1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2. nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ việt nam trong xã hội hiện nay

13 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay
Trường học Trường Đại học [Tên trường]
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 37,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM 2 1 1 Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam 2 1 1 1 Khái niệm phụ nữ 2 1 1 2 Đặc điểm phụ nữ Việt Na. MỤC LỤCA. MỞ ĐẦU1B. NỘI DUNG2I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM21.1. Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam21.1.1. Khái niệm phụ nữ21.1.2. Đặc điểm phụ nữ Việt Nam21.1.3. Văn hóa truyền thống phụ nữ Việt Nam31.2. Vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội3II. VẬN DỤNG42.1. Quan điểm của Đảng về công tác phụ nữ42.2. Thưc trạng phong trào phụ nữ ở nước ta52.2.1. Thành tựu52.2.2. Hạn chế62.2.3. Bài học kinh nghiệm72.3. Giải pháp phát huy vai trò và vị thế phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay8C. KẾT LUẬN11D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO12  A. MỞ ĐẦUTrong suốt quá trình phát triển của nhân loại nói chung và đất nước ta nói riêng, người phụ nữ luôn đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời. Bên cạnh việc gìn giữ, phát huy vai trò “giữ lửa” trong mỗi gia đình, phụ nữ còn tích cực học tập, lao động, sản xuất, tham gia có trách nhiệm vào các hoạt động xã hội và có những đóng góp ý nghĩaPhụ nữ khẳng định vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực hoạt động, như chính trị gia nổi tiếng, nhà lãnh đạo tài ba của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn, nhà khoa học xuất sắc, xứng đáng với danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.Ở bất cứ thời kỳ nào, phụ nữ Việt Nam cũng luôn mang trong mình khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Nguồn năng lượng tiềm tàng ấy tạo thành sức mạnh vĩ đại, giúp phụ nữ Việt Nam có những cống hiến, đóng góp to lớn, góp phần xây dựng, bảo vệ non sông gấm vóc của Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Tinh thần, khát vọng ấy cần được khơi dậy, phát huy để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong bối cảnh mới.Đối với phụ nữ và công tác phụ nữ, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới. Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em”. Đây chính là sự tiếp nối, phát triển quan điểm của Đảng về phụ nữ và công tác phụ nữ trong các kỳ đại hội trước, thể hiện rõ sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng đã từng được Bác Hồ khen ngợi: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”; đồng thời, cũng khẳng định sự quan tâm, trách nhiệm cũng như những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra để giải quyết các vấn đề về công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay” để có cái nhìn xâu và rộng hơn. B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM1.1. Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam1.1.1. Khái niệm phụ nữPhụ nữ, nữ giới là từ chỉ giống cái của loài người. Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ quyền phụ nữ.Thông thường, một phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X và có khả năng mang thai và sinh con từ tuổi dậy thì cho đến khi mãn kinh. Giải phẫu phụ nữ, như phân biệt với giải phẫu nam, bao gồm ống dẫn trứng, buồng trứng, tử cung, âm hộ, vú, tuyến Skene và tuyến Bartholin. Xương chậu của nữ rộng hơn nam giới, hông thường rộng hơn và phụ nữ có khuôn mặt và lông trên cơ thể khác ít hơn đáng kể. Xét về trung bình, phụ nữ có chiều cao thấp hơn và ít cơ bắp hơn nam giới.Trong suốt lịch sử loài người, vai trò giới truyền thống thường được xác định và hạn chế các hoạt động và cơ hội của phụ nữ; nhiều học thuyết tôn giáo quy định một số quy tắc nhất định đối với phụ nữ là bắt buộc. Với những hạn chế nới lỏng trong thế kỷ 20 ở nhiều xã hội, phụ nữ đã tiếp cận được với sự nghiệp ngoài vai trò người nội trợ truyền thống và khả năng theo đuổi giáo dục đại học. Bạo lực đối với phụ nữ, cho dù trong gia đình hay trong cộng đồng, có một lịch sử lâu dài và chủ yếu do đàn ông gây ra. Một số phụ nữ bị từ chối quyền sinh sản. Các phong trào và ý thức hệ của nữ quyền có một mục tiêu chung là đạt được bình đẳng giới.1.1.2. Đặc điểm phụ nữ Việt NamNgày nay tuy chưa phải đã hết những định kiến, nghi ngại, thậm chí là kỳ thị, nhưng xét toàn diện, thì người quan sát trong và ngoài Việt Nam đều có sự thống nhất nhận xét về phụ nữ Việt Nam, cả về số lượng và chất lượng đóng góp đã gìn giữ và phát huy được vai trò đối với thực tiễn phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực thiết yếu.Từ phải đảm đương vai trò đối nội trong khuôn khổ gia đình, phụ nữ ngày nay còn tài cán với các trọng trách đối ngoại. Là một sự nghiệp không còn chỉ dành cho nam giới. Họ phải khẳng định giá trị, khả năng bằng sự nghiệp và tính vươn lên của bản thân. Khát vọng với sự nghiệp không đơn giản chỉ như thoát khỏi vòng cương tỏa từ khuôn khổ gia đình. Hơn thế nữa họ khẳng định vị thế như là những người đứng đầu tập đoàn, công ty doanh nghiệp, thậm chí là những lãnh đạo trong các tổ chức của chính phủ.Những thành tích của họ được xã hội ghi nhận và đánh giá cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục. Không ít nữ học sinh, sinh viên đạt giải cao trong các kỳ thi cấp quốc gia và quốc tế. Tầng lớp nữ trí thức có những công trình khoa học giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao: Số nữ Giáo sư chiếm tỷ lệ 3,5%; Phó giáo sư 5,9%; Tiến sĩ 12,6%; Tiến sĩ khoa học 5,1%; 19 nữ Anh hùng lao động, và nhiều Giải thưởng Kovalépscaia, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú. Tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội tăng qua các thời kỳ bầu cử (khóa I (1946 1960) là 3%, đến khóa XII (2007 – 2012) tăng lên là 25,76%). Ngành Giáo dục và Đào tạo từng có nữ bộ trưởng, và đương nhiệm thứ trưởng, và nhiều phụ nữ làm cán bộ quản lý các cấp Vụ, Viện, Sở, Phòng, Ban, các trường và các đơn vị giáo dục: Có 11 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 1.011 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú...Người phụ nữ Việt Nam tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau và có ảnh hưởng không nhỏ đối với giá trị và lợi ích của toàn xã hội. Được thể hiện thông qua các môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật...1.1.3. Văn hóa truyền thống phụ nữ Việt NamMặc dù bị ảnh hưởng không ít từ các nền văn hóa ngoại quốc trong suốt hàng nghìn năm bị đô hộ, phụ nữ Việt Nam vẫn giữ gìn được nét đẹp vốn rất riêng cho họ khi hiếm quốc gia nào có được. Xã hội càng ngày phát triển, con người càng văn minh nhưng những đức tính truyền thống của người phụ nữ từ nông thôn đến thành thị vẫn nguyên giá trị, đó chính là những vẻ đẹp trong gia đình, xã hội; vẻ đẹp người làm vợ, làm mẹ; vẻ đẹp nữ doanh nhân, ca sĩ, thi sĩ, diễn viên, hoa hậu, tri thức; vẻ đẹp ý nhị, lịch sự...Những nét đẹp hiện đại kết hợp nhuần nhuyễn với những đức tính truyền thống tạo nên dáng vẻ và tính cách mang ý nghĩa với bản chất thuần Việt, tiêu biểu cho các tầng lớp phụ nữ Á Đông.Tuy không thể đua với nam giới về sức vóc, tài trí, hay việc tranh đoạt trong thiên hạ nhưng vẫn nhiều công việc gia đình và xã hội cần đến người phụ nữ. Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận những hình ảnh thường ngày về người phụ nữ cổ truyền. Sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu, người phụ nữ ngày xưa tầm tơ canh cửi là chủ nhân của những bánh xe quay sợi bằng đất nung từ thời Lý. Họ lập được những kỷ lục về trồng dâu nuôi tằm với một năm tám lứa. Tơ lụa, sa the, lĩnh, láng mà nước ngoài chuộng mua phần lớn đều sản xuất ra từ những bàn tay khéo léo của họ. Hình ảnh người phụ nữ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, tần tảo làm lụng rất phổ biến ở các vùng làng quê Việt Nam là lực lượng lao động chính trong các mùa vụ sản xuất lương thực. Công việc của họ là làm đồng, làm gốm, chèo truyền, bán hàng, bật bông kéo sợi, dệt vải, may vá quần áo, ngoài ra họ còn là những nghệ sĩ sáng tác và hát dân ca, múa dân tộc...1.2. Vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội II. VẬN DỤNG2.1. Quan điểm của Đảng về công tác phụ nữĐối với phụ nữ và công tác phụ nữ, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới. Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em”. Đây chính là sự tiếp nối, phát triển quan điểm của Đảng về phụ nữ và công tác phụ nữ trong các kỳ đại hội trước, thể hiện rõ sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng đã từng được Bác Hồ khen ngợi: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”; đồng thời, cũng khẳng định sự quan tâm, trách nhiệm cũng như những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra để giải quyết các vấn đề về công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không thể không bao hàm khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ; bởi lẽ, phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số và gần một nửa lực lượng lao động cả nước, có mặt trong tất cả các lĩnh vực, ngành, nghề, khắp các vùng, miền của Tổ quốc. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam đã có những cống hiến, đóng góp to lớn, góp phần xây dựng và bảo vệ non sông gấm vóc của Tổ quốc, tạo dựng nên truyền thống vẻ vang: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.Phát huy cao độ truyền thống yêu nước và cách mạng của các thế hệ đi trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm, tạo điều kiện của Chính phủ, chính quyền các cấp, sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban, ngành, đoàn thể và toàn xã hội, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng góp xứng đáng vào thành tựu đổi mới và phát triển đất nước. Phụ nữ ngày càng thể hiện rõ ý thức, trách nhiệm công dân, tự tin, chủ động tham gia các hoạt động xã hội, lan tỏa tinh thần nhân ái trong các hoạt động thiện nguyện, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng thời, làm tốt vai trò người vợ, người mẹ, người thày đầu tiên, là điểm tựa tinh thần vững chắc, gắn kết các thành viên trong gia đình, cùng chung tay chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc.Bước vào thời kỳ đổi mới, phụ nữ Việt Nam có nhiều cơ hội để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhưng cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức, như vấn đề việc làm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đến cuộc sống, sinh kế của người dân; xu hướng di cư lao động tiềm ẩn nhiều hệ lụy tiêu cực đối với cuộc sống hôn nhân, gia đình; tình hình tội phạm liên quan đến phụ nữ, trẻ em ngày càng phức tạp, đa dạng, tinh vi; những tác động tiêu cực của mạng xã hội gây khó khăn cho giáo dục và định hướng giáo dục nhân cách, nhất là đối với trẻ em.Với vai trò là tổ chức đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, những năm qua, các cấp hội đã nỗ lực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, lấy nhu cầu thiết thân của phụ nữ làm cơ sở để xác định nội dung, hình thức hoạt động; mở rộng kết nối, tăng cường ảnh hưởng đối với phụ nữ và xã hội, đề cao tính chủ động, trách nhiệm của từng cấp và người đứng đầu trong công tác phụ nữ. Các hoạt động chăm lo, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc tiếp tục được đổi mới và đạt được nhiều kết quả quan trọng; vai trò chủ thể của phụ nữ trong gia đình và xã hội được nâng cao. Đặc biệt, các cấp hội quan tâm tuyên truyền, vận động phụ nữ phát huy truyền thống tốt đẹp, rèn luyện và lan tỏa những phẩm chất đạo đức “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ Việt Nam; khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, phát huy nội lực trong giải quyết những vấn đề của chính mình và gia đình, tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào công cuộc phát triển của địa phương, đất nước.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trong suốt quá trình phát triển của nhân loại nói chung và đất nước ta nói riêng, người phụ nữ luôn đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời Bên cạnh việc gìn giữ, phát huy vai trò “giữ lửa” trong mỗi gia đình, phụ nữ còn tích cực học tập, lao động, sản xuất, tham gia có trách nhiệm vào các hoạt động xã hội và có những đóng góp ý nghĩa

Phụ nữ khẳng định vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực hoạt động, như chính trị gia nổi tiếng, nhà lãnh đạo tài ba của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn, nhà khoa học xuất sắc, xứng đáng với danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”

Ở bất cứ thời kỳ nào, phụ nữ Việt Nam cũng luôn mang trong mình khát vọng vươn lên mạnh mẽ Nguồn năng lượng tiềm tàng ấy tạo thành sức mạnh vĩ đại, giúp phụ

nữ Việt Nam có những cống hiến, đóng góp to lớn, góp phần xây dựng, bảo vệ non sông gấm vóc của Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Tinh thần, khát vọng ấy cần được khơi dậy, phát huy để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong bối cảnh mới

Đối với phụ nữ và công tác phụ nữ, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc

tế Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ

có hoàn cảnh khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới Kiên quyết

xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ

nữ, trẻ em” Đây chính là sự tiếp nối, phát triển quan điểm của Đảng về phụ nữ và công tác phụ nữ trong các kỳ đại hội trước, thể hiện rõ sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng đã từng được Bác Hồ khen ngợi: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ

ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”; đồng thời, cũng khẳng định

sự quan tâm, trách nhiệm cũng như những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra để giải quyết các vấn đề về công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay Do vậy, qua quá trình học

tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay” để có cái nhìn xâu và rộng hơn.

Trang 3

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ

VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam

1.1.1 Khái niệm phụ nữ

Phụ nữ, nữ giới là từ chỉ giống cái của loài người Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ"

Thông thường, một phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X và có khả năng mang thai và sinh con từ tuổi dậy thì cho đến khi mãn kinh Giải phẫu phụ nữ, như phân biệt với giải phẫu nam, bao gồm ống dẫn trứng, buồng trứng, tử cung, âm hộ, vú, tuyến Skene và tuyến Bartholin Xương chậu của nữ rộng hơn nam giới, hông thường rộng hơn và phụ nữ

có khuôn mặt và lông trên cơ thể khác ít hơn đáng kể Xét về trung bình, phụ nữ có chiều cao thấp hơn và ít cơ bắp hơn nam giới

Trong suốt lịch sử loài người, vai trò giới truyền thống thường được xác định và hạn chế các hoạt động và cơ hội của phụ nữ; nhiều học thuyết tôn giáo quy định một số quy tắc nhất định đối với phụ nữ là bắt buộc Với những hạn chế nới lỏng trong thế kỷ 20

ở nhiều xã hội, phụ nữ đã tiếp cận được với sự nghiệp ngoài vai trò người nội trợ truyền thống và khả năng theo đuổi giáo dục đại học Bạo lực đối với phụ nữ, cho dù trong gia đình hay trong cộng đồng, có một lịch sử lâu dài và chủ yếu do đàn ông gây ra Một số phụ nữ bị từ chối quyền sinh sản Các phong trào và ý thức hệ của nữ quyền có một mục tiêu chung là đạt được bình đẳng giới

1.1.2 Đặc điểm phụ nữ Việt Nam

Ngày nay tuy chưa phải đã hết những định kiến, nghi ngại, thậm chí là kỳ thị, nhưng xét toàn diện, thì người quan sát trong và ngoài Việt Nam đều có sự thống nhất nhận xét về phụ nữ Việt Nam, cả về số lượng và chất lượng đóng góp đã gìn giữ và phát huy được vai trò đối với thực tiễn phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực thiết yếu

Từ phải đảm đương vai trò "đối nội" trong khuôn khổ gia đình, phụ nữ ngày nay còn tài cán với các trọng trách "đối ngoại" Là một sự nghiệp không còn chỉ dành cho nam giới Họ phải khẳng định giá trị, khả năng bằng sự nghiệp và tính vươn lên của bản thân Khát vọng với sự nghiệp không đơn giản chỉ như thoát khỏi vòng cương tỏa từ khuôn khổ gia đình Hơn thế nữa họ khẳng định vị thế như là những người đứng đầu tập đoàn, công ty doanh nghiệp, thậm chí là những lãnh đạo trong các tổ chức của chính phủ

Những thành tích của họ được xã hội ghi nhận và đánh giá cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục Không ít nữ học sinh, sinh viên đạt giải cao trong các

kỳ thi cấp quốc gia và quốc tế Tầng lớp nữ trí thức có những công trình khoa học giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao: Số nữ Giáo sư chiếm tỷ lệ 3,5%; Phó giáo sư 5,9%; Tiến sĩ

Trang 4

12,6%; Tiến sĩ khoa học 5,1%; 19 nữ Anh hùng lao động, và nhiều Giải thưởng Kovalépscaia, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú Tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội tăng qua các thời kỳ bầu cử (khóa I (1946- 1960) là 3%, đến khóa XII (2007 – 2012) tăng lên là 25,76%) Ngành Giáo dục và Đào tạo từng có nữ bộ trưởng, và đương nhiệm thứ trưởng,

và nhiều phụ nữ làm cán bộ quản lý các cấp Vụ, Viện, Sở, Phòng, Ban, các trường và các đơn vị giáo dục: Có 11 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 1.011 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú

Người phụ nữ Việt Nam tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau và có ảnh hưởng không nhỏ đối với giá trị và lợi ích của toàn xã hội Được thể hiện thông qua các môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật

1.1.3 Văn hóa truyền thống phụ nữ Việt Nam

Mặc dù bị ảnh hưởng không ít từ các nền văn hóa ngoại quốc trong suốt hàng nghìn năm bị đô hộ, phụ nữ Việt Nam vẫn giữ gìn được nét đẹp vốn rất riêng cho họ khi hiếm quốc gia nào có được Xã hội càng ngày phát triển, con người càng văn minh nhưng những đức tính truyền thống của người phụ nữ từ nông thôn đến thành thị vẫn nguyên giá trị, đó chính là những vẻ đẹp trong gia đình, xã hội; vẻ đẹp người làm vợ, làm mẹ; vẻ đẹp

nữ doanh nhân, ca sĩ, thi sĩ, diễn viên, hoa hậu, tri thức; vẻ đẹp ý nhị, lịch sự

Những nét đẹp hiện đại kết hợp nhuần nhuyễn với những đức tính truyền thống tạo nên dáng vẻ và tính cách mang ý nghĩa với bản chất thuần Việt, tiêu biểu cho các tầng lớp phụ nữ Á Đông

Tuy không thể đua với nam giới về sức vóc, tài trí, hay việc tranh đoạt trong thiên

hạ nhưng vẫn nhiều công việc gia đình và xã hội cần đến người phụ nữ Lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận những hình ảnh thường ngày về người phụ nữ cổ truyền "Sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu", người phụ nữ ngày xưa tầm tơ canh cửi là chủ nhân của những bánh xe quay sợi bằng đất nung từ thời Lý Họ lập được những kỷ lục về trồng dâu nuôi tằm với một năm tám lứa Tơ lụa, sa the, lĩnh, láng mà nước ngoài chuộng mua phần lớn đều sản xuất ra từ những bàn tay khéo léo của họ Hình ảnh người phụ nữ "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", tần tảo làm lụng rất phổ biến ở các vùng làng quê Việt Nam

là lực lượng lao động chính trong các mùa vụ sản xuất lương thực Công việc của họ là làm đồng, làm gốm, chèo truyền, bán hàng, bật bông kéo sợi, dệt vải, may vá quần áo, ngoài ra họ còn là những nghệ sĩ sáng tác và hát dân ca, múa dân tộc

1.2 Vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội

Trang 5

II VẬN DỤNG 2.1 Quan điểm của Đảng về công tác phụ nữ

Đối với phụ nữ và công tác phụ nữ, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc

tế Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ

có hoàn cảnh khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới Kiên quyết

xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ

nữ, trẻ em” Đây chính là sự tiếp nối, phát triển quan điểm của Đảng về phụ nữ và công tác phụ nữ trong các kỳ đại hội trước, thể hiện rõ sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng đã từng được Bác Hồ khen ngợi: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ

ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”; đồng thời, cũng khẳng định

sự quan tâm, trách nhiệm cũng như những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra để giải quyết các vấn đề về công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không thể không bao hàm khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ; bởi lẽ, phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số và gần một nửa lực lượng lao động cả nước, có mặt trong tất cả các lĩnh vực, ngành, nghề, khắp các vùng, miền của Tổ quốc Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam đã có những cống hiến, đóng góp to lớn, góp phần xây dựng và bảo vệ non sông gấm vóc của Tổ quốc, tạo dựng nên truyền thống vẻ vang: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”

Phát huy cao độ truyền thống yêu nước và cách mạng của các thế hệ đi trước, dưới

sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm, tạo điều kiện của Chính phủ, chính quyền các cấp, sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban, ngành, đoàn thể và toàn xã hội, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng góp xứng đáng vào thành tựu đổi mới và phát triển đất nước Phụ nữ ngày càng thể hiện rõ ý thức, trách nhiệm công dân, tự tin, chủ động tham gia các hoạt động xã hội, lan tỏa tinh thần nhân ái trong các hoạt động thiện nguyện, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng thời, làm tốt vai trò người vợ, người mẹ, người thày đầu tiên, là điểm tựa tinh thần vững chắc, gắn kết các thành viên trong gia đình, cùng chung tay chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc

Bước vào thời kỳ đổi mới, phụ nữ Việt Nam có nhiều cơ hội để hiện thực hóa khát vọng phát triển nhưng cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức, như vấn đề việc làm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đến cuộc sống, sinh kế của người dân; xu hướng di cư lao động tiềm ẩn nhiều hệ lụy tiêu cực đối với cuộc sống hôn nhân, gia đình; tình hình tội phạm liên quan đến phụ nữ, trẻ em ngày càng phức tạp, đa dạng, tinh vi; những tác động tiêu

Trang 6

cực của mạng xã hội gây khó khăn cho giáo dục và định hướng giáo dục nhân cách, nhất

là đối với trẻ em

Với vai trò là tổ chức đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, những năm qua, các cấp hội đã nỗ lực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, lấy nhu cầu thiết thân của phụ nữ làm cơ sở để xác định nội dung, hình thức hoạt động; mở rộng kết nối, tăng cường ảnh hưởng đối với phụ nữ và xã hội, đề cao tính chủ động, trách nhiệm của từng cấp và người đứng đầu trong công tác phụ nữ Các hoạt động chăm lo, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc tiếp tục được đổi mới và đạt được nhiều kết quả quan trọng; vai trò chủ thể của phụ nữ trong gia đình và xã hội được nâng cao Đặc biệt, các cấp hội quan tâm tuyên truyền, vận động phụ nữ phát huy truyền thống tốt đẹp, rèn luyện và lan tỏa những phẩm chất đạo đức “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ Việt Nam; khơi dậy ý chí tự lực,

tự cường, phát huy nội lực trong giải quyết những vấn đề của chính mình và gia đình, tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào công cuộc phát triển của địa phương, đất nước

2.2 Thưc trạng phong trào phụ nữ ở nước ta

2.2.1 Thành tựu

Trước hết, chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ nữ trong gia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùi cũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng luôn cảm thấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó

họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã hội Không chỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng Là người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực

sự là những tấm gương cho con cái noi theo Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ở bên con để hướng dẫn, động viên kịp thời Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm thấy ở những người phụ nữ, người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yên trong cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích

Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Ngày càng có nhiều người trở thành nhà lãnh đạo, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ, dịch vụ… Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở và tài sản Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành báo cáo về tình hình thực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) Đặc biệt,

hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được thành lập ở hầu hết các bộ, ngành và toàn bộ các tỉnh, thành phố trong cả nước Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt động hiệu quả, hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được tăng cường bằng Luật Bình đẳng giới

Trang 7

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận Dấu ấn rõ nét đó là chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện Năm 2020, Việt Nam được xếp vị trí thứ 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới Nhìn lại những con số thống kê qua các kỳ bầu cử cho thấy những thành quả quan trọng mà cả hệ thống chính trị đã quyết tâm thực hiện trong lĩnh vực tham chính của phụ nữ,… Kết quả bầu cử Đại biểu quốc hội khóa XV tỷ lệ đại biểu

là nữ đạt 30,26% và đây cũng là lần đầu tiên từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá VI trở lại đây, tỷ

lệ đại biểu Quốc hội là phụ nữ đạt trên 30% Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước) Việc bố trí lãnh đạo nữ trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40% Đây là minh chứng cho thấy sự ưu việt trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người của Đảng, Nhà nước ta và cũng cho thấy sự vươn lên của phụ nữ Việt Nam, đưa vị thế phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội đứng thứ hai khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đứng thứ 6

ở châu Á Tại Đại hội XIII, trong số Ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có

18 đại biểu nữ, tăng 01 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII Trong 63 bí thư tỉnh ủy, thành

ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có tới 9 người là nữ thuộc các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và

An Giang Đây là số lượng nữ bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2% Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.[6] Trong bộ máy hành chính nhà nước cấp Trung ương và địa phương tính đến hết tháng 7-2020, tỷ lệ các

bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ (30) có lãnh đạo nữ đạt 36,6% (11/30)

Như vậy có thể nói, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn, phá

vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình, giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác; đồng thời tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động…

2.2.2 Hạn chế

Mặc dù những kết quả đạt được trong lĩnh vực bình đẳng giới rất đáng ghi nhận Tuy nhiên, đánh giá tổng thể thì những kết quả đạt được trong bình đẳng giới nói chung

và trong lĩnh vực tham chính nói riêng chưa bền vững, thiếu ổn định Trên thực tế khá nhiều quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước chưa thực sự đi vào cuộc sống ở cả cấp Trung ương, bộ, ngành, địa phương Quy định về tỷ lệ phụ nữ tham chính trong xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước không được bảo đảm ở nhiều địa phương Báo cáo tóm tắt việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới của Chính phủ, năm 2017, đánh giá việc triển khai thực hiện 22 chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về

Trang 8

bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 còn có 8 chỉ tiêu dự kiến sẽ đạt vào năm 2020 và có

2 chỉ tiêu thực hiện trong nhiệm kỳ 2016 - 2021 không đạt, gồm: Chỉ tiêu nữ tham gia các cấp ủy, đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp và chỉ tiêu lãnh đạo chủ chốt là nữ”(6) Thực

tế đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm

kỳ 2021-2026 vừa qua cho thấy nhiều địa phương, đơn vị không đạt tỷ lệ nữ theo quy định Trong khi Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, quy định việc: “Cấp uỷ các cấp và người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí, tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số Xây dựng chỉ tiêu

cơ cấu phù hợp, nếu chưa bảo đảm chỉ tiêu cơ cấu thì phải để trống, bổ sung sau; gắn việc thực hiện chỉ tiêu với trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu" Sự hiện diện của phụ

nữ trong Đảng, trong Quốc hội, Chính phủ và hệ thống chính trị các cấp khá khiêm tốn so với tiềm năng và nguồn lực giới nữ, đặc biệt cấp cán bộ chiến lược Các nghiên cứu về sự tham chính của phụ nữ ở Việt Nam trong vài thập kỷ qua đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thực tế sự tham chính của phụ nữ còn thấp và xu hướng tăng chưa bền vững là

do yếu tố văn hoá truyền thống/Chuẩn mực giới/Định kiến giới/mô hình phân công lao động theo truyền thống và quá trình thực thi chính sách công về bình đẳng giới trong tham chính chưa hiệu quả, vẫn còn nhiều khoảng trống giữa chính sách và thực tiễn

Sự thiếu ổn định và bền vững trong trong trao quyền cho phụ nữ được thể hiện như tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội chưa đạt mục tiêu đề ra; Nữ uỷ viên BCH Trung ương khoá XIII chỉ đạt 9.5%; nhiều tỉnh còn có khoảng trống quyền lực theo giới trong cơ cấu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ hiệu ứng “Nam trưởng nữ phó” có tính phổ biến trong các cấp lãnh đạo ở Việt Nam được duy trì từ nhiều thập kỷ qua Tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương, chỉ có 2/22 (chiếm 4,55%) nữ bộ trưởng và tương đương trong nhiệm kỳ

2011 – 2016; nhiệm kỳ 2021-2026 vẫn giữ 2/22 nữ bộ trưởng; nữ thứ trưởng và tương đương là 11/142 (chiếm 7,7%) Tỷ lệ nữ vụ trưởng và tương đương đạt 7,8%, nữ vụ phó

và tương đương đạt 13,4% Tòa án nhân dân tối cao không có nữ lãnh đạo chủ chốt Trong khối mặt trận và đoàn thể (trừ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) chỉ có 4/21 cấp phó là nữ, không có cấp trưởng là nữ ở các cơ quan Trung ương của Mặt trận Tổ quốc[8]

Và đây chính là những khoảng trống cần sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong hoạch định và thực thi chính sách bình đẳng giới trong chính trị

2.2.3 Bài học kinh nghiệm

Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn trong giai đoạn tới và thực trạng các vấn đề liên quan phụ nữ và công tác phụ nữ hiện nay, cần tập trung phát triển toàn diện phụ nữ và nguồn nhân lực nữ, đặc biệt là nhân lực nữ chất lượng cao Ðồng thời quan tâm đến nhóm phụ nữ khó khăn, phụ nữ Dân tộc thiểu số, miền núi Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công tác phụ nữ trong tình hình mới, tổ chức lãnh đạo, xây dựng các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể, tạo bước chuyển biến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả công tác phụ nữ ở từng ngành, địa phương, đơn vị Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về giới và ý thức trách nhiệm thực hiện

Trang 9

bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân Xây dựng trong toàn xã hội thái độ tôn trọng, tôn vinh, bảo vệ phụ nữ; phong cách ứng xử văn minh, văn hóa đối với phụ nữ; phê phán, đấu tranh chống tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối

xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam các cấp cần làm tốt hơn nữa việc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, phụ nữ Tuyên truyền, vận động phụ

nữ thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước, nhất là tại những địa bàn triển khai các chương trình, dự án có tác động lớn đến đời sống nhân dân Bồi dưỡng, giới thiệu nguồn cán bộ nữ cho Ðảng; kết nối, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ

nữ Chủ động rà soát chính sách, quy định hiện hành và nghiên cứu thực tiễn các vấn đề của phụ nữ, trẻ em gái, bình đẳng giới và gia đình trong bối cảnh hội nhập làm cơ sở đề xuất chính sách về lao động nữ, an sinh xã hội, cán bộ nữ, phát triển tài năng nữ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, chính sách cho một số đối tượng đặc thù Tham gia sơ kết, tổng kết các nghị quyết và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới;

Phát triển toàn diện phụ nữ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ chất lượng cao có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước nói chung, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, góp phần đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

2.3 Giải pháp phát huy vai trò và vị thế phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay

Có thể khẳng định, phụ nữ Việt Nam luôn có ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống của dân tộc, chủ động, sáng tạo hưởng ứng các phong trào thi đua của đất nước và của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, chăm lo, vun đắp hạnh phúc gia đình, nỗ lực vươn lên trong cuộc sống Họ càng ngày càng có vai trò, vị thế quan trọng, tham gia tích cực trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngay cả những lĩnh vực mà lâu nay vẫn được coi là lãnh địa của nam giới, như khoa học - kỹ thuật, thể thao thành tích cao, tham gia sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, Với vai trò là tổ chức đại diện, các cấp hội quyết tâm phấn đấu đoàn kết, vừa đồng hành, vừa hỗ trợ để phụ nữ phát huy thế mạnh của mình, thực hiện khát vọng vươn lên trong hành trình thực hiện khát vọng phát triển đất nước của cả dân tộc, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Hiện nay, các cấp hội đang tích cực chuẩn bị cho đại hội phụ nữ các cấp, nhiệm kỳ

2021  - 2026, tiến tới Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII vào năm 2022 Trong quá trình chuẩn bị Đại hội, cán bộ, hội viên, phụ nữ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước sẽ thảo luận dân chủ, rộng rãi để xác định mục tiêu các phong trào thi đua, cuộc vận động, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong công tác phụ nữ, phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng cũng như chuyển đổi sang nền kinh tế

số Dù là phong trào hay cuộc vận động nào cũng đều là sự đồng hành của tổ chức hội để

hỗ trợ, hướng dẫn và tiếp tục khơi dậy khát vọng vươn lên của các tầng lớp phụ nữ Việt

Trang 10

Nam trong hành trình thực hiện khát vọng phát triển đất nước hùng cường Các cấp hội sẽ tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác chỉ đạo các hoạt động vì sự an toàn cho phụ nữ và trẻ em, mang đến niềm vui, niềm hạnh phúc cho mỗi phụ nữ, trẻ em và mỗi gia đình; đồng thời, góp phần thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chăm lo cuộc sống của người dân và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Để thực hiện được sứ mệnh ấy, trước hết, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nghiêm túc quán triệt sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tới cán bộ, hội viên và các tầng lớp phụ nữ cả nước; cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội vào nội dung văn kiện đại hội phụ nữ các cấp; tập trung xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với những biện pháp cụ thể để đưa tư tưởng, quan điểm, chủ trương của Đảng vào cuộc sống; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục các tầng lớp phụ nữ thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy sức mạnh, thế mạnh của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực; đồng thời, chăm lo bảo vệ phẩm giá, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ

Hai là, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sẽ tiếp tục tổ chức và nâng cao chất lượng, tính thiết thực, hiệu quả các phong trào thi đua, các cuộc vận động để thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ tham gia, đóng góp công sức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cũng như chủ động giải quyết những vấn đề của chính phụ nữ ngay từ cơ sở

Ba là, tiếp tục làm tốt việc tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc; thúc đẩy các hoạt động trao quyền năng cho phụ nữ, nhất là trong lĩnh vực kinh tế; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, kinh doanh của phụ nữ trong kỷ nguyên số; phối hợp thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ chất lượng cao

Bốn là, tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân; đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng Tập trung bồi dưỡng, giáo dục, động viên hội viên, các tầng lớp phụ nữ phát huy quyền làm chủ, tích cực thực hiện có hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia các hoạt động chính trị - xã hội với đầy đủ trách nhiệm của người làm chủ

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hội các cấp, đáp ứng yêu cầu công tác hội trong giai đoạn mới phù hợp với yêu cầu của chủ trương về tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy

và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Xây dựng đội ngũ cán bộ hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có tư duy sáng tạo, nhiệt tình, tâm huyết với công tác hội; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đổi mới trong phương pháp vận động phụ nữ Kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn giới thiệu những người có đủ tiêu chuẩn tham gia

Ngày đăng: 10/01/2023, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w