1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ việt nam trong xã hội hiện nay.

17 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Vai Trò, Vị Thế Của Phụ Nữ Việt Nam Trong Xã Hội Hiện Nay
Trường học Trường Đại học Xã Hội & Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 41,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHỤ NỮU VÀ VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 2 1 1 Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam 2 1 1 1 Khái niệm phụ.MỤC LỤCMỞ ĐẦU1NỘI DUNG2I.MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHỤ NỮU VÀ VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI21.1. Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam21.1.1. Khái niệm phụ nữ21.1.2. Đặc điểm phụ nữ Việt Nam21.2. Vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội31.2.1. Thực trạng vai trò và vị thế của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay31.2.2. Đánh giá thực trạng vai trò và vị thế của phụ nữu Việt Nam4II. VỊ THẾ, VAI TRÒ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY52.1. Quan điểm của Đảng về công tác phụ nữ52.2. Thực trạng phong trào phụ nữ ở nước ta72.2.1. Thành tựu72.2.2. Hạn chế82.2.3. Bài học kinh nghiệm92.3. Một số giải pháp nâng cao vị thế phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay102.3.1. Nhóm giải pháp về chủ trương, đường lối, chính sách102.3.2. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của gia đình, xã hội và của cả hệ thống chính trị đối với công tác cán bộ nữ112.3.3. Nhóm giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực của bản thân phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội12KẾT LUẬN15TÀI LIỆU THAM KHẢO16  MỞ ĐẦUTừ xa xưa, trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phụ nữ là lực lượng cơ bản, luôn giữ vị trí quan trọng. Với bản lĩnh phi thường, chí kiên cường, bất khuất, phụ nữ Việt Nam đã có những cống hiến to lớn, sẵn sàng cùng nam giới đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, góp phần xây dựng lên truyền thống vẻ vang của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.Ở khu vực Á Đông, hiếm dân tộc nào phụ nữ lại có vai trò quan trọng trong xã hội như ở Việt Nam. Nữ giới Việt Nam luôn thể hiện tinh thần làm chủ, ý thức cộng đồng, năng lực chủ động, tích cực khi “gánh vác” vai trò quan trọng trong lao động sản xuất và chăm lo đời sống gia đình, xứng đáng với tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” mà Đảng, Chính phủ, Bác Hồ đã trao tặng.Đảng, nhà nước ta luôn ghi nhận những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam và đã sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định để họ vươn lên, khẳng định vị thế của mình.Trong xã hội hiện nay, vị thế của phụ nữ Việt Nam ngày càng được cải thiện, về cơ bản nữ giới đã được hưởng các cơ hội bình đẳng như nam giới. Vị thế của Phụ nữ Việt Nam được đánh giá thuộc nhóm có thứ hạng cao trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung. Tuy nhiên, vị thế đó chưa xứng tầm với những đóng góp, cống hiến của họ cho sự phát triển của xã hội. Tỷ lệ cán bộ nữ giữ chức danh chủ chốt trong các cơ quan nhà nước còn thấp, sự hiện diện trong những vị trí chủ chốt còn mờ nhạt. Cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao bị hạn chế so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, chênh lệch thu nhập…Từ thực tế nêu trên, yêu cầu bức thiết đặt ra là cần có những giải pháp hữu ích góp phần nâng cao tỷ lệ nữ cán bộ quản lý, lãnh đạo trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội để vị thế của phụ nữ Việt Nam xứng tầm với vai trò và những đóng góp lớn lao của họ. Do đó qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay”. NỘI DUNGI.MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHỤ NỮU VÀ VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI1.1. Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam1.1.1. Khái niệm phụ nữPhụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.Phụ nữ, phân biệt với đàn ôngnam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người.Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái, với bộ nhiễm sắc thể giới tính XX.Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với phụ nữ, đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn. Một số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái...Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng.1.1.2. Đặc điểm phụ nữ Việt NamTrong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, con người Việt Nam đã hình thành những phẩm chất tốt đẹp, đó là tinh thần anh dũng, kiên cường, tạo nên sức mạnh dân tộc để tồn tại, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù.Trong tiến trình lịch sử đó, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy những giá trị bản sắc của dân tộc ta từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sự đóng góp thầm lặng ấy đã dần kết tinh thành những phẩm chất đạo đức tuyệt vời của người phụ nữ Việt Nam thời đại mới: “Tự tin Tự trọng Trung hậu Đảm đang”.“Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” luôn là phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp, thể hiện vai trò làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ, đồng thời khẳng định vị thế của các chị trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, việc phát huy những phẩm chất đạo đức ấy càng có ý nghĩa hơn, giúp người phụ nữ nhanh chóng thích nghi với yêu cầu của thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Với những phẩm chất cao quý đó, các chị sẽ vượt qua những thách thức, khó khăn để trở thành người phụ nữ thành công trong công việc và cuộc sống của mình.Một trong những phẩm chất đạo đức quý giá của người phụ nữ là tự tin. Phụ nữ ngày nay tự tin vào bản thân, bình đẳng với nam giới, biết tự đánh giá ưu nhược điểm của bản thân, dám nhận những nhiệm vụ khó để rồi từ đó nỗ lực và vượt khó để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Để có được thành quả đó, các chị đã phải nỗ lực rất nhiều trong học tập, lao động sáng tạo, không ngừng học hỏi, bồi dưỡng trí tuệ, tích lũy tri thức để ngày càng hoàn thiện chính mình.Tự trọng chính là một yếu tố nền tảng quan trọng nhất để làm nên giá trị và nhân cách của con người chân chính. Nói đến phẩm chất tự trọng của người phụ nữ Việt Nam thì đó chính là việc coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình. Người phụ nữ trong thời kì mới luôn có phẩm chất tự trọng để yêu nước, thực hiện tốt nghĩa vụ của công dân và không làm ảnh hưởng xấu đến đất nước, cơ quan, đoàn thể. Đồng thời, vẻ đẹp đằm thắm, giàu nữ tính cũng tạo nên bản lĩnh riêng cho mỗi người phụ nữ, trí tuệ được nâng cao tỏa ra từ lòng nhân hậu, khoan dung của mỗi người.1.2. Vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội1.2.1. Thực trạng vai trò và vị thế của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nayTừ xưa đến nay, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, phụ nữ Việt Nam luôn thực hiện tốt sứ mệnh, vai trò của mình. Với lý trí và sự quyết tâm học hỏi, rèn luyện để trở thành người có văn hóa, có tri thức, có kỹ năng sống, có sức khoẻ tốt, phụ nữ Việt Nam đã luôn biết cách cân bằng giữa trách nhiệm gia đình với việc tham gia các hoạt động xã hội. Trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại, phụ nữ Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng sáng tạo để thực hiện tốt chức năng “kép” “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.Thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ Việt Nam có ảnh hưởng to lớn đến hạnh phúc và sự ổn định của gia đình. Họ luôn là bạn đồng hành trên đường đời, là hậu phương vững chắc đem đến sự thành đạt của người chồng “Đằng sau sự thành đạt của người đàn ông là bóng dáng của người phụ nữ” .Người phụ nữ còn có vai trò đặc biệt trong việc thực hiện chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống và nuôi dạy con cái. Không chỉ chăm lo cái ăn, cái mặc cho con cái, mẹ còn là người thầy đầu tiên của con, giáo dục và theo dõi sự trưởng thành của con: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ, đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con” .Trong xã hội hiện đại, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò là “trụ cột” thứ hai trong gia đình. Họ đã cùng với nam giới chia sẻ trách nhiệm kinh tế, tổ chức tốt cuộc sống vật chất cho gia đình, “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực như việc lái các con tàu vũ trụ Phương đông”. Đồng thời, người phụ nữ trở thành linh hồn cho những giá trị văn hóa, truyền thống, là tâm điểm tình cảm của cả gia đình, biến mỗi căn nhà trở thành tổ ấm, nơi sum vầy, chia sẻ yêu thương để mỗi thành viên phát huy tối đa năng lực, đạt được những kết quả tốt nhất trong lao động và học tập.Hòa cùng xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, người phụ nữ Việt Nam không còn thu mình trong vỏ bọc gia đình, không bị dồn nén vào khuôn khổ chật hẹp của đời sống gia đình mà họ vững vàng bước ra xã hội với bản lĩnh, trí tuệ và sự nỗ lực không ngừng của bản thân, đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng của mình trên nhiều lĩnh vực.Bàn tay, khối óc và trái tim của nữ giới Việt Nam đã tạo nên những chiến công tuyệt vời trong đời sống xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế, phụ nữ đã tạo ra khối lượng hàng hóa khổng lồ, 24% tổng số doanh nghiệp nhà nước do phụ nữ làm chủ 6. Ở bất kỳ địa vị công tác nào, phụ nữ Việt Nam cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn, biết lắng nghe, dân chủ trong lãnh đạo, quản lý, có khả năng thuyết phục, tác phong sâu sát, liêm khiết, ít tham nhũng, độ tin cậy của xã hội cao.Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, sự đồng thuận của xã hội và sự nỗ lực của bản thân nữ giới đã tác động, nâng tầm vị thế của phụ nữ Việt Nam. Phụ nữ Việt Nam đã có tổ chức chính trị xã hội riêng là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.Số lượng phụ nữ Việt Nam tham gia trong tổ chức Đảng ngày càng gia tăng. Năm 2011, mới có 0114 nữ ủy viên bộ chính trị, năm 2013 là 0214 nữ ủy viên bộ chính trị và hiện nay số ủy viên bộ chính trị là 0319 nữ ủy viên bộ chính trị. Ở cấp tỉnh nhiệm kỳ 2016 2020 có 7 nữ Bí thư, 14 nữ Phó Bí thư. Sự tham gia của phụ nữ trong tổ chức Đảng là một chỉ báo rất quan trọng về vị thế của phụ nữ trong nền chính trị hiện đạiCùng sự phát triển của phụ nữ tham gia trong tổ chức Đảng, tỷ lệ cán bộ nữ trong hệ thống chính quyền cũng ngày càng gia tăng. Quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; Thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng” thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên. Cụ thể: Từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 2016) và tỷ lệ này là 26,72% ở khóa XIV (2016 2021). Ở cấp tỉnh, có 8 nữ Chủ tịch, 31 nữ Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND), 18 nữ Phó Chủ tịch UBND cùng nhiều nữ cán bộ đảm nhiệm các vị trí trọng trách ở Trung ương và địa phương.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Từ xa xưa, trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phụ nữ là lực lượng cơ bản, luôn giữ vị trí quan trọng Với bản lĩnh phi thường, chí kiên cường, bất khuất, phụ nữ Việt Nam đã

có những cống hiến to lớn, sẵn sàng cùng nam giới đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc,

tự do, hạnh phúc cho nhân dân, góp phần xây dựng lên truyền thống vẻ vang của dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”

Ở khu vực Á Đông, hiếm dân tộc nào phụ nữ lại có vai trò quan trọng trong xã hội như ở Việt Nam Nữ giới Việt Nam luôn thể hiện tinh thần làm chủ, ý thức cộng đồng, năng lực chủ động, tích cực khi “gánh vác” vai trò quan trọng trong lao động sản xuất và chăm lo đời sống gia đình, xứng đáng với tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” mà Đảng, Chính phủ, Bác Hồ đã trao tặng

Đảng, nhà nước ta luôn ghi nhận những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam và

đã sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định để họ vươn lên, khẳng định vị thế của mình

Trong xã hội hiện nay, vị thế của phụ nữ Việt Nam ngày càng được cải thiện, về cơ bản nữ giới đã được hưởng các cơ hội bình đẳng như nam giới Vị thế của Phụ nữ Việt Nam được đánh giá thuộc nhóm có thứ hạng cao trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung Tuy nhiên, vị thế đó chưa xứng tầm với những đóng góp, cống hiến của họ cho sự phát triển của xã hội Tỷ lệ cán bộ nữ giữ chức danh chủ chốt trong các cơ quan nhà nước còn thấp, sự hiện diện trong những vị trí chủ chốt còn mờ nhạt Cơ hội để phụ

nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao bị hạn chế so với nam giới, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, chênh lệch thu nhập…

Từ thực tế nêu trên, yêu cầu bức thiết đặt ra là cần có những giải pháp hữu ích góp phần nâng cao tỷ lệ nữ cán bộ quản lý, lãnh đạo trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội

để vị thế của phụ nữ Việt Nam xứng tầm với vai trò và những đóng góp lớn lao của họ

Do đó qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay”.

Trang 3

NỘI DUNG

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHỤ NỮU VÀ VAI TRÒ VÀ VỊ

THẾ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 1.1 Khái niệm và đặc điểm của phụ nữ Việt Nam

1.1.1 Khái niệm phụ nữ

Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường

Phụ nữ, phân biệt với đàn ông/nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người

Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái, với bộ nhiễm sắc thể giới tính XX

Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "phụ nữ", đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn Một số từ tiêu biểu hay gặp

là đàn bà, phụ nữ, con gái

Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng

1.1.2 Đặc điểm phụ nữ Việt Nam

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, con người Việt Nam đã hình thành những phẩm chất tốt đẹp, đó là tinh thần anh dũng, kiên cường, tạo nên sức mạnh dân tộc để tồn tại, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù

Trong tiến trình lịch sử đó, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy những giá trị bản sắc của dân tộc ta từ thế hệ này qua thế hệ khác Sự đóng góp thầm lặng ấy đã dần kết tinh thành những phẩm chất đạo đức tuyệt vời của người phụ nữ Việt Nam thời đại mới: “Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang”

“Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” luôn là phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp, thể hiện vai trò làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ, đồng thời khẳng định vị thế của các chị trong gia đình, cộng đồng và xã hội Trong giai đoạn hiện nay, việc phát huy những phẩm chất đạo đức ấy càng có ý nghĩa hơn, giúp người phụ nữ nhanh chóng thích nghi với yêu cầu của thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Với những phẩm chất cao quý đó, các chị sẽ vượt qua những thách thức, khó khăn để trở thành người phụ nữ thành công trong công việc và cuộc sống của mình

Một trong những phẩm chất đạo đức quý giá của người phụ nữ là tự tin Phụ nữ ngày nay tự tin vào bản thân, bình đẳng với nam giới, biết tự đánh giá ưu nhược điểm của

Trang 4

bản thân, dám nhận những nhiệm vụ khó để rồi từ đó nỗ lực và vượt khó để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Để có được thành quả đó, các chị đã phải nỗ lực rất nhiều trong học tập, lao động sáng tạo, không ngừng học hỏi, bồi dưỡng trí tuệ, tích lũy tri thức để ngày càng hoàn thiện chính mình

Tự trọng chính là một yếu tố nền tảng quan trọng nhất để làm nên giá trị và nhân cách của con người chân chính Nói đến phẩm chất tự trọng của người phụ nữ Việt Nam thì đó chính là việc coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình Người phụ nữ trong thời kì mới luôn có phẩm chất tự trọng để yêu nước, thực hiện tốt nghĩa vụ của công dân và không làm ảnh hưởng xấu đến đất nước, cơ quan, đoàn thể Đồng thời, vẻ đẹp đằm thắm, giàu nữ tính cũng tạo nên bản lĩnh riêng cho mỗi người phụ nữ, trí tuệ được nâng cao tỏa ra từ lòng nhân hậu, khoan dung của mỗi người

1.2 Vai trò, vị thế của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội

1.2.1 Thực trạng vai trò và vị thế của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Từ xưa đến nay, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, phụ nữ Việt Nam luôn thực hiện tốt sứ mệnh, vai trò của mình Với lý trí và sự quyết tâm học hỏi, rèn luyện để trở thành người có văn hóa, có tri thức, có kỹ năng sống, có sức khoẻ tốt, phụ nữ Việt Nam đã luôn biết cách cân bằng giữa trách nhiệm gia đình với việc tham gia các hoạt động xã hội Trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại, phụ nữ Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng sáng tạo để thực hiện tốt chức năng “kép”- “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”

Thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ Việt Nam có ảnh hưởng to lớn đến hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Họ luôn là bạn đồng hành trên đường đời, là hậu phương vững chắc đem đến sự thành đạt của người chồng “Đằng sau sự thành đạt của người đàn ông là bóng dáng của người phụ nữ”

Người phụ nữ còn có vai trò đặc biệt trong việc thực hiện chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống và nuôi dạy con cái Không chỉ chăm lo cái ăn, cái mặc cho con cái, mẹ còn

là người thầy đầu tiên của con, giáo dục và theo dõi sự trưởng thành của con: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ, đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”

Trong xã hội hiện đại, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò là “trụ cột” thứ hai trong gia đình Họ đã cùng với nam giới chia sẻ trách nhiệm kinh tế, tổ chức tốt cuộc sống vật chất cho gia đình, “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực như việc lái các con tàu vũ trụ Phương đông” Đồng thời, người phụ nữ trở thành linh hồn cho những giá trị văn hóa, truyền thống, là tâm điểm tình cảm của cả gia đình, biến mỗi căn nhà trở thành tổ ấm, nơi sum vầy, chia sẻ yêu thương để mỗi thành viên phát huy tối đa năng lực, đạt được những kết quả tốt nhất trong lao động và học tập

Hòa cùng xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, người phụ nữ Việt Nam không còn thu mình trong vỏ bọc gia đình, không bị dồn nén vào khuôn khổ chật hẹp của đời sống gia đình mà họ vững vàng bước ra xã hội với bản lĩnh, trí tuệ và sự nỗ lực không

Trang 5

ngừng của bản thân, đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng của mình trên nhiều lĩnh vực

Bàn tay, khối óc và trái tim của nữ giới Việt Nam đã tạo nên những chiến công tuyệt vời trong đời sống xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, phụ nữ đã tạo ra khối lượng hàng hóa khổng lồ, 24% tổng số doanh nghiệp nhà nước do phụ nữ làm chủ [6] Ở bất kỳ địa vị công tác nào, phụ nữ Việt Nam cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn, biết lắng nghe, dân chủ trong lãnh đạo, quản lý, có khả năng thuyết phục, tác phong sâu sát, liêm khiết, ít tham nhũng, độ tin cậy của xã hội cao

Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, sự đồng thuận của xã hội và

sự nỗ lực của bản thân nữ giới đã tác động, nâng tầm vị thế của phụ nữ Việt Nam Phụ nữ Việt Nam đã có tổ chức chính trị xã hội riêng là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Số lượng phụ nữ Việt Nam tham gia trong tổ chức Đảng ngày càng gia tăng Năm

2011, mới có 01/14 nữ ủy viên bộ chính trị, năm 2013 là 02/14 nữ ủy viên bộ chính trị và hiện nay số ủy viên bộ chính trị là 03/19 nữ ủy viên bộ chính trị Ở cấp tỉnh nhiệm kỳ

2016 - 2020 có 7 nữ Bí thư, 14 nữ Phó Bí thư Sự tham gia của phụ nữ trong tổ chức Đảng là một chỉ báo rất quan trọng về vị thế của phụ nữ trong nền chính trị hiện đại

Cùng sự phát triển của phụ nữ tham gia trong tổ chức Đảng, tỷ lệ cán bộ nữ trong

hệ thống chính quyền cũng ngày càng gia tăng Quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; Thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng” thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên Cụ thể: Từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 - 2016) và tỷ lệ này là 26,72% ở khóa XIV (2016 - 2021) Ở cấp tỉnh, có 8 nữ Chủ tịch, 31 nữ Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND), 18 nữ Phó Chủ tịch UBND cùng nhiều nữ cán bộ đảm nhiệm các vị trí trọng trách ở Trung ương và địa phương

1.2.2 Đánh giá thực trạng vai trò và vị thế của phụ nữu Việt Nam

Qua một số dữ liệu nêu trên, chúng ta có thể khẳng định, quyền tham gia chính trị của phụ nữ Việt Nam ngày càng được nâng cao Đây là tiêu chí quan trọng thể hiện vị thế ngày càng lớn của phụ nữ Việt Nam Vì quyền chính trị là cơ sở, nền tảng để đảm bảo thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Vị thế xã hội của phụ nữ được cải thiện là điều kiện tiến tới xóa bỏ khoảng cách giới Tổ chức UNDP của Liên Hợp quốc tại Việt nam đã ghi nhận: “Việt Nam có thể tự hào về những thành quả của mình trên bước đường tiến tới sự bình đẳng về giới Những thành quả này, một phần nhờ sự cam kết chính trị của Chính phủ Việt Nam, mở đầu bằng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò và tiềm năng của phụ nữ”

Nói tóm lại, phụ nữ Việt Nam đã tham gia hoạt động trong tất cả các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của hệ thống chính trị Việt Nam nhưng tỷ lệ và chất lượng tham chính của phụ nữ chưa cao, còn nhiều hạn chế so với khả năng, trí tuệ và những đóng góp của

họ Cơ hội tham gia chức vụ lãnh đạo của nữ giới vẫn còn thiếu bình đẳng Trong quá

Trang 6

trình tham gia lãnh đạo, quản lý, phụ nữ xuất hiện rất ít ở các vị trí cao nhất trong các thang bậc lãnh đạo Đặc biệt, theo cơ cấu cứng, tỷ lệ nam, nữ trong công tác lãnh đạo đã tạo nên một “hội chứng” cấp phó đối với nữ giới Công việc mà phụ nữ tham gia đảm nhiệm quản lý, lãnh đạo chủ yếu ở lĩnh vực văn hóa, xã hội, đoàn thể Còn trong các quyết định chính trị thường vắng bóng ảnh hưởng của phụ nữ Phụ nữ tham gia làm các công việc mang tính thừa hành, tham mưu và giúp việc cho nam giới Phụ nữ gặp nhiều trở ngại trong quá trình thăng tiến quyền lực chính trị, thiếu thời gian, thiếu đào tạo và thông tin, thiếu tự tin, thiếu tiền bạc, thiếu sự ủng hộ, thiếu động cơ tinh thần, thiếu mạng lưới và tinh thần đoàn kết giữa phụ nữ

Như vậy, theo thời gian, địa vị xã hội của người phụ nữ Việt Nam đã có sự thay đổi vượt trội Tuy nhiên vẫn tồn tại sự chênh lệch khá lớn giữa vai trò và vị thế xã hội của phụ nữ Việt Nam Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này gồm cả nguyên nhân khách quan

và nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân khách quan:

Mặc dù Đảng, Nhà nước và chính quyền ở địa phương đã có nhiều kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Song các biện pháp tổ chức thực hiện nhiều khi còn chưa khoa học Cơ chế, chính sách tạo nguồn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ chưa có tính chiến lược lâu dài, thiếu tính đột phá Dự nguồn các chức danh lãnh đạo chưa thực sự được chú trọng, điều này dẫn tới thiếu hụt nguồn cán bộ nữ

kế cận Định kiến giới cũng là một rào cản đối với sự phấn đấu của phụ nữ, có một bộ phận không nhỏ nhân dân chưa thực sự ủng hộ cho phụ nữ và cán bộ nữ Chính yếu tố này cũng đã kìm hãm sự phát triển vị thế của phụ nữ

Nguyên nhân chủ quan:

Ý thức phấn đấu của người cán bộ nữ là một thước đo để tổ chức đánh giá, cất nhắc, bổ nhiệm, đề bạt vào các vị trí lãnh đạo Trước vai trò kép, tiêu chuẩn kép, nghĩa vụ kép thì ý trí tự phấn đấu của người phụ nữ có một ý nghĩa quan trọng, là điều kiện tiên quyết nâng cao vị thế cho phụ nữ Nhận thức được điều đó, phụ nữ Việt Nam đã có ý thức tự rèn luyện, phấn đấu, có nhiều tiến bộ, nhưng ý chí phấn đấu đó chưa đồng đều, thường xuyên

Yêu cầu cấp bách đặt ra là Đảng, Nhà nước, xã hội và bản thân mỗi người phụ nữ cần phải có những giải pháp, hành động cụ thể để nâng cao vị thế của phụ nữ trong đời sống chính trị nói riêng và đời sống xã hội nói chung để tương xứng với trí tuệ, bản lĩnh

và vai trò của phụ nữ

II VỊ THẾ, VAI TRÒ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY 2.1 Quan điểm của Đảng về công tác phụ nữ

Thực tiễn cho thấy, hơn 30 năm qua phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ và đạt hiệu quả cao hơn

Trang 7

Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Ngày 19/9/1993, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 28-CT/TW để lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác vận động phụ nữ mới ban hành Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết

số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, Ban Bí thư đã chỉ đạo các cấp, các ngành sơ kết, đánh giá và ban hành Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/01/2013 về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW Qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng đều có định hướng rõ nội dung, phương hướng lãnh đạo công tác phụ nữ

để các cấp, các ngành trong cả hệ thống chính trị thực hiện Sau khi có nghị quyết Trung ương, các cấp ủy đều xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết Việc tổ chức học tập, quán triệt đều được tổ chức chặt chẽ, có nhiều đổi mới trong chuyển tải nội dung đến cán bộ, đảng viên nên nhận thức về công tác phụ nữ có chuyển biến tiến bộ

Trên cơ sở các chủ trương, nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội đã thể chế thành các văn bản pháp luật để thực hiện như ban hành: Luật Hôn nhân & Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình Chính phủ ban hành nhiều nghị định, đề án để thực hiện

Trong đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng rất quan tâm đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị, trong đó có cán

bộ của các cấp hội Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu của Đảng các khóa đều ghi rõ tăng

tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp: “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán

bộ lãnh đạo quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH”; “Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu quốc hội và HĐND các cấp từ 35% đến 40% Các cơ quan đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ chủ chốt lãnh đạo là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”

Thực tế nhiệm kỳ 2016 -2021 ở Trung ương, nhiệm kỳ 2015 - 2020 ở địa phương,

tỷ lệ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị nói chung đều tăng cao hơn các nhiệm kỳ trước Tỷ lệ cấp ủy cơ sở cả nước là 19,18%, cấp trên cơ sở là 14,63%, cấp tỉnh, thành chiếm 13,1% Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đều tăng Hàng năm có nhiều nhà khoa học và doanh nhân nữ được tôn vinh về sự cống hiến trong nghiên cứu khoa học, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh

Thực hiện các đề án của Trung ương, của Chính phủ, đội ngũ cán bộ nữ có triển vọng được đưa vào nguồn quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng Các cấp ủy đảng luôn tăng cường sự lãnh đạo đối với tổ chức Hội Phụ nữ nhiều tỉnh, thành đã phân công các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách, theo dõi hoạt động của Hội Ban Bí thư, thường trực cấp ủy các cấp đều duy trì tốt chế độ làm việc với Đảng đoàn, Ban Thường vụ Hội Phụ nữ theo quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị Việc bầu cử Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội

Trang 8

LHPN các nhiệm kỳ, cấp ủy đảng đều tôn trọng, phát huy dân chủ, bầu cử có số dư Tổ chức đảng giới thiệu đảng viên ứng cử các chức danh chủ chốt của Hội, không gò ép, áp đặt

Để tổ chức đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác phụ nữ vào thực tiễn cuộc sống, các cấp ủy đảng thường xuyên coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, nhờ

đó nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ lãnh đạo quản lý đối với công tác vận động phụ nữ, công tác Hội Phụ nữ có chuyển biến rõ nét

Tuy nhiên việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ còn một số mặt hạn chế Các cấp ủy đảng chưa chỉ đạo sâu sắc và lãnh đạo cụ thể hóa có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Sau khi có Nghị quyết của Trung ương, Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhưng việc thể chế hóa thành văn bản pháp luật của Nhà nước để thực hiện có lĩnh vực còn chậm Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về vận động phụ nữ; việc dự báo xu hướng phát triển của phụ nữ, tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của phụ nữ để đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ nữ có hiệu quả hơn chưa được quan tâm đúng mức Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên phụ nữ trong một số khu công nghiệp, khu chế xuất, trong doanh nghiệp chưa tốt Các giải pháp hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững thiếu đồng bộ Một số địa phương chưa thực sự tạo điều kiện cho Hội LHPN làm tốt công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, tham gia cấp ủy các cấp còn thấp so với mục tiêu chỉ tiêu đề

ra, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ Một số lĩnh vực, ngành, địa phương nguồn cán bộ nữ hẫng hụt nhưng việc xây dựng quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức

2.2 Thực trạng phong trào phụ nữ ở nước ta

2.2.1 Thành tựu

Lao động nữ tiếp tục chiếm tỷ lệ cao trong các ngành công nghiệp chế biến, dệt may, giầy da, thương mại, dịch vụ và tham gia ngày càng nhiều vào các ngành kinh tế đòi hỏi yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật, công nghệ cao Chị emđã tích cựchưởng ứng phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, không quản ngại làm thêm ca, thêm giờ, góp sức tạo ra nhiều sản phẩm ngày càng đa dạng, chất lượng cao,tạo niềm tin cho người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao tiềm lực kinh tế của đất nước

Trong gia đình, vị trí, vai trò và đóng góp của phụ nữ được nâng lên Giữ vai trò chủ chốt trong xây dựng gia đình hạnh phúc, chị em đã tích cực lao động tạo thu nhập, tổ chức tốt cuộc sống gia đình; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gia đình Việt Nam Hàng triệu phụ nữ trong điều kiện gia đình còn nhiều khó khăn nhưng với tình yêu thương và trách nhiệm, đã tần tảo, chăm lo, giáo dục con, cháu; trở thành chỗ dựa tinh thần cho gia đình

Trang 9

Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ ngày càng tích cực, chủ động thực hiện quyền công dân, tham gia các hình thức dân chủ trực tiếp ở cộng đồng Đội ngũ cán bộ nữ trên một số lĩnh vựcphát triển về số lượng, chất lượng Nữ cấp ủy cấp xã, cấp huyện vànữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đều tăng; nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII đạt 24,4%; nữ công chứctrong cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện đến trung ương chiếm 31% Cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng, cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước các cấp

đã đóng góp tích cực vào việc lãnh đạo, quản lý đất nước, ngành, địa phương Nữ cán bộ, công chức, viên chức phấn đấu giỏi việc nước, đảm việc nhà, tích cực nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức, tự khẳng định mình ở từng vị trí công tác

Phụ nữ đã tham gia tích cực trong các hoạt động đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh, biên giới tại các địa bàn xung yếu và đóng góp tích cực vào hoạt động đối ngoại nhân dân Với tinh thần thi đua quyết thắng, vì an ninh tổ quốc, phụ nữ trong lực lượng vũ trang tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, mưu trí, dũng cảm, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ Chị em hoạt động trong ngành ngoại giao đã tích cực, chủ động, đóng góp hiệu quả trong lĩnh vực đối ngoại và hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao

vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Những kết quả đáng tự hào trên cho thấy, phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và các phong trào, cuộc vận động do các cấp, các ngành phát động đã tạo nên khí thế thi đua sôi nổi trong các tầng lớp phụ nữ cả nước Với nội dung thiết thực, toàn diện, các phong trào thi đua đã thu hút đông đảo phụ nữ hưởng ứng và trở thành động lực thúc đẩy chị em hăng hái tham gia thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong số gần 13 triệu phụ nữ đăng ký thực hiện phong trào thi đua của cả nhiệm kỳ, đã có trên 11 triệu phụ nữ đạt 3 tiêu chuẩn, 2.419 phụ nữ được công nhận danh hiệu “Phụ nữ xuất sắc 5 năm tiêu biểu toàn quốc”

2.2.2 Hạn chế

Bên cạnh sự nỗ lực và đóng góp to lớn, phụ nữ còn gặp không ít khó khăn, thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới:

Phụ nữ có ít cơ hội tham gia học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp; lực lượng lao động nữ tuy đông về số lượng nhưng tỷ lệ qua đào tạo thấp nên chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

Số lao động nữ có bằng cấp chuyên môn chỉ đạt 11,1%, đặc biệt là lao động nữ nông thôn, độ tuổi trung niên, phụ nữ dân tộc thiểu số; tỷ lệ lao động nữ làm các công việc giản đơn chiếm tới 42,9% (so với 36,2% lao động nam)

Trang 10

Khoảng cách thu nhập và mức sống giữa các nhóm phụ nữ, các vùng miền còn lớn Nữ công nhân lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, lao động nữ di cư

tự do… việc làm không ổn định, thu nhập thấp, điều kiện sinh hoạt tối thiểu không đảm bảo Nữ nông dân thiếu việc làm, khó chuyển đổi nghề khi đất canh tác phải chuyển đổi mục đích sử dụng, chị em ít có điều kiện nghỉ ngơi, chăm sóc bản thân, kể cả khi sinh con Phụ nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu và các nhóm phụ nữ yếu thế (nghèo, khuyết tật, đơn thân…) đời sống còn nhiều khó khăn, ít cơ hội tiếp cận thông tin, giáo dục đào tạo và

hệ thống an sinh xã hội Tình trạng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm thực phẩm, dịch bệnh ngày càng tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống, trong khi các điều kiện chăm sóc sức khoẻ chưabảo đảm Đã xuất hiện tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh; tình trạng nạo phá thai, đặc biệt ở tuổi vị thành niên đến mức báo động; tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV có xu hướng tăng nhanh (từ 19,65% năm 2006 lên 31% năm 2011) Thiếu các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để phụ nữ có thể làm tốt công việc xã hội và chăm lo gia đình Dịch vụ gia đình, phúc lợi xã hội hỗ trợ gia đình và phụ nữ chưa được quan tâm đúng mức; tình trạng thiếu nhà trẻ, mẫu giáo còn phổ biến ở hầu hết các địa phương và các khu công nghiệp (tỷ lệ trẻ dưới 36 tháng đến trường chỉ đạt 18%) là khó khăn, thách thức lớn đối với các gia đình, đặc biệt là người mẹ

Tư tưởng trọng nam hơn nữ còn tồn tại trong xã hội Giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống mai một Tình trạng bạo lực gia đình, bạo lực học đường, buôn bán người, xúc phạm nhân phẩm, xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái vẫn đang là vấn đề nổi cộm Một bộ phận phụ nữ có xu hướng chạy theo lối sống coi trọng vật chất, đua đòi, hưởng thụ Tình trạng phụ nữ vi phạm pháp luật, mắc tệ nạn xã hội có chiều hướng tăng Khiếu kiện đông người trái pháp luật có sự tham gia của phụ nữ còn xảy ra ở một số địa phương

Công tác cán bộ nữ còn nhiều khó khăn, bất cập Một số chỉ tiêu về tỷ lệ nữ lãnh đạo nhiều nhiệm kỳ chưa đạt và có xu hướng giảm như chỉ tiêu nữ tham gia Quốc hội, nữ

ủy viên Ban Chấp hành TW Đảng khóa XI chỉ đạt gần 9%, nữ ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010-2015 đạt 11,3% Cán bộ nữ ở vị trí ra quyết định và hoạch định chính sách chiếm tỷ lệ thấp (Chủ tịch UBND và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011

-2016 đạt 3 - 4%)

Những khó khăn, thách thức nêu trên ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

2.2.3 Bài học kinh nghiệm

Phát triển toàn diện phụ nữ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ chất lượng cao có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước nói chung, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, góp phần đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn trong giai đoạn tới và thực trạng các vấn đề liên quan phụ nữ và công tác phụ nữ hiện nay, cần tập trung phát triển toàn diện phụ nữ và

Ngày đăng: 10/01/2023, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w