1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề cương đường lối cách mạng đảng cộng sản việt nam

17 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương đường lối cách mạng đảng cộng sản Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 53,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 8: Khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh và trình bày quan điểm và chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới? Liên hệ thực tiễn với việc thực tiễn với việc thực hiện nếp sống văn hóa của sinh viên Học viện Tòa án?

Trang 1

Câu 1: Phân tích sự khủng hoảng về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX? Nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước?

 Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự khủng hoảng về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Thứ nhất, hoàn cảnh quốc tế:

+ Từ cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc) Các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra sôi nổi ở các nước thuộc địa Đặc biệt là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân

+ Từ đó đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản

+ Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời đề ra hướng đi cho các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động (giải phóng người nghèo)

+ Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và Quốc tế Cộng sản đã gây sức ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nước thuộc địa Sau Cách mạng Tháng Mười Nga Liên Xô đã giúp đỡ các nước thuộc địa đấu tranh giành độc lập mà trước hết giúp đỡ thành lập 1 Đảng Cộng sản

- Thứ hai, hoàn cảnh trong nước

+ Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Trong đó đặc biệt là sự ra đời của hai giai cấp mới công nhân và

tư sản Việt Nam Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột

+ “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm … bằng thuốc phiện, bằng rượu … chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do độc lập”

+ Chính sách cai trị, áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam (chủ yếu là nông dân) với giai cấp địa chủ phong kiến Từ

đó đặt ra hai nhiệm vụ cách mạng: một là, phải đánh đuổi được thực dân Pháp xâm lược, giành được độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; hai là xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền tự do dân chủ cho nhân dân Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu

 Phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

- Thứ nhất, phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến Có thể kể đến như:

+ Phong trào Cần Vương (1885-1896) được dẫn dắt bởi Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi

Trang 2

+ Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) của người dân Yên Thế với mục đích bảo vệ cuộc sống của mình do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo

- Dù chiến đấu anh dũng, quyết liệt song các phong trào đều nhanh chóng bị dập tắt dưới sự đàn

áp của thực dân Pháp Điều này chứng tỏ hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam

- Khi phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến đã cho thấy không phù hợp ở Việt Nam thì các sĩ phu yêu nước đã chuyển hướng sang tư tưởng dân chủ tư sản với hi vọng tư tưởng này giúp Việt Nam giành được độc lập

- Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu, với chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục nền độc lập cho dân tộc, với cách thức nhờ Nhật giúp ta đánh đuổi Pháp

- Đại biểu cho xu hướng cải cách là Phan Châu Trinh, với chủ trương vận động cải cách văn hóa,

xã hội; động viên lòng yêu nước trong nhân dân; đả kích bọn vua quan phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền; phản đối đấu tranh vũ trang và cầu viện nước ngoài

- Ngoài ra trong thời đại này còn nổi lên các tổ chức đảng phái của giai cấp tư sản và tiểu tư sản tiêu biểu là Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng

- Mặc dù các phong trào diễn ra sôi nổi, có tổ chức, có sức ảnh hưởng trên trường chính trị cùng vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc song đều thất bại Điều này chứng tỏ hệ tư tưởng tư sản không phù hợp ở Việt Nam, giai cấp tư sản ở Việt Nam đã không hoàn thành được sứ mệnh lịch sử mà nhân dân giao phó

=> Thất bại của các phong trào yêu nước ở Việt Nam đã cho thấy cách mạng Việt Nam đã lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và về giai cấp lãnh đạo

 Nguyên nhân thất bại:

- Phong trào đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam

- Phong trào đấu tranh theo khuynh hướng tư sản: hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị; hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được hai lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân) Theo Bác cách làm của cụ Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, còn cụ Phan Châu Trinh “chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương”

Câu 2: Phân tích những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 2 năm 1930)? Qua đó làm rõ tính sáng tạo của Cương lĩnh?

Cương lĩnh xác định những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam:

- Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”

- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:

+ Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến tay sai, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông

Trang 3

+ Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, …) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ

+ Về văn hóa - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, …; phổ thông giáo dục theo công nông hóa

+ Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, … để kéo họ đi vào phe

vô sản giai cấp Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ

+ Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp

+ Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách mạng Việt Nam

là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp

Từ những nội dung cơ bản của Cương lĩnh có thể thấy:

- Cương lĩnh đã xác định đúng đắn con đường giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, đây là cơ sở để ĐCsVN nắm được ngọn cờ cách mạng Việt Nam;

- Cưỡng lĩnh đã giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng

Câu 3: Phân tích những nội dung cơ bản của Luận cương chính trị (tháng 10 năm 1930), qua đó làm rõ những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của Luận cương?

Nội dung cơ bản của Luận cương chính trị:

- Đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo

- Chỉ rõ mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc

- Vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương là:

+ Lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có tính chất thổ địa và phản đế, “tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”

Trang 4

+ Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”

- Khẳng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là: “đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập” Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ để tiến hành cách mạng thổ địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa Trong hai vấn đề này “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày

- Về lực lượng cách mạng:

+ Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng

+ Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và là động lực mạnh của cách mạng

+ Tư sản thương nghiệp thì đứng về phe đế quốc và địa chủ chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc + Giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự; tiểu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng; tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kỳ đầu

+ Chỉ có các phần tử lao khổ ở đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi

- Về phương pháp cách mạng: Để đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường

“võ trang bạo động” Võ trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh”

- Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng

ở Đông Dương

- Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng, Đảng phải có đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt được mục đích cuối cùng

là chủ nghĩa cộng sản

* Hạn chế của Luận cương:

- Luận cương chính trị không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu

Trang 5

- Luận cương chính trị đã đánh giá không đúng vai trò cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc và chưa thấy được khả năng phân hóa, lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó Luận cương đã không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai

* Nguyên nhân của những hạn chế của Luận cương:

- Thứ nhất, Luận cương chính trị chưa tìm ra và nắm vững những đặc điểm của xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam

- Thứ hai, do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở thuộc địa, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp huynh hướng “tả” của Quốc tế Cộng sản và một số đảng cộng sản trong thời

kì đó Chính vì vậy , quan điểm mới sang tạo, độc lập tự chủ của NAQ được nêu trong Đường Cách mệnh, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt

Câu 4: Bối cảnh lịch sử và nội dung cơ bản đường lối đấu tranh giành chính quyền của Đảng được thể hiện trong các Nghị quyết TW 6,7 và 8 (1939 - 1941)?

 Hoàn cảnh lịch sử

- Thứ nhất, tình hình thế giới Ngày 1/9/1930 Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Đế quốc Pháp lao vào vòng chiến Chính phủ Pháp đã thi hành biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ Đảng Cộng sản Pháp

bị đặt ra ngoài vòng pháp luật

- Tháng 6/1940 Đức tấn công Pháp, Chính phủ Pháp đầu hàng Ngày 22/6/1941, Đức tấn công Liên Xô từ đây tính chất của cuộc chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phátxít do Đức cầm đầu

- Thứ hai, tình hình trong nước Trước ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp đã thi hành các chính sách phản động ở Việt Nam và Đông Dương

+ Ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn và tịch thu tài sản của các tổ chức đó, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người

+ Chúng ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy” nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của cho chiến tranh đế quốc Đồng thời thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân, thủ tiêu một số quyền tự do, dân chủ mà nhân dân ta giành được trong những năm 1936-1939 Kết quả hơn bảy vạn thanh niên bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn

+ Lợi dụng Pháp thua Đức, ngày 22/9/1940 phátxít Nhật đưa quân xâm lược Đông Dương, đưa Việt Nam vào cảnh “một cổ hai tròng” Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở nhiều nơi như Khởi nghĩa Bắc Sơn (Lạng Sơn), Khởi nghĩa Nam Kỳ (Miền Tây), Binh biến Đô Lương (Nghệ An)

Sự đô hộ của Pháp-Nhật đã đẩy mâu thuẫn giữa dân tộc ta với hai thế lực ngoại xâm trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Điều này đã đặt ra yêu cầu lịch sử ta phải giành độc lập cho đất nước

Trang 6

Đứng trước hoàn cảnh và yêu cầu của lịch sử Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp liên tiếp ba

kỳ hội nghị: Hội nghị lần thứ sáu (tháng 11-1939), Hội nghị lần thứ bảy (tháng 11-1940), Hội nghị lần thứ tám (tháng 5-1941) nhằm chuyển hướng chỉ đạo chiến lược với những nội dung sau:

- Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Bởi “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” Để thực hiện nhiệm vụ này Đảng quyết định tạm gác lại khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức”,

- Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc

- Ba là, thay đổi hình thức đấu tranh, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại

Ban Chấp hành Trung ương xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: “phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”

Bên cạnh đó Ban Chấp hành Trung ương đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng

 Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược

Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tập hợp rộng rãu mọi người VN yêu nước trong Mặt trận Việt Minh

Câu 5: Hoàn cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam sau tháng 7/1954 và nội dung nghị quyết trung ương lần thứ 15 về cách mạng miền Nam.

 Bối cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam sau tháng 7/1954:

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết ngày 21-7-1954, lấy vĩ tuyến 17 (dọc theo sông Bến Hải – Quảng Trị) làm giới tuyến quân sự tạm thời, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế

độ chính trị - xã hội khác nhau: Miền Bắc theo chế độ xã hội chủ nghĩa, Miền Nam theo chế độ Việt Nam Cộng hòa của chính quyền Ngô Đình Diệm Do đó đặt ra yêu cầu lịch sử là phải thống nhất được nước nhà

Trước bối cảnh ấy, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới, vừa đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp

- Về thuận lợi:

+ Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học – kỹ thuật + Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh

Trang 7

+ Phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước tư bản chủ nghĩa.

+ Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa vững chắc cho cả nước

+ Thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau chín năm kháng chiến

+ Có ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc của nhân dân từ Bắc chí Nam

- Về khó khăn:

+ Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng hậu, âm mưu làm bá chủ thế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng

+ Thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa

và tư bản chủ nghĩa

+ Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc + Đất nước ta bị chia làm hai miền, kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ và đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta

Trước yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng sau tháng 7-1954 là phải đề ra đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa phù hợp với xu thế chung của thời đại Tháng

1-1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền Nam được tổ chức với những nội dung sau:

Trung ương Đảng nhận định: “hiện nay cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi

để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội”

Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là: “giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam”

“Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân” Đó là con đường “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” “Tuy vậy cần thấy rằng cách mạng ở miền Nam vẫn có khả năng hòa bình phát triển, tức là khả năng dần dần cải biến tình thế, dần dần thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam có lợi cho cách mạng Khả năng đó hiện nay rất ít, song Đảng ta không gạt bỏ khả năng đó, mà cần ra sức tranh thủ khả năng đó”

Có thể thấy Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng

ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng

Câu 6: Trình bày mục tiêu và quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kì đổi mới? Liên hệ một quan điểm với thực tiễn hiện nay?

Trang 8

 Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ nước phải đạt được những mục tiêu cụ thể Đại hội X,

XI, XII đã xác định mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

 Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc gia, Đảng ta nêu ra những quan điểm cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau:

- Một là, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

Đại hội X của Đảng nhận định: “Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn” Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Do nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi trên thế giới kinh tế tri thức đã phát triển Nhờ vậy chúng ta có những lợi thế của những nước đi sau đó là có thể và cần thiết không trải qua các bước phát triển tuần tự từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa nhiều vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới của khoa học, công nghệ Đó là những ngành kinh tế mới dựa trên công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và cả những ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng khoa học, công nghệ cao

Đại hội XII của Đảng xác định: “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”

- Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế

Thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được tiến hành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần Do đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải chỉ là việc của Nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế Đồng thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường không những phải khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong nền kinh tế, mà còn sử dụng cần chúng có hiệu quả để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Nhằm mục đích thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thu hút khoa học công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của

Trang 9

thế giới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm trong nước Nói cách khác, đó là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng nhanh hơn, hiệu quả hơn

- Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

Để tăng trưởng kinh tế, cần năm yếu tố chủ yếu là: vốn; khoa học và công nghệ; con người; cơ cấu kinh tế; thể chế chính trị và quản lý nhà nước Trong đó con người là yếu tố cơ bản và cũng là yếu tố quyết định nhất Để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần đặc biệt chú ý đến phát triển giáo dục, đào tạo

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý cũng như đội ngũ công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng Đại hội XI của Đảng chi rõ: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và

là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”

- Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung Nhất là đối với một nước tiến lên xã hội chủ nghĩa từ nền kinh tế kém phát triển và tiềm lực khoa học, công nghệ còn ở trình độ thấp như chúng ta

Muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học công nghệ là yêu cầu bức thiết và bức xúc Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp với phát triển công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình

độ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới

- Năm là, phát triển nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trước hết kinh

tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Chỉ có như vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng

Liên hệ: công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức Quan điểm CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường:

- CNH,HĐH là một giai đoạn tất yếu của mỗi quốc gia, với nước ta từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu muốn tiến lên CNXH trong bối cảnh toàn cầu hóa chúng ta phải tiến hành đồng thời hai quá trình: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp ( CNH-HĐH): chuyển từ nền kinh tế nông- công nghiệp lên nền kinh tế tri thức, trong khi ở các nước đi trước,

đó là hai giai quá trình kế tiếp nhau, thì ở nước ta tận dụng cơ hội là nước đi sau hai quá trình này được lồng ghép với nhau, kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, tức

là gắn CNH-HĐH với phát triển KTTT

Trang 10

- Nội dung trung tâm của thực hiện CNH-HĐH gắn với phát triển KTTT là lựa chọn để có thể bỏ qua một số thế hệ công nghiệp trung gian, đi thẳng vào công nghện cao, công nghệ mới nhắm nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp dịch vụ

có hàm lượng tri thức, giá gia tăng cao Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, ngoài một số mục tiêu tăng trưởng GDP 7-8%/ năm; tăng giá trị thu nhập bình quân đầu người… còn chú trọng tăng tỉ lệ các ngành công nghiệp dịch vụ trong cơ cấu GDP; giảm tỉ lệ lao động trong ngành nông nghiệp…

- Như vậy chúng ta phải thực hiện lồng ghép 2 quá trình là CNH-HĐH với phát triển KTTT kết hợp với các bước đi tuần tự đạt được các bước nhảy vọt như sau:

+ Xây dựng các trung tâm quốc gia về công nghệ cao, lấy đây làm đầu tàu, là mô hình tiêu biểu cho phát triển công nghệ của cả nước và là nơi thu hút, nuôi dưỡng công nghệ và trí thức, ví dụ: Hà Nội,

tp HCM, Đà nẵng…

+ Khuyến khích các doanh nghiệp bỏ công nghệ trung gian đi vào công nghệ tiên tiến, công nghệ cao có cs thuế hợp lí

+ Tạo môi trường cho các tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư cả về cơ sở sản xuất mà còn xây dựng cả

cơ sở đào tạo tại chỗ cho nguồn nhân lực chất lượng cao, thành thạo kĩ năng nghề nghiệp

+ Khuyến khích du học sinh ra nước ngoài học tập và có danh sách đãi ngộ thích hợp để thu hút họ quay về nước làm việc

+ Cần có một chiến lược phù hợp với những bước đi thích hợp với từng giai đoạn, bước đầu cần tiếp thu, chuyển giao công nghệ mới từ nước ngoài, ở giai đoạn sau khuyến khích các dối tác nước ngoài hợp tác với các cơ sở trong nước trong công nghệ mới, trên cơ sở đó đẩy mạnh khoa học nghiên cứu trong nước

Gắn với việc bảo vệ môi trường;

- Sau khi tiến hành đổi mới ngoài những thành tựu vượt bậc mà ta đạt được ta cũng dối mặt với những thách thức nghiêm trọng về môi trường, theo thống kê nước ta có gần 4000 cơ sở sản xuất, 1500 làng nghề, hơn 200KCN cần được kiểm soát về khả năng gây ô nhiễm môi trường, đa dạng sinh học tiếp tục suy giảm; biến đổi khí hậu nước triều dâng gây hậu quả khôn lường… trước tình hình đó đảng ta có những chính sách đưa ra, năm 2005 thông qua luật bảo vệ môi trường, tại các đại hội của đảng vấn đề môi trường được đưa thành nội dung chiến lược quan trọng…

- Quá trình CNH-HĐH đặt ra nhiều vấn đề với môi trường: mỗi ngày các KCN thải ra khoảng

30000 tấn chất thải độc hại ra môi trường; ở nông thôn các làng nghề hầu hết không có hệ thống

xử lí nước thải và kiểm soát chất rắn; CNH-HĐH kéo theo quá trình đô thị hóa đây là sức ép lớn đối với quản lí đô thị, hang ngày các đô thị lớn thải ra hàng nghìn tấn chất thải độc hại… hơn nữa chúng ta cũng phải chịu áp lực về sức cạn kiêt tài nguyên ở mức báo động

- Do đó các mỗi bận tâm về môi trường cần được lồng ghép ngay từ quá trình ra các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội, trong đại hội XI đã cụ thể hóa vấn đề này như là cụ thể hóa chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận mô hình tăng trưởng xanh… như vậy nhà nước cần chú trọng xây dung năng lực nội sinh nhằm sử dụng công nghệ tiết kiệm nhiên liệu vì trên thực tế gần 70% máy móc thiết bị nước ta là máy móc cũ trong quá trình sử

Ngày đăng: 11/01/2023, 00:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w