái sinh, và những người thực hiện các hoạt động này đều được công nhận là tác giả của các tác phẩm mới.

19 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, trang 847

20 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, trang 52

21 Trường Cao đẳng Tài chính – Hải Quan (2009), Giáo trình bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Lê Trung Đạo, Nhà xuất bản Tài Chính, trang 101

Theo pháp luật Việt Nam, cá nhân được bảo hộ quyền tác giả (QTG) bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài Cụ thể, quyền tác giả của cá nhân Việt Nam được bảo vệ khi tác phẩm của họ đáp ứng các điều kiện nhất định, như đăng ký hoặc phản ánh sáng tạo trong các hình thức vật chất Ngoài ra, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo, thể hiện tại Việt Nam hoặc công bố lần đầu tại Việt Nam cũng được hưởng quyền bảo hộ Bên cạnh đó, quyền tác giả của người nước ngoài còn được bảo hộ theo các điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên, đảm bảo quyền lợi của nhà sáng tạo trong môi trường quốc tế.

Tác giả được hiểu là người sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần của tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học bằng chính sức lao động trí óc của mình Việc này nhấn mạnh vai trò của tác giả trong quá trình sáng tạo nội dung, đồng thời giúp xác định quyền sở hữu và trách nhiệm đối với tác phẩm Tác giả không chỉ là người sáng tác mà còn góp phần định hình giá trị và ý nghĩa của tác phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học.

Trong thực tế, tác phẩm có thể do một hoặc nhiều người cùng sáng tạo và khi có từ hai tác giả trở lên cùng tham gia, họ trở thành đồng tác giả và chia sẻ quyền sở hữu đối với tác phẩm đó Theo khoản 1 Điều 12a Luật SHTT, đồng tác giả là những người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm với ý định hợp nhất các đóng góp của họ thành một tổng thể hoàn chỉnh Đồng tác giả là các cá nhân làm việc sáng tạo để tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hoàn chỉnh, trong khi những người hỗ trợ, góp ý hoặc cung cấp tư liệu không được xem là tác giả hoặc đồng tác giả Việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản của các đồng tác giả phải dựa trên thỏa thuận, trừ khi tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách rời sử dụng mà không ảnh hưởng đến phần của các đồng tác giả khác hoặc theo quy định của luật Có hai trường hợp chính liên quan đến tác phẩm có đồng tác giả: một là phần sáng tạo không thể tách rời để sử dụng riêng, coi như đồng sở hữu chung; hai là phần sáng tạo có thể tách ra sử dụng độc lập mà không gây ảnh hưởng cho các phần còn lại, coi như đồng sở hữu theo phần Đồng tác giả có quyền độc quyền hoặc phép người khác sử dụng tác phẩm theo quy định của pháp luật, và khi khai thác, sử dụng tác phẩm, cá nhân hoặc tổ chức phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cùng các quyền lợi vật chất khác cho tác giả.

Theo Lê Đình Nghị và Vũ Thị Hải Yến (2016), trong giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm đồng tác giả là năm mươi năm kể từ khi tác giả cuối cùng qua đời Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền kiểm soát và khai thác tác phẩm phù hợp với quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Chủ sở hữu quyền tác giả (QTG) có quyền độc quyền sử dụng và quyết định tác phẩm của mình Trong phần lớn trường hợp, tác giả đồng thời là chủ sở hữu QTG, trừ khi có thỏa thuận khác xác định rõ ràng Khi người sáng tạo sử dụng thời gian, tài sản, cũng như cơ sở vật chất – kỹ thuật để tạo ra tác phẩm, họ vừa là tác giả vừa là nhà đầu tư tài chính, đồng thời giữ các quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

Trong lĩnh vực quyền tác giả, việc xác định ai là chủ sở hữu quyền tác giả (QTG) là cực kỳ quan trọng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên liên quan Nếu tác phẩm được hình thành do các tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ sáng tạo hoặc ký hợp đồng với tác giả, thì họ sẽ trở thành chủ sở hữu QTG, bao gồm cả các trường hợp chuyển giao hoặc thừa kế QTG Khi phân biệt giữa tác giả và chủ sở hữu QTG, cần lưu ý rằng về mặt kinh tế, chủ sở hữu QTG có vai trò quan trọng hơn tác giả, và các bên sử dụng tác phẩm đều phải xin phép hoặc trả thù lao cho chủ sở hữu này Trong trường hợp chủ sở hữu QTG không đồng thời là tác giả, họ có thể là tổ chức, cá nhân đã giao nhiệm vụ sáng tạo, ký hợp đồng, thừa kế hoặc chuyển giao QTG, hoặc theo quy định của pháp luật, là Nhà nước.

1.2.3 Nội dung quyền tác giả trong môi trường Internet

Nội dung của quyền tác giả (QTG) bao gồm các quyền của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự, đặc biệt là quyền của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Trong đó, quyền nhân thân là các quyền không thể chuyển nhượng, bảo vệ danh dự, uy tín và phẩm giá của tác giả Quyền tài sản của quyền tác giả liên quan đến việc khai thác và hưởng lợi từ các tác phẩm đã sáng tạo, đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của chủ sở hữu.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 25 Bộ Luật Dân sự 2015:

“Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao

23 Điểm b, khoản 2, Điều 27 Luật SHTT

Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet

Trong môi trường Internet, quyền tác giả (QTG) đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự được thực hiện một cách nhanh chóng và thuận lợi Tuy nhiên, các hành vi xâm phạm quyền tác giả cũng dễ dàng xảy ra từ nhiều hình thức khác nhau, khiến cho việc bảo vệ quyền lợi của tác giả trở nên khó khăn hơn Môi trường Internet đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hành vi xâm phạm quyền tác giả ngày càng phổ biến, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Tuy nhiên, trong bài viết, tác giả chỉ tập trung phân tích một số hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet nhằm làm rõ các hình thức phổ biến nhất của vấn đề này.

1.3.1 Hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet

Hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet là hiện tượng phổ biến và đa dạng Các hành vi này bao gồm việc sao chép, truyền tải hoặc sử dụng trái phép nội dung mà không có sự cho phép của tác giả, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi và danh dự của người sáng tạo Việc xâm phạm này có thể diễn ra dưới nhiều dạng khác nhau như đăng tải, chia sẻ hoặc bình luận mà không ghi rõ nguồn gốc hoặc vi phạm bản quyền tác phẩm gốc Để bảo vệ quyền nhân thân đối với tác phẩm, người sáng tạo cần nhận thức rõ các hình thức xâm phạm và chủ động áp dụng các biện pháp pháp lý phù hợp Trong môi trường Internet hiện nay, việc đảm bảo quyền nhân thân cho tác phẩm là rất quan trọng để duy trì sự công bằng và tôn trọng quyền của tác giả.

1.3.1.1 Hành vi đặt tên và đứng tên bất hợp pháp tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet

Quyền đặt tên và đứng tên tác phẩm là những quyền nhân thân quan trọng trong luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, được quy định rõ trong Điều 19 của Luật SHTT, cho phép tác giả đặt tên cho tác phẩm và sử dụng tên thật hoặc bút danh khi công bố hoặc sử dụng tác phẩm Ngoài ra, Công ước Berne cũng ghi nhận quyền đứng tên tác giả như một quyền tinh thần của tác giả đối với tác phẩm sáng tạo của mình Trong pháp luật của Pháp, quyền này được quy định tại khoản 1 Điều L.121-1 Luật sở hữu trí tuệ, đề cập đến quyền tôn trọng tên gọi và tư cách của tác giả Tại Hoa Kỳ, quyền này cũng được bảo vệ theo khoản (a)(1) Điều 106A của Luật Copyright, nhấn mạnh quyền của tác giả trong việc giữ tên và danh tính của mình phù hợp với tác phẩm.

Kỳ tháng 10 năm 2007 29 nhưng chỉ liên quan đến tác phẩm nghệ thuật thị giác 30

Quyền đặt tên cho tác phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc cá biệt hóa và thể hiện ý nghĩa của tác phẩm đó Tác phẩm còn được ví như “đứa con tinh thần” của tác giả, phản ánh nội dung và giá trị sáng tạo của họ Việc đặt tên cho tác phẩm không chỉ giúp gây ấn tượng ban đầu với người đọc mà còn góp phần truyền tải thông điệp, tạo dấu ấn riêng biệt và nâng cao hiệu quả tiếp cận độc giả trong chiến lược SEO.

29 Nguyên văn: “…the author of a work of visual art shall have the right to claim authorship of that work…”

Theo quy định tại Điều 101 Luật Sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ năm 2007, các tác phẩm nghệ thuật thị giác như hội họa, đồ họa, ấn phẩm in, điêu khắc, nhiếp ảnh được bảo vệ quyền tác giả Tên tác phẩm thường phản ánh nội dung và ý tưởng mà tác giả muốn truyền tải, thể hiện dấu ấn cá nhân và giúp phân biệt với các tác phẩm khác, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho công chúng tiếp cận ý đồ sáng tạo của tác giả Quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền nhân thân chỉ thuộc về chính tác giả, kể cả khi tác phẩm được sáng tạo theo nhiệm vụ hoặc hợp đồng Tuy nhiên, tác giả có thể chuyển quyền đặt tên cho tổ chức hoặc cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản Đặc biệt, quyền đặt tên không áp dụng cho các tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, đảm bảo tính bảo hộ đặc thù của quyền sáng tạo cá nhân.

Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm là quyền nhân thân của tác giả, đảm bảo việc nêu tên đúng hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố và sử dụng Quyền này được bảo hộ vô thời hạn, không thể chuyển giao hoặc thừa kế cho người khác Việc ghi tên trên tác phẩm xác định rõ chủ thể hưởng quyền nhân thân và quyền tài sản, đồng thời khẳng định thành quả sáng tạo của tác giả Có hai khía cạnh chính của quyền này: quyền đưa tên mình vào tác phẩm và quyền phản đối người khác đứng tên thay mình Trong trường hợp tác phẩm khuyết danh, quyền này vẫn thuộc về tác giả và họ có thể khẳng định tư cách chủ thể bất cứ lúc nào.

Trong môi trường Internet, quyền đặt tên và đứng tên tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự dễ dàng bị xâm phạm do khả năng sao chép, lưu trữ và công bố không giới hạn Việc số hóa tác phẩm có thể làm suy yếu hiệu lực của quyền này khi các tác phẩm bị sao chép hoặc công bố mà không đảm bảo quyền tác giả, đặc biệt khi lưu trữ trong bộ nhớ cứng mà không ghi rõ tên tác giả Hành vi mạo danh tác giả hoặc công bố tác phẩm không chính xác trên Internet được quy định là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả theo khoản 1 Điều 28 Luật SHTT, đồng thời là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

31 Sirinelli P., Propriété litteraire et artistique, Paris, Dalloz, 2è éd., 2004, trang 58

Điều 7 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định rằng "tác phẩm giả mạo tên, chữ ký của tác giả, mạo danh hoặc chiếm đoạt quyền tác giả" là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Khi tác phẩm được đăng tải lên mạng mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc không ghi rõ tên tác giả, thì rõ ràng đã vi phạm quyền nhân thân của tác giả Trong thực tế, các hành vi xâm phạm này xảy ra khá nhiều nhưng ít có các vụ kiện đòi lại quyền đứng tên tác giả trên Internet, chủ yếu do tác giả khó nhận biết hành vi xâm phạm và chủ thể thực hiện trong môi trường mạng rộng lớn Việc phát hiện hành vi xâm phạm và xác định chủ thể xâm phạm trên không gian mạng là rất gian nan, khiến người tác giả gặp nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chính mình.

1.3.1.2 Hành vi công bố trái phép tác phẩm dưới dạng chữ viết hoặc ký tự trong môi trường Internet

Pháp luật Việt Nam công nhận quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả (QTG) đối với quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm Quyền này, theo khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng, do chính tác giả hoặc chủ sở hữu QTG thực hiện hoặc ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác Tuy nhiên, công bố tác phẩm không bao gồm các hình thức trình diễn như biểu diễn sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, đọc tác phẩm văn học trước công chúng, phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật, trưng bày tác phẩm tạo hình hoặc xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.

Khi tác phẩm được sáng tạo và công bố, nó sẽ tiếp cận đông đảo công chúng, giúp công chúng nhận biết về tác giả và tác phẩm đó Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả (QTG) có quyền quyết định công bố hoặc không công bố tác phẩm của mình mà không ai có thể ngăn cản Quyền này là quyền nhân thân đi kèm với quyền tài sản và có thể chuyển giao, thời hạn bảo hộ kéo dài tương đương với thời hạn bảo hộ quyền tài sản Theo khoản 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, khái niệm “cho phép người khác công bố tác phẩm” đã được giải thích rõ ràng, thể hiện quyền quyết định của chủ sở hữu trong việc phổ biến tác phẩm ra công chúng.

Khoản 2 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định rõ các trường hợp liên quan đến quyền công bố tác phẩm có thể chuyển nhượng Theo quy định tại khoản 2 Điều 45 và khoản 2 Điều 47 của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), quyền công bố tác phẩm có thể chuyển nhượng để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và phổ biến tác phẩm Việc chuyển nhượng quyền công bố mang lại lợi ích kinh tế và thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đồng thời phù hợp với các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Quyền công bố tác phẩm không được quy định thống nhất trên toàn thế giới và chưa được công nhận rộng rãi, ngoại trừ pháp luật của Pháp Theo Điều L 121-2 của Luật sở hữu trí tuệ Pháp, tác giả là người duy nhất có quyền công bố tác phẩm của mình, đồng thời được phép lựa chọn phương thức công bố phù hợp, từ việc gửi tác phẩm đến một nhóm khán giả hạn chế đến việc công khai rộng rãi qua nhiều phương tiện Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiểu quyền công bố tác phẩm theo cách khác, chỉ bao gồm việc phổ biến bản mẫu đến công chúng mà không bao gồm quyền trình diễn hay phát sóng tác phẩm, dù đó là lần đầu tiên.

Quyền công bố tác phẩm là một trong những quyền nhân thân dễ bị xâm phạm nhất trong môi trường Internet do tính chất đặc biệt của nền tảng này Gần đây, đại diện Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đã yêu cầu Nhà sách Sông Hương, chủ sở hữu trang web Songhuong.com.vn, phải tháo dỡ toàn bộ văn bản các tác phẩm như Trừ tiên (Tiêu Đỉnh), Kỳ án ánh trăng (Quỷ Cổ Nữ), Pháo đài số, và Mật mã Da Vinci để bảo vệ quyền công bố của các tác giả.

Trong thư viện online của Dan Brown hiện có hơn 4.000 đầu sách, nhưng đã bị phát hiện tự ý đăng tải mà không xin phép Nhà xuất bản – đơn vị sở hữu quyền tác phẩm Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đã gửi công văn đề nghị Công ty Tân Trí Tuấn, đơn vị quản lý website Sahara.com.vn – “siêu thị sách trực tuyến lớn nhất Việt Nam”, trong vòng 5 ngày phải gỡ bỏ các ấn phẩm “Thiên thần và Ác quỷ” của Dan Brown đã được mua bản quyền, nhưng Sahara.com.vn vẫn “hồn nhiên” sử dụng trái phép 35.

33 Nguyễn Thị Hồng Nhung, tlđd (8), trang 27

34 Khoản 2 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP

Nhiều tác giả đang đối mặt với tình trạng xâm phạm bản quyền trên mạng internet, gây thiệt hại lớn về quyền sở hữu trí tuệ Theo bài báo trên Thanh Niên ngày 17/09/2022, có hàng ngàn tác giả bị mất quyền kiểm soát nội dung sáng tạo của mình do hành vi xâm phạm bản quyền trực tuyến Đây là vấn đề nghiêm trọng cần được Nhà nước và các cơ quan chức năng nâng cao nhận thức để bảo vệ quyền lợi cho các tác giả và sáng tạo nội dung Thực trạng này ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo, làm giảm giá trị của tác phẩm và gây thiệt hại về kinh tế cho người sáng tạo.

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM DƯỚI DẠNG CHỮ VIẾT HOẶC KÝ TỰ TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 11/01/2023, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. Quản Tuấn An (2009), Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Quản Tuấn An
Năm: 2009
27. Trần Phương Anh và Ngô Trọng Quân (2019), “Trách nhiệm pháp lý của Nhà cung cấp dịch vụ trung gian với vi phạm quyền tác giả trên Internet”, Tạp chí Luật Học, số 1/2019, trang 29 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm pháp lý của Nhà cung cấp dịch vụ trung gian với vi phạm quyền tác giả trên Internet”, "Tạp chí Luật Học
Tác giả: Trần Phương Anh và Ngô Trọng Quân
Năm: 2019
28. Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
Năm: 2006
29. Ngô Nguyễn Cảnh (2019), Thực thi bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động thông tin – thư viện tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ khoa học thông tin – thư viện, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động thông tin – thư viện tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Nguyễn Cảnh
Năm: 2019
30. Đỗ Khắc Chiến, “Về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, trang 22 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, "Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam
31. Nguyễn Thái Cường (2020), Bình luận bản án quyền tác giả - Góc nhìn pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận bản án quyền tác giả - Góc nhìn pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc
Tác giả: Nguyễn Thái Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2020
32. Lê Thị Nam Giang, “Những thách thức về mặt pháp lý trong bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, trang 8 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức về mặt pháp lý trong bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, "Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam
33. Phạm Huy Hoàng, “Ứng dụng diện toán đám mây bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nội dung số”, Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, trang 30 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng diện toán đám mây bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nội dung số”, "Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam
34. Trương Thế Hào Kiệt (2007), Nâng cao hiệu quả thực thi quyền liên quan đến quyền tác giả tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả thực thi quyền liên quan đến quyền tác giả tại Việt Nam
Tác giả: Trương Thế Hào Kiệt
Năm: 2007
35. Vũ Thị Phương Lan (2017), “Môi trường kĩ thuật số và thách thức đối với bảo hộ quyền tác giả”, Tạp chí Luật học, số 11/2017, trang 46 – 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường kĩ thuật số và thách thức đối với bảo hộ quyền tác giả”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Thị Phương Lan
Năm: 2017
36. Vũ Thị Phương Lan (2018), Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam (Sách chuyên khảo)
Tác giả: Vũ Thị Phương Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2018
37. Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
38. Vương Tịnh Mạch (2003), Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ từ góc nhìn so sánh, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ từ góc nhìn so sánh
Tác giả: Vương Tịnh Mạch
Năm: 2003
39. Lê Hoàng Minh, “Mô hình hạ tầng CNTT-TT hỗ trợ bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ trên mạng Internet và vai trò của nhà nước”, Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, trang 8 – 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hạ tầng CNTT-TT hỗ trợ bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ trên mạng Internet và vai trò của nhà nước”, "Tài liệu hội thảo: Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam
40. Nguyễn Vân Nam (2017), Quyền tác giả - Đường hội nhập không trải hoa hồng (Bình luận luật học và áp dụng vào thực tiễn), Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tác giả - Đường hội nhập không trải hoa hồng (Bình luận luật học và áp dụng vào thực tiễn)
Tác giả: Nguyễn Vân Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2017
41. Lê Đình Nghị và Vũ Thị Hải Yến (2016), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (Tái bản lần thứ hai), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (Tái bản lần thứ hai)
Tác giả: Lê Đình Nghị và Vũ Thị Hải Yến
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
67. Nils Svensson and Other v Retriever Sverige AB, Case C-466/12, 13 February 2014, ECLI:EU:C:2014:76 (Svensson), tại địa chỉ:https://curia.europa.eu/juris/liste.jsf?num=C-466/12, truy cập ngày 03/09/2022 Link
68. Tribunal de grande instance de Paris, Ordonnance de référé du 5 mai 1997, tại địa chỉ: https://www.legalis.net/jurisprudences/tribunal-de-grande-instance-de-paris-ordonnance-de-refere-du-5-mai-1997/, truy cập ngày 29/09/2022 Link
69. Tribunal de grande instance de Paris, Ordonnance de référé du 14 aỏt 1996, Warner Chappell, Brel et autres c/ECP et Ph. Rey (inédit), tại địa chỉ:https://www.legalis.net/jurisprudences/tribunal-de-grande-instance-de-paris-ordonnance-de-refere-du-14-aout-1996/, truy cập ngày 29/09/2022 Link
70. Tribunal de commerce de Paris Ordonnance de référé du 3 mars 1997, Ordinateur Express, D. 97, tr.176, note Gautier P-Y, tại địa chỉ:https://www.legalis.net/jurisprudences/tribunal-de-commerce-de-paris-ordonnance-de-refere-du-3-mars-1997/, truy cập ngày 29/09/2022 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm