1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái LV ThS Luat học_

97 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Giải Quyết Đất Ở, Đất Sản Xuất Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Thực Tiễn Thi Hành Tại Tỉnh Yên Bái
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 505 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài1.1. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em; trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số khoảng 80% dân số. 53 dân tộc thiểu số còn lại có khoảng 12,8 triệu người sinh sống trải dài trên phạm vi 35% lãnh thổ Việt Nam cư trú ở những địa bàn có vị trí địa, chính trị đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế và môi trường như vùng biên giới, hải đảo; vùng núi cao phía Bắc và Tây Nguyên v.v... Đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những đóng góp rất to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia và xây dựng, kiến thiết đất nước. Dẫu vậy về cơ bản, trình độ phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số so với người Kinh còn nhiều hạn chế, số hộ nghèo đói trong cả nước là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao. Trong số hơn 1.000 huyện có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thì đại đa số là những huyện có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, chính sách, pháp luật về ưu tiên đầu tư phát triển về mọi mặt cho đồng bào dân tộc thiểu số như Chương trình 135, Chương trình 134 và Chương trình xóa đói, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015 2020 v.v...; trong đó có chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên và đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền Tây Nam Bộ. Thực hiện các chế độ, chính sách này đã và đang giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong cả nước. Theo Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 539NQUBTVQH13 ngày 30102012 về kết quả giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc, tính đến nay đã có 210.5871.027.723 hộ đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở. Trong đó, 99.248 hộ được hỗ trợ đất ở, 111.339 hộ được hỗ trợ đất sản xuất; riêng giai đoạn 2012 2014, thực hiện hỗ trợ đất ở cho 10.156 hộ gia đình, 19.449 hộ gia đình được hỗ trợ về đất sản xuất. Điều này giúp ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xóa đói, giảm nghèo và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn bộc lộ một số tồn tại như thiếu quỹ đất để hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; trong khi đó, các nông, lâm trường quốc doanh lại được giao diện tích đất quá lớn sử dụng kém hiệu quả, bỏ hoang hoặc cho thuê đất không đúng mục đích v.v... Tuy nhiên, pháp luật đất đai lại thiếu các quy định để giải quyết tình trạng trên. Để khắc phục những hạn chế này và đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số cần thiết phải có sự nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống, đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn hệ thống chính sách, pháp luật này trên cơ sở tham chiếu nội dung các quy định sửa đổi, bổ sung về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số của Luật đất đai năm 2013.1.2. Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc. Mặc dù vẫn còn là tỉnh nghèo song thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Yên Bái đã nỗ lực vượt khó trong phát triển kinh tế xã hội trên nền tảng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đạt được những kết quả tích cực. Tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây dựng đồng bộ góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo nói chung và tỷ lệ đói nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Có được kết quả đáng tự hào này là nhờ tỉnh Yên Bái đã thực hiện đồng bộ các giải pháp; trong đó có giải pháp thực hiện quyết liệt chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn bộc lộ một số tồn tại, yếu kém như sự phối hợp chưa chặt chẽ, đồng bộ giữa một số cơ quan, ban, ngành của tỉnh, huyện và xã; một số quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau do nhiều cơ quan ban hành nên khó tránh khỏi sự thiếu thống nhất, đồng bộ; các quy định về vấn đề này chủ yếu được đề cập ở văn bản dưới luật nên hiệu lực pháp lý chưa cao v.v... đã gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện tại tỉnh Yên Bái. Để đi tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém trên thì không thể không có sự nghiên cứu, đánh giá toàn diện, hệ thống, khách quan, khoa học về pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tham chiếu với thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái hiện nay. Với những lý do cơ bản trên, học viên lựa chọn đề tài Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái làm luận văn thạc sĩ luật học.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

1.1 Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em; trong đó,dân tộc Kinh chiếm đa số khoảng 80% dân số 53 dân tộc thiểu số còn lại có khoảng12,8 triệu người sinh sống trải dài trên phạm vi 35% lãnh thổ Việt Nam cư trú ởnhững địa bàn có vị trí địa, chính trị đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh,kinh tế và môi trường như vùng biên giới, hải đảo; vùng núi cao phía Bắc và TâyNguyên v.v Đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những đóng góp rất to lớn vàocông cuộc đấu tranh chống ngoại xâm thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc chủquyền lãnh thổ quốc gia và xây dựng, kiến thiết đất nước Dẫu vậy về cơ bản, trình

độ phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số so với người Kinh còn nhiều hạn chế, số

hộ nghèo đói trong cả nước là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao Trong sốhơn 1.000 huyện có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn thì đại đa số là những huyện có đông đồng bào dân tộcthiểu số sinh sống Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chươngtrình, chính sách, pháp luật về ưu tiên đầu tư phát triển về mọi mặt cho đồng bàodân tộc thiểu số như Chương trình 135, Chương trình 134 và Chương trình xóa đói,giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015 - 2020 v.v ; trong đó có chính sách, pháp luật

về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc,đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên và đồng bào dân tộc thiểu số khuvực miền Tây Nam Bộ Thực hiện các chế độ, chính sách này đã và đang giải quyếtđất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong cả nước Theo Báo cáo tìnhhình triển khai thực hiện Nghị quyết số 539/NQ-UBTVQH13 ngày 30/10/2012 vềkết quả giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bàodân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc, tính đến nay đã có 210.587/1.027.723 hộ đồngbào dân tộc thiểu số được thụ hưởng chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở Trong đó,99.248 hộ được hỗ trợ đất ở, 111.339 hộ được hỗ trợ đất sản xuất; riêng giai đoạn2012- 2014, thực hiện hỗ trợ đất ở cho 10.156 hộ gia đình, 19.449 hộ gia đình được

Trang 2

hỗ trợ về đất sản xuất Điều này giúp ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu

số, góp phần xóa đói, giảm nghèo và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc Tuynhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất chođồng bào dân tộc thiểu số còn bộc lộ một số tồn tại như thiếu quỹ đất để hỗ trợ đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; trong khi đó, các nông, lâm trườngquốc doanh lại được giao diện tích đất quá lớn sử dụng kém hiệu quả, bỏ hoang hoặccho thuê đất không đúng mục đích v.v Tuy nhiên, pháp luật đất đai lại thiếu cácquy định để giải quyết tình trạng trên Để khắc phục những hạn chế này và đưa ra giảipháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số cần thiết phải có sự nghiên cứu, đánhgiá một cách có hệ thống, đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn hệ thống chínhsách, pháp luật này trên cơ sở tham chiếu nội dung các quy định sửa đổi, bổ sung vềđất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số của Luật đất đai năm 2013

1.2 Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Mặc dù vẫn còn là tỉnh nghèosong thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Yên Bái đã nỗ lực vượtkhó trong phát triển kinh tế - xã hội trên nền tảng kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và đạt được những kết quả tích cực Tốc độ phát triển kinh tế năm sau caohơn năm trước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây dựngđồng bộ góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo nói chung và tỷ lệ đói nghèo của đồng bàodân tộc thiểu số nói riêng Có được kết quả đáng tự hào này là nhờ tỉnh Yên Bái đãthực hiện đồng bộ các giải pháp; trong đó có giải pháp thực hiện quyết liệt chínhsách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Tuynhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật vềgiải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn bộc lộ một số tồntại, yếu kém như sự phối hợp chưa chặt chẽ, đồng bộ giữa một số cơ quan, ban,ngành của tỉnh, huyện và xã; một số quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất chođồng bào dân tộc thiểu số nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau do nhiều

cơ quan ban hành nên khó tránh khỏi sự thiếu thống nhất, đồng bộ; các quy định vềvấn đề này chủ yếu được đề cập ở văn bản dưới luật nên hiệu lực pháp lý chưa cao

Trang 3

v.v đã gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện tại tỉnh Yên Bái Để đi tìmnguyên nhân và giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém trên thì không thể không có

sự nghiên cứu, đánh giá toàn diện, hệ thống, khách quan, khoa học về pháp luật giảiquyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tham chiếu với thực tiễn thihành tại tỉnh Yên Bái hiện nay

Với những lý do cơ bản trên, học viên lựa chọn đề tài "Pháp luật về giải

quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái" làm luận văn thạc sĩ luật học.

2 Tình hình nghiên cứu

Giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung vàpháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là

đề tài nhận được sự quan tâm tìm hiểu của giới luật học nước ta Thời gian qua đã

có nhiều công trình nghiên cứu liên quan về vấn đề này được công bố mà tiêu biểuphải kể đến một số công trình khoa học cụ thể sau đây: i)) Trần Ngọc Bình (2017),

Một số chính sách sắp xếp đổi mới công ty nông, lâm nghiệp ở nước ta hiện nay,

Bài viết Hội thảo: Quản lý đất đai có nguồn gốc từ công ty nông, lâm nghiệp sausắp xếp đổi mới: chính sách và thực tiễn, do Viện Chiến lược, chính sách - Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn và Chương trình Quản trị đất đai khu vực Mê kông

tổ chức ngày 27/02/2017 tại Hà Nội; ii) Nguyễn Vinh Quang, Lê Văn Lân, Lưu ĐứcKhải, Ngô Văn Hồng, Tạ Long, Nguyễn Hải Xuân (2015), Báo cáo nghiên cứu:

Hiện trạng giao đất lâm nghiệp từ các công ty lâm nghiệp cho người dân địa phương và các khuyến nghị chính sách, Chương trình Quản trị đất đai khu vực Mê kông, Hà Nội, 12/2016; iii) Ngân hàng Thế giới (2012), Sửa đổi Luật đất đai để thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam, Bản tóm tắt các khuyến

nghị chính sách ưu tiên rút ra từ các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội;

iv) Tổ chức Oxfam tại Việt Nam (2013), Báo cáo về tham vấn cộng đồng góp ý kiến

Dự thảo Luật đất đai năm 2003 sửa đổi, Hà Nội; v) Đặng Kim Sơn và cộng sự (2013), Báo cáo nghiên cứu: Rà soát, phân tích các chính sách dân tộc thiểu số và

hỗ trợ xây dựng hệ thống chính sách cho Ủy ban Dân tộc đến 2020; vi) Cơ quan

Trang 4

Thường trực Khu vực đồng bằng sông Cửu Long (2006), 60 năm công tác dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long - Thực tiễn và bài học, Kỷ yếu Khoa học: 60 năm công tác dân tộc - Thực tiễn và bài học kinh nghiệm, do Viện Dân tộc - Ủy ban Dân tộc

tổ chức tháng 06/2006 tại Hà Nội; vii) Văn Kiện (2015), Truy trách nhiệm Bộ trưởng vụ xây biệt phủ trong rừng cấm, Báo Tiền phong, thứ sáu ngày 28/08/2015,

số 240; viii) PGS.TS Khổng Diễn (Chủ nhiệm) (2006), Đề tài Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến năm 2020, Báo cáo tóm tắt; ix) Ủy ban Dân tộc (2016), Kết quả rà soát chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2015, và đề xuất chính sách trung hạn giai đoạn 2016-2020; x) Vụ Pháp chế -

Ủy ban Dân tộc (2012), Một số văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc (2006 - 2012), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; xi) Ủy ban Dân tộc và Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam (2015), Hội thảo -Xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc nhằm bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số: Chia sẻ kinh nghiệm giữa Châu Âu và Việt Nam, Lào Cai, ngày 15/5/2015; xii) : Viện Dân tộc -

Ủy ban Dân tộc (2006), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: 60 năm công tác dân tộc Thực tiễn và vài học kinh nghiệm, Hà Nội - tháng 6 v.v

-Các công trình nghiên cứu trên đây đã giải quyết được một số vấn đề lýluận và thực tiễn về pháp luật liên quan đến giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồngbào dân tộc thiểu số như đánh giá thực trạng sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiếu

số, chỉ ra nguyên nhân đồng bào dân tộc thiểu số không có đất hoặc thiếu đất ở, đấtsản xuất; đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sảnxuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; đưa ra một số khuyến nghị góp phần hoàn thiệnchính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

và nâng cao hiệu quả thực thi hệ thống chính sách, pháp luật này ở nước ta Tuynhiên, xem xét dưới góc độ pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bàodân tộc thiểu số một cách có hệ thống, đầy đủ, chuyên sâu và toàn diện trên phươngdiện lý luận, thực tiễn đặt trong mối quan hệ tham chiếu với Luật đất đai năm 2013,các đạo luật có liên quan và thực tiễn thi hành lĩnh vực pháp luật này trên địa bàntỉnh Yên Bái nói riêng thì dường như vẫn còn thiếu một công trình như vậy Trên cơ

Trang 5

sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến

đề tài đã công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuấtcho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là đưa ra các giải pháp gópphần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sảnxuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể sau đây:

- Tập hợp, phân tích, đánh giá hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về giải quyếtđất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam thông qua việc luậngiải một số nội dung:

i) Phân tích, khái niệm và đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số

ii) Tìm hiểu vị trí, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số

iii) Phân tích thực trạng sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số

iv) Phân tích khái niệm và đặc điểm của pháp luật về giải quyết đất ở, đấtsản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

v) Cơ sở ra đời pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dântộc thiểu số

vi) Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuấtcho đồng bào dân tộc thiểu số v.v

- Đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồngbào dân tộc thiểu số từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái

- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quảthi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tạitỉnh Yên Bái

Trang 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đấtđai nói chung và pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số nói riêng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay;

- Các quy định của Luật đất đai năm 2013, các đạo luật có liên quan và cácvăn bản hướng dẫn thi hành về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số;

- Hệ thống lý thuyết, trường phái học thuật về pháp luật về giải quyết đất ở,đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số;

- Thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bàodân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số từthực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và liênquan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Tuy nhiên trong khuôn khổ của mộtbản luận văn thạc sĩ luật, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn ở nhữngnội dung cụ thể sau:

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung Nghiên cứu, tìm hiểu các quy

định về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam củaLuật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian Đánh giá thực tiễn thi hành

các quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địabàn tỉnh Yên Bái

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơbản sau đây:

Trang 7

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu…được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đấtsản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,phương pháp tổng hợp được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng phápluật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thihành tại tỉnh Yên Bái;

iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải…được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần hoàn thiện và nângcao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dântộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái

6 Những kết quả nghiên cứu đạt được

Luận văn hoàn thành với những kết quả nghiên cứu chủ yếu như sau:

- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật

về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam;

- Đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồngbào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành chế định pháp luật này tại tỉnh Yên Bái;

- Đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thihành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tạitỉnh Yên Bái

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào

dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Trang 8

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng

bào dân tộc thiểu số và thực tiễn thi hành tại tỉnh Yên Bái

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất

cho đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Yên Bái

Trang 9

Chương 1

LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT

CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

1.1 Lý luận về đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1.1 Khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số

i) Khái niệm đồng bào, dân tộc

Để tìm hiểu khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số thì trước tiên chung ta cầnhiểu thế nào là đồng bào Cụm từ đồng bào có gốc từ hán việt được sử dụng vớihàm ý, ý nghĩa cùng một cội nguồn (đồng bào có nghĩa là cùng (đồng) một bàothai) Cụm từ này được sử dụng với hàm ý bắt nguồn từ truyền thuyết "trăm trứng"trong lịch sử dân tộc có nghĩa là mọi người con đất Việt được Mẹ Âu Cơ sinh ra từbọc trăm trứng/cùng một bào thai nên phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau.Dưới góc độ học thuật, khái niệm đồng bào được giải mã như sau:

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Dân tộc: Cộng đồng người được hìnhthành từ lâu đời, có ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, tâm lý đặc thù" 1

Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạnnăm 2006: -Dân tộc: 1 Dân tộc (tộc người, ethnie) - hình thái đặc thù của một tậpđoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phânbiệt bởi 03 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng,mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộcngười) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me …Hìnhthức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng vớicác phương thức sản xuất

2 Dân tộc (nation) - hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiệntrong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xãhội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc) Dân

1 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr 219.

Trang 10

tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnhthổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kỳ phát triển tư bản chủnghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xóa bỏ, có nềnkinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các âm ngữ,thổ ngữ bị xóa bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng,

sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bịxóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc

Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triểnlên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểmchung về lịch sử - văn hóa

Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc

xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sảnxuất và thể chế xã hội Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giaicấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giaicấp tư sản Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn giai cấp đối kháng,quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động

3 Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chínhtrị - xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triểnkinh tế - xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản

lý thống nhất bởi một nhà nước Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng,phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước Mộtquốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số Có tộc người đã đạt đếntrình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc Với cơ cấu tộc người như vậy,quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp Nhà nước phải ban hành chính sáchdân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triểncủa đất nước Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên)2

2 Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội,

2006, tr 213-214.

Trang 11

Hiểu theo nghĩa rộng dân tộc là dân tộc quốc gia, là một cộng đồng chính trị

-xã hội, bao gồm tất cả các thành phần dân tộc đa số và thiểu số sinh sống trongphạm vi lãnh thổ của một quốc gia thống nhất

Hiểu theo nghĩa hẹp thì khái niệm dân tộc lại: Đồng nghĩa với cộng đồngtộc người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu số của một dân tộcsinh sống trong cùng một lãnh thổ thống nhất hay ở nhiều quốc gia khác nhau nhưngđược liên kết với nhau bằng nhiều ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người

ii) Khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số

"Đồng bào dân tộc thiểu số" là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến khôngchỉ trong xã hội, trong sách, báo chuyên môn mà còn hiện diện trong các văn bảnpháp luật ở nước ta Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ các dân tộc có số lượngngười ít hơn dân tộc Kinh (dân tộc Kinh chiếm 80% dân số) ở nước ta Khái niệm

"Đồng bào dân tộc thiểu số" được các nhà làm luật Việt Nam giải thích như sau:

"Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm

vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và "Dân tộc đa số là dân tộc

có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia"3.Tuy nhiên, tổng hợp những thuộc tính được ghi nhận từ nội dung các văn bản phápluật khác có liên quan đến dân tộc thiểu số, theo tác giả có thể hiểu khái niệm "đồng

bào dân tộc thiểu số" ở Việt Nam như sau: Đồng bào dân tộc số là đồng bào thuộc dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán.

1.1.1.2 Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Ở nước ta đã có một số công trình chuyên khảo nghiên cứu về đồng bào dântộc thiểu số dưới khía cạnh dân tộc học, xã hội học Tìm hiểu nội dung các công trìnhnày, tác giả nhận thấy một số đặc điểm nổi bật của đồng bào dân tộc thiểu số; cụ thể:

Thứ nhất, các dân tộc có quy mô dân số khác nhau, sống xen kẽ nhau.

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộcthiểu số Dân số 53 dân tộc thiểu số là 10.527.455 người chiếm tỷ lệ 13,8% dân số

3 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc.

Trang 12

của cả nước4 Các dân tộc thiểu số có quy mô dân số không đồng đều Có nhữngdân tộc với dân số trên một triệu người, như dân tộc: Tày, Thái, Mường, Khmer.Nhưng lại có những dân tộc dân số rất ít, đặc biệt là 05 dân tộc có dân số dưới 1.000người bao gồm: Sila (840) PuPéo (705), Rơ Măm (352), Brâu (313) và Ơ đu (301)

Khác với một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, các dân tộc ở nước ta cưtrú xen kẽ nhau, không có dân tộc nào ở vùng lãnh thổ riêng Tính chất cư trú đó đãtạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, tươngtrợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển

Thứ hai, các dân tộc ở nước ta có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời

trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, tạo nên một cộng đồngdân tộc Việt Nam thống nhất

Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta từ lâu đời, đã sớm có ý thức đoànkết, gắn bó với nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, xây dựngđất nước Sự đoàn kết giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo lên một quốc gia dân tộcbền vững, thống nhất Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đoàn kết các dântộc ngày càng được củng cố và phát triển Đoàn kết các dân tộc ở nước ta đã trởthành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thứ ba, hầu hết các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí

chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và môi trường sinh thái

Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở miền núi, với địa bàn rộng lớnchiếm 3/4 diện tích cả nước, bao gồm 19 tỉnh miền núi, vùng cao, 23 tỉnh có miềnnúi Đây là khu vực biên giới, cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng, có vịtrí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước

Miền núi nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng phong phú, như:đất, rừng, khoáng sản… với tiềm năng to lớn phát triển kinh tế; là đầu nguồn cácdòng sông lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng về cân bằng sinh thái

Thứ tư, các dân tộc phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội.

4 Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Số liệu cuộc tổng điều tra dân số năm 1999.

Trang 13

Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là những nguyên nhân lịch sử đểlại và do điều kiện địa lý, tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của đồng bào dântộc, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đồng đều Một sốdân tộc đã phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao, nhưng còn nhiều dân tộc vẫncòn trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển Phần lớn các dân tộc thiểu số có mứcsống thấp, tỷ lệ đói nghèo cao, chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số; song cũng

có dân tộc thiểu số có mức sống cao hơn dân tộc Kinh, đó là dân tộc Hoa kiều(người Việt gốc Hoa)

Một số dân tộc vẫn còn trong tình trạng tự cung tự cấp, du canh du cư Đờisống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiềukhó khăn trong quá trình phát triển

Thứ năm, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng, phong

phú của nền văn hóa Việt Nam

Mỗi dân tộc, mặc dù có sự khác nhau về quy mô dân số, về trình độ phát triểnkinh tế - xã hội, nhưng đều có văn hóa truyền thống riêng (ngôn ngữ, phong tục, tậpquán, trang phục…), tạo nên bản sắc văn hóa của từng dân tộc, góp phần làm phong phú,

đa dạng nền văn hóa Việt Nam thống nhất Bản sắc văn hóa của các dân tộc đều đượcchú trọng bảo tồn và phát triển trong quá trình giao lưu, hội nhập chung của cả nước

1.1.2 Vị trí và vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số

Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em (53 dân tộc thiểu

số chiếm 14% dân số cả nước, cư trú chủ yếu ở miền núi, vùng sâu vùng xa, vùngbiên giới trải dài trên phạm vi 35% lãnh thổ), cùng cư trú, tồn tại và phát triển trênlãnh thổ Việt Nam Cộng đồng các dân tộc Việt Nam chung sống đoàn kết, hòa hợp,

tương trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc,

đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn vào quá trình đấu tranhdựng nước và giữ nước Vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số được thể hiện trên cáckhía cạnh cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn trong

công cuộc chống ngoại xâm giành độc lập và bảo vệ đất nước

Trang 14

Lịch sử đã ghi nhận nhiều tấm gương anh dũng của các bậc tiền nhân làngười dân tộc thiểu số đã tập hợp, lãnh đạo nhân dân (không phân biệt là ngườiKinh hay người Thượng) đứng lên đấu tranh chống ngoại xâm vì nền độc lập tự docủa dân tộc Trong thời kỳ cận đại có các lạc hầu, lạc tướng người dân tộc thiểu sốcủa nữ tướng Bà Trưng, Bà triệu; các tướng người dân tộc thiểu số Hà Đăng, HàNghiệp thời nhà Trần v.v Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ có những tấm gương anh hùng là người dân tộc thiểu số như Anh hùng Núp ởTây Nguyên, Anh hùng Bế Văn Đàn, Anh hùng Cù Chính Lan, Anh hùng Can Lịch,Anh hùng Vai… là những điển hình tiêu biểu cho những đóng góp to lớn của đồngbào các dân tộc thiểu số vào sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm, giành và giữ nềnđộc lập của đất nước

Thứ hai, đồng bào dân tộc thiểu số đã có những đóng góp to lớn vào công

cuộc tái thiết, xây dựng đất nước

Sau khi đất nước thống nhất (tháng 4/1975), đồng bào dân tộc thiểu số đãhăng hái thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhànước trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.Ngay từ thủa khai sinh, các dân tộc đã gắn kết, chung sức, chung lòng chống chọivới thiên nhiên, bão lũ; tinh thần đoàn kết càng được phát huy hơn trong lịch sử đấutranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc Trong sự nghiệp cách mạng, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đoàn kết, thống nhất dân tộckhông ngừng được củng cố và phát triển, tạo nên sức mạnh vĩ đại để chiến thắng thiêntai, chiến thắng "thù trong, giặc ngoài" đem lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Trong những năm qua, kinh tế - văn hóa, xã hội của nước ta đã đạt nhiều kếtquả tích cực; đồng thời trong sự nghiệp xây dựng, phát triển của đất nước, đồng bàocác dân tộc thiểu số luôn đồng hành trên mọi lĩnh vực, đã có những đóng góp quan trọngvào sự phát triển kinh tế đất nước nói chung Với nhận thức phát huy tinh thần đạiđoàn kết toàn dân tộc, đồng bào dân tộc thiểu số luôn đồng hành cùng với đồng bào

cả nước tích cực lao động, sản xuất, tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh

tế - văn hóa, xã hội; chung tay góp sức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; góp

Trang 15

phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển, tiến bộ - văn minh, để đưa đất nước tađến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại.

1.2 Lý luận về đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Khái niệm đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1.1 Khái niệm đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số

Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp"5

Để thực hiện quyền cơ bản này của công dân thì họ phải có quyền tiếp cận và khaithác đất ở Đồng bào dân tộc thiểu số là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam nên Nhà nước ta bảo hộ quyền có chỗ ở của họ Tuy nhiên, để cóchỗ ở thì mọi người phải có nhà ở - là nơi cư trú lâu dài mà nhà ở lại được xây dựngtrên đất Trên thực tế, đất được sử dụng để xây dựng nhà ở được người Việt quanniệm là đất ở Tìm hiểu nội dung Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫnthi hành, tác giả nhận thấy đất ở là một thành phần độc lập trong nhóm đất phi nôngnghiệp được sử dụng để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ nhu cầu sinhhoạt của con người như nhà bếp, tường rào, nhà vệ sinh, sân, vườn, giếng nước vàchuồng nuôi gia súc, gia cầm… Luật đất đai năm 1993 quy định khá chi tiết về kháiniệm đất ở của hộ gia đình, cá nhân Tuy nhiên, kể từ khi Luật đất đai năm 2003 vàLuật đất đai năm 2013 ra đời, khái niệm đất ở không được đề cập trong các quyđịnh về đất ở của hộ gia đình, cá nhân

Đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biếntrong các văn bản pháp luật song dường như chưa có văn bản pháp luật nào giảithích một cách chính thức về thuật ngữ này Dựa trên nội dung các quy định củapháp luật đất đai về đất ở và quan niệm thông thường của người Việt, tác giả chorằng khái niệm đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số như sau: Đất ở của đồng bào dântộc thiểu số là một thành phần độc lập trong nhóm đất phi nông nghiệp được sửdụng vào mục đích chủ yếu để ở Diện tích đất này bao gồm đất để xây dựng nhà ở

và các công trình phục vụ đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số nhưsân, nhà bếp, nhà vệ sinh, vườn và chuồng nuôi giá súc, gia cầm v.v

5 Khoản 1 Điều 22 Hiến pháp năm 2013.

Trang 16

Bên cạnh các đặc điểm chung của đất ở, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số

còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây: một là, do đặc điểm cư trú, phân tán rải

rác trên một phạm vi rộng nên đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số phân bố rải rác

và xen kẽ với các loại đất khác như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất chuyêndùng khác Hơn nữa, loại đất này phân bố ở vùng có địa hình cao, điều kiện đi lại

khá khó khăn do đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở vùng núi; hai là, đất ở

của đồng bào dân tộc thiểu số nằm xen kẽ với đồng bào dân tộc đa số (dân tộc Kinh)

do đặc điểm dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sinh sống xen kẽ với nhau; ba là, đất

ở của đồng bào dân tộc thiểu số tọa lạc ở những vị trí mà hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ

thuật và hạ tầng xã hội nghèo nàn, thiếu đồng bộ, hiện đại; bốn là, đất ở của đồng

bào dân tộc thiểu số vừa có diện tích lớn vừa có diện tích nhỏ Điều này tùy thuộcvào mức độ, quy mô phân bố tập trung hay không tập trung của từng dân tộc thiểu số;

năm là, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số vừa cố định lâu dài vừa mang tính tạm

thời do một số dân tộc thiểu số còn duy trì phong tục, tập quán "du canh du cư"…

1.2.1.2 Khái niệm đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Đất sản xuất nói chung và đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số nóiriêng là thuật ngữ được dùng để chỉ một loại đất độc lập trong quỹ đất của nước tađược sử dụng làm tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủysản, làm muối (sau đây gọi chung là tư liệu sản xuất trong nông nghiệp) Đất sảnxuất là một tên gọi khác của nhóm đất nông nghiệp Mặc dù được sử dụng khá phổbiến trong đời sống xã hội, trong các sách, báo chuyên môn và trong văn bản phápluật song tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý; tác giả nhận thấy dường như thuậtngữ này chưa được pháp luật giải thích một cách chính thức Tuy nhiên, dựa trênquan niệm thông thường và nội dung các quy định của pháp luật về đất nông nghiệp,tác giả cho rằng khái niệm đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số được hiểu nhưsau: Đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là một thành phần độc lập trongnhóm đất nông nghiệp Nó được đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng vào mục đíchchủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối

Bên cạnh những đặc điểm chung của nhóm đất nông nghiệp, đất sản xuất

của đồng bào dân tộc thiểu số còn cố một số đặc điểm riêng cơ bản sau: một là,

Trang 17

phần lớn đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàng năm của đồng bào dân tộc thiểu

số ở khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc có diện tích vừa và nhỏ; bởi lẽ, việccanh tác của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở khu vực miền núi Trong khi đó,đất trồng cây hàng năm của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nam Bộ lại có

diện tích lớn hơn; hai là, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp của đồng bào dân

tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc có diện tích lớn hơn nhiều

so với loại đất này của đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nam Bộ; do mật độdân số ở khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc thấp hơn so với khu vực Tây

Nam Bộ; ba là, việc canh tác, sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

gặp nhiều khó khăn do diện tích nhỏ, hẹp hoặc có vị trí độ dốc cao, khô hạn hoặc

đường sá đi lại khó khăn; bốn là, tương tự như đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân

tộc thiểu số vừa cố định lâu dài vừa mang tính tạm thời do một số dân tộc thiểu số

còn duy trì phong tục, tập quán -du canh du cư-; năm là, diện tích đất sản xuất của

đồng bào dân tộc thiểu số có xu hướng ngày càng bị thu hẹp do việc chuyển nhượng

Một là, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số là một

biểu hiện sinh động về thực hiện quyền con người và quyền cơ bản của công dânđược ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 Bởi lẽ, xét về nguồn gốc, đất đai không

do bất cứ ai tạo ra mà do tự nhiên tạo ra và có trước con người Con người sinh raphải dựa vào việc khai thác, sử dụng đất đai để duy trì sự tồn tại và phát triển củamình Hay nói cách khác, con người khó có thể tồn tại nếu thiếu đất đai Do đó, đấtđai được coi là "tặng vật" của thiên nhiên ban cho con người Mọi người sinh ra đều

có quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng đất để duy trị sự tồn tại của mình

và phải có bổn phận bồi bổ, cải tạo làm cho đất tốt hơn lên để truyền lại cho các thế

Trang 18

hệ tương lai Do đó quyền có đất và quyền sử dụng đất không chỉ được coi là quyền

tự nhiên của mỗi con người mà còn là quyền cơ bản của công dân mà bất kỳ quốcgia nào cho dù được thiết lập dựa trên các hình thái kinh tế - xã hội, thể chế chính trịkhác nhau, đều phải thực hiện và bảo đảm cho công dân của mình thực hiện cácquyền này (không phân biệt công dân là người dân tộc đa số hay là người dân tộcthiểu số) Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp - đạo luật gốc - để bảođảm trách nhiệm pháp lý của Nhà nước

Thứ hai, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện

sự quan tâm, cam kết của Nhà nước Việt Nam trong việc đảm bảo quyền bình đẳngtrong lĩnh vực đất đai đối với những dân tộc thiểu số ở vị trí yếu thế, dễ bị tổnthương hơn so với người Kinh chiếm đa số ở Việt Nam Hơn nữa, việc đảm bảo đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn mang ý nghĩa về nhân quyền(quyền con người) Bởi lẽ, con người sinh ra muốn tồn tại và phát triển phải cóquyền tiếp cận, sử dụng đất đai Điều này được ghi nhận trong Tuyên bố đất đai củaLiên hợp quốc Thực tế cho thấy một trong những nguyên nhân của đói nghèo củacon người nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là do không được tiếpcận, sử dụng đất đai

Thứ ba, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp phần

củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại bất kỳ hành vi chia

rẽ, phân biệt, kỳ thị dân tộc

Như chúng ta đã biết, đất đai là vấn đề nhạy cảm và có ý nghĩa chính trị, kinh

tế, xã hội ở nước ta Sự bất bình đẳng và thiếu công bằng trong chiếm hữu, sử dụng đất

sẽ tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn, xung đột xã hội giữa những người chiếm giữ diện tíchlớn đất đai với người không có hoặc thiếu đất Hơn nữa, thực tiễn đã chứng minh việckhông có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất là điều kiện để các thế lực phản động lôi kéo,xúi giục và kích động bạo loạn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà vụ việc bạoloạn chính trị ở Tây Nguyên năm 2001 là một ví dụ điển hình Do đó, đảm bảo đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp phần củng cố và tăng cường khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại bất kỳ hành vi chia rẽ, phân biệt, kỳ thị dân tộc

Trang 19

Thứ tư, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp phần

bảo đảm sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng có địachính trị đặc biệt quan trọng

Thứ năm, đảm bảo đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số góp

phần phát triển kinh tế, đảm bảo sự an sinh xã hội và phát triển bền vững vùng núi,vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống

1.2.3 Thực trạng sử dụng đất ở, đất sản xuất của đồng

1.2.3.1 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất do Ủy ban Dân tộc quản lý về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 539/NQ-UBTVQH13 ngày 30/10/2012 về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Sau 10 năm thực hiện các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất đã có210.587/1.027.723 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được thụ hưởng chính sách

hỗ trợ đất sản xuất, đất ở (trong đó có 99.248 hộ được hỗ trợ đất ở, 111.339 hộ được

hỗ trợ đất sản xuất) Riêng giai đoạn từ năm 2012 - năm 2014, thực hiện hỗ trợ được10.156 hộ về đất ở và 19.449 hộ về đất sản xuất Để tiếp tục phát huy hiệu quả đạtđược từ các năm trước, Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuấtcho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015 nhằm ổn định cuộc sống, phát triển sảnxuất góp phần giảm nghèo bền vững vùng dân tộc và miền núi Tuy vậy, giai đoạn từnăm 2012 - năm 2014 kết quả đạt được của các chính sách còn thấp do nguồn lựckhông đủ Tổng ngân sách Trung ương hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu

số từ năm 2012 - năm 2015 là: 2.777.15 tỷ đồng Tính từ năm 2002 đến nay đã cấpkhoảng 6.047,780 tỷ đồng/tổng nhu cầu khoảng 30.000,0 tỷ đồng (tổng hợp các Quyếtđịnh 134/2004/QĐ-TTg, Quyết định 1592/QĐ-TTg, Quyết định số 33/QĐ-TTg,Quyết định số 755/QĐ-TTg, Quyết định số 29/QĐ-TTg) Kết quả cụ thể như sau:

6 Các số liệu được tham khảo từ báo cáo kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc.

Trang 20

Thứ nhất, thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt

cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăntheo Quyết định số 755/QĐ-TTg

Theo số liệu tổng hợp Đề án số 755 đã phê duyệt của các tỉnh, tổng số hộdân tộc thiểu số còn thiếu đất sản xuất là 114.322 hộ, tổng số hộ muốn chuyển đổinghề do thiếu đất sản xuất là 195.060 hộ (trong đó có 122.327 hộ cần chuyển đổinghề, mua sắm công cụ sản xuất và 72.733 hộ có nhu cầu giao khoán bảo vệ vàtrồng rừng); 8.461 lao động có nhu cầu đi xuất khẩu lao động và 61.154 lao độngmuốn học nghề; 588.360 hộ có nhu cầu được hỗ trợ nước sinh hoạt Qua 02 nămthực hiện, ngân sách Trung ương đã cấp 952,6 tỷ đồng/tổng nhu cầu 11.754,98 tỷđồng (đạt 8,1%) Đến hết năm 2014, các tỉnh chỉ mới thực hiện hỗ trợ 2.099 hộ với4.193 ha đất sản xuất (đạt 1.8%), chuyển đổi ngành nghề cho 868 hộ (đạt 0,7%),nước sinh hoạt cho 16.820 hộ và hoàn thành 177 công trình nước sinh hoạt tập trung(đạt 03%) Do gặp nhiều khó khăn nên kết quả thực hiện Quyết định số 755/TTgcòn thấp Một số địa phương chưa tích cực triển khai thực hiện chính sách (không

bố trí vốn đối ứng thực hiện chính sách, xây dựng đề án chậm…) Dự kiến đến hếtnăm 2015, kết quả thực hiện chính sách không đạt mục tiêu, yêu cầu theo Quyếtđịnh số 755/TTg đã duyệt

Thứ hai, thực hiện chính sách hỗ trợ định canh, định cư cho đồng bào dân

tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg và Quyết định số 1342/QĐ-TTg

Tính đến hết năm 2014, Trung ương đã cấp cho 35 tỉnh là 1.945 tỷ đồng,đạt 71% tổng số vốn đã được duyệt tại Quyết định số 1342/QĐ-TTg (trong đó: vốnđầu tư phát triển 1.223 triệu đồng, đạt 67%; vốn sự nghiệp 722 triệu đồng, đạt82%) Sau 07 năm thực hiện, các tỉnh đã hoàn thành 43/44 điểm dự án định canh,định cư xen ghép và 119/252 dự án định canh, định cư tập trung, thực hiện dở dang

0 điểm xen ghép và 90 dự án tập trung, 32 dự án chưa được bố trí vốn thực hiện, 11 dự

án đề nghị không triển khai do không bố trí được mặt bằng, không có quỹ đất Đếnnay các tỉnh đã hoàn thành định canh, định cư cho 19.908 hộ với 89.143 khẩu, đạt67% kế hoạch được phê duyệt Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiện

Trang 21

định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần tăng cường đầu tư cơ

sở hạ tầng thiết yếu gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ sản xuất,tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội, môi trường và bảo

vệ an ninh, quốc phòng vùng dân tộc và miền núi; qua đó ổn định đời sống củađồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế tình trạng di cư tự do

Tuy nhiên, hiện còn khoảng 3.248 hộ thụ hưởng chính sách thuộc 61 dự ánđịnh canh, định cư tập trung nhưng chưa nhận được vốn hỗ trợ và còn khoảng20.837 hộ thuộc các tỉnh Tây Nguyên chưa được bố trí, sắp xếp ổn định, còn ở rảirác, phân tán nên đời sống không ổn định, chưa có nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nảysinh tâm lý bất an, rất cần sự hỗ trợ để ổn định và thoát nghèo

Thứ ba, thực hiện chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm

cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng song CửuLong giai đoạn từ năm 2013 - năm 2015

Theo báo cáo của các địa phương, vùng đồng bằng sông Cửu Long còn7.394 hộ dân tộc thiểu số thiếu đất ở, 4.335 hộ có nhu cầu chuộc lại đất sản xuất và26.124 hộ có nhu cầu chuyển đổi nghề tạo việc làm Do điều kiện ngân sách khókhăn đến nay, Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg chưa được cấp vốn Thủ tướng Chínhphủ cho phép điều chuyển nguồn vốn còn dư từ Quyết định số 74/2008/QĐ-TTgsang thực hiện Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg là 352,55 tỷ đồng/tổng nhu cầu vốn

là 578,227 tỷ đồng Hiện nay, một số tỉnh không có kinh phí điều chuyển và một sốtỉnh thiếu kinh phí, khó khăn trong triển khai thực hiện chính sách Đến hết năm 2014,trong toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long mới có tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và BạcLiêu thực hiện Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg, đã hỗ trợ được 2.043 hộ có đất ở (đạt27,63%), 237 hộ được chuộc đất sản xuất (đạt 5,5%), 307 hộ được tạo việc làm và pháttriển sản xuất, 849 lao động được đào tạo nghề (đạt 1,2%) Kinh phí giải ngân được81,77 tỷ đồng Phần lớn các tỉnh còn lại tập trung vào công tác rà soát các đối tượngđược thụ hưởng chính sách và xây dựng kế hoạch trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt

1.2.3.2 Thực trạng về thiếu đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số và miền núi trong những năm qua

Trang 22

i) Chính sách về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất được thực hiện từ năm 2002, đến giai đoạn từ năm 2009 - năm 2011

Có khoảng 347.457 hộ thiếu đất sản xuất và đất ở Trong đó, số hộ thiếu đấtsản xuất là 142.444 hộ, thiếu đất ở là 39.533 hộ, số lao động có nhu cầu nhận khoánkhoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng là 15.533 hộ, số lao động có nhu cầu được đàotạo nghề để chuyển đổi ngành nghề là 13.153 lao động/13.153 hộ

ii) Chính sách về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất được thực hiện giai đoạn từ năm 2012 - năm 2015

Sau nhiều năm thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất trên địa bàn

các tỉnh thực hiện theo các Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách

hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo, đời sống khó khăn; Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg về một số chính sách hỗtrợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu

số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm

2008 - năm 2010; Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ giảiquyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo,đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm 2013 -năm 2015;Quyết định số 1592/QĐ-TTg về tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sảnxuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo, đời sống khó khăn; Quyết định số 755/QĐ-TTg về việc phê duyệt một số chínhsách sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộcthiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn Đến nay vẫn còn khoảng360.167 hộ thiếu đất sản xuất và đất ở; trong đó, có 37.199 hộ thiếu đất ở; 355.943 hộthiếu đất sản xuất; 238.975 hộ có nhu cầu chuyển đổi nghề; 72.733 hộ có nhu cầugiao khoán bảo vệ và trồng rừng với 258.461 lao động đi xuất khẩu lao động; nhucầu tổ chức định canh định cư cho khoảng 29.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.3.3 Nguyên nhân thiếu đất ở, đất sản xuất trong vùng dân tộc thiểu số

và miền núi

Trang 23

Một là, đa số đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực miền núi và cao

nguyên, mặc dù vùng đất này có diện tích lớn, nhưng diện tích canh tác đất nôngnghiệp ít chủ yếu đất có độ dốc lớn, nhiều núi đá, địa hình phức tạp, thường bị thiêntai, lũ ống, lũ quét, lở đất, khí hậu khắc nghiệt, đất ngày càng nghèo kiệt bạc mầu,đất không có nguồn nước… Một bộ phận người dân còn tập quán du canh, du cưphát nương làm rẫy, ít hoặc chưa quan tâm đến thâm canh, bảo vệ đất để canh tác ổnđịnh lâu dài và chưa quan tâm đến việc xác định chủ quyền sử dụng đất

Hai là, dân số ở vùng dân tộc và miền núi tăng nhanh cả về mặt tự nhiên và

cơ học Chỉ tính riêng khu vực Tây Nguyên, sự có mặt đồng bào Kinh từ đồng bằnglên và các dân tộc thiểu số khu vực phía Bắc vào (chủ yếu là các dân tộc Tày, Nùng,Dao, Mông, Mường…) đã làm cho số lượng dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên tăng từ

15 dân tộc năm 1976 lên 43 dân tộc vào năm 2005, đến nay đã gần đủ 54 dân tộc

Ba là, tình trạng mua bán, chuyển nhượng đất đai ở nhiều nơi mà người mua

thường là dân cư mới đến, bên bán thường là người dân tộc thiểu số tại chỗ Vì vậy,làm phát sinh tình trạng một bộ phận dân tộc tại chỗ lâm vào cảnh thiếu đất sản xuấthoặc trở thành người làm thuê cho các dân tộc mới đến hoặc phải phá rừng làm rẫy

Loại đất được mua bán chủ yếu là đất sản xuất Đối tượng được chuyểnnhượng thường là dân tộc mới đến, bao gồm dân di cư tự do, dân kinh tế mới, cán

bộ nhà nước và người có tiền ở các tỉnh, thành phố từ đồng bằng lên

Bốn là, phát triển nông, lâm trường Triển khai chủ trương của Nhà nước về

phát huy thế mạnh nông, lâm trường, sau năm 1975 đến những năm đầu thập niên

1980 hàng loạt các nông, lâm trường quốc doanh nhanh chóng được thành lập, baogồm các nông trường cà phê, cao su, chè, dâu tằm, chăn nuôi, các liên hiệp xínghiệp nông, lâm trường khác nhau do Trung ương, các tỉnh và các đơn vị quân độiđóng trên địa bàn quản lý

Toàn bộ đất sản xuất được đưa vào nông, lâm trường quốc doanh, do trình

độ của lao động dân tộc thiểu số còn hạn chế không đáp ứng được nên đã ra khỏinông, lâm trường nhưng không được trả lại đất, đây cũng là nguyên nhân dẫn đếntình trạng thiếu đất sản xuất và phân hóa đất đai

Trang 24

Năm là, quá trình quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng các dự án hạ tầng,

đường giao thông, thủy lợi, thủy điện, xây dựng khu công nghiệp, khai thác khoángsản, xây dựng các công trình an ninh, quốc phòng… cũng gây ảnh hưởng, xáo trộnlớn về đất ở, giảm nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp Các giải pháp tạo quỹđất từ việc thu hồi đất của các dự án, doanh nghiệp, nông, lâm trường kém hiệu quả,

sử dụng chưa đúng mục đích để cấp cho các hộ nghèo thiếu đất đạt kết quả thấp

1.2.4 Nguyên tắc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Tại Điều 2 Quyết định số 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtchính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu

số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn đưa ra nguyên tắc thực hiệngiải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số như sau:

Hỗ trợ trực tiếp đến hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo ở các xã,thôn đặc biệt khó khăn; bảo đảm công khai minh bạch, đúng đối tượng

Các hộ được hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt phải sử dụng đúngmục đích để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống góp phần xóa đói, giảm nghèo;không được chuyển nhượng, tặng, cho, cầm cố, cho thuê đất ở, đất sản xuất trongthời gian 10 năm, kể từ ngày được Nhà nước giao đất

Lao động được hỗ trợ một phần kinh phí để đào tạo, chuyển đổi nghề phải

sử dụng đúng mục đích thông qua các cơ sở đào tạo nghề tại địa phương hoặc kếthợp với chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại các doanh nghiệp

Mỗi hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở các xã, thôn đặc biệtkhó khăn chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất theo quy định chỉ được hỗ trợ mộttrong các hình thức sau:

Một là, hỗ trợ đất sản xuất.

- Định mức đất sản xuất cho mỗi hộ: Căn cứ theo mức bình quân chung củatừng địa phương

- Những nơi còn quỹ đất thì được hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và được vay vốn

từ Ngân hàng Chính sách xã hội để tạo quỹ đất Mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương

Trang 25

và vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội cho mỗi hộ để tạo quỹ đất sản xuất bìnhquân 30 triệu đồng/hộ Trong đó, ngân sách Trung ương hỗ trợ 15 triệu đồng/hộ vàđược vay tín dụng tối đa không quá 15 triệu đồng/hộ, thời gian vay 5 năm với mứclãi suất bằng 0,1%/tháng tương đương với 1,2%/năm.

- Quỹ đất sản xuất để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèobao gồm: Đất Nhà nước quy hoạch để hỗ trợ cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo theo quy định tại Quyết định này; đất thu hồi từ các nông, lâm trường vàcác doanh nghiệp, tổ chức sau khi sắp xếp lại theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày16/06/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâmtrường quốc doanh; đất khai hoang phục hóa, đất được hiến, mua, chuyển nhượng tựnguyện; đất thu hồi từ các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai và các nguồn khác

Hai là, hỗ trợ chuyển đổi nghề Đối với những hộ có lao động học nghề để

chuyển đổi nghề thì được ngân sách Trung ương hỗ trợ tối đa 04 triệu đồng/laođộng; mức hỗ trợ cho từng lao động cụ thể căn cứ vào học phí, ngành nghề và thờigian học thực tế của lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

Những hộ có lao động, có nhu cầu vốn để mua sắm nông cụ, máy móc làmdịch vụ sản xuất nông nghiệp hoặc cần vốn để làm các nghề khác, tăng thu nhập, thìđược ngân sách Trung ương hỗ trợ 05 triệu đồng/hộ và được vay vốn tín dụng tối đakhông quá 15 triệu đồng/hộ, thời gian vay 05 năm với mức lãi suất bằng 0,1%/thángtương đương 1,2%/năm

Những hộ, lao động chuyển đổi nghề, ngoài việc được hưởng các chính sáchnêu trên, còn được hưởng các chính sách ưu đãi liên quan về dạy nghề theo quyđịnh hiện hành Ngoài mức hỗ trợ này, từng địa phương tùy theo khả năng nguồnngân sách mà quyết định mức hỗ trợ thêm

Ba là, hỗ trợ xuất khẩu lao động Đối tượng đi xuất khẩu lao động quy định

tại Quyết định này được thực hiện như cơ chế, chính sách quy định tại Quyết định

số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án

hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bềnvững giai đoạn từ năm 2009 - năm 2020

Trang 26

Bốn là, giao khoán bảo vệ rừng và trồng rừng Hộ gia đình thực hiện giao

khoán bảo vệ rừng và trồng rừng thuộc đối tượng quy định tại Quyết định này được thựchiện như cơ chế, chính sách quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đốivới 62 huyện nghèo và Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 của Thủ tướngChính phủ về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn từ năm 2011 -năm 2020

1.3 Lý luận pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.1 Khái niệm pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là mộtchế định cơ bản của pháp luật đất đai nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng

và chính sách dân tộc của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai Lĩnh vực pháp luật này baogồm các quy định về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Mặc dùkhái niệm pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số được

sử dụng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật song tại Điều 3 Luật đất đai năm

2013 về giải thích từ ngữ lại không giải thích cụ thể về khái niệm này Nghiên cứu nộidung các quy định hiện hành về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số, theo tác giả, khái niệm chế định pháp luật này có thể được hiểu như sau: Pháp luật vềgiải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là một chế định cơ bản củapháp luật đất đai gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảmbảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm điều chỉnh mối quan hệ

xã hội phát sinh trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Bên cạnh các đặc điểm chung của pháp luật đất đai, lĩnh vực pháp luật nàycòn mang một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc

thiểu số chủ yếu bao gồm các quy phạm pháp luật được ban hành ở các văn bảndưới luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương banhành dưới hình thức quyết định, chỉ thị, thông tư… Luật đất đai năm 2103 có một

Trang 27

điều quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo giải quyết đất ở, đấtsản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số7 Tuy nhiên, đây chỉ là quy định mang tínhnguyên tắc tạo cơ sở pháp lý cơ bản để Chính phủ cụ thể hóa ở các văn bản hướngdẫn thi hành được ban hành dưới hình thức nghị quyết, quyết định…

Hai là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc

thiểu số điều chỉnh mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan nhà nước và giữacác cơ quan nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số trong việc giải quyết đất ở, đấtsản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Như vậy, phạm vi áp dụng của lĩnh vựcpháp luật này tương đối hẹp và cụ thể Đối tượng áp dụng của pháp luật về giảiquyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm: Các cơ quan nhànước với nhau và các cơ quan nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số trong việcgiải quyết đất ở, đất sản xuất

Ba là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số mang tính chất liên ngành luật Nó bao gồm các quy phạm pháp luật đất đai, quyphạm pháp luật hiến pháp và quy phạm pháp luật của một số đạo luật có liên quan

Bốn là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số là lĩnh vực pháp luật công Nó điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội mà một bên chủthể là các cơ quan nhà nước (đại diện cho Nhà nước) - với tư cách chủ sở hữu đạidiện về đất đai - trong việc giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số Đây chính là một phương thức cụ thể để Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sởhữu toàn dân về đất đai được quy định tại Điều 13 Luật đất đai năm 2013

Năm là, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu

số thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân tộc

Nó không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc mà còn mang tính an sinh xã hội trongviệc ghi nhận và bảo hộ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

1.3.2 Cơ sở của việc xây dựng pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.2.1 Những thay đổi chính về chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số đòi hỏi pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất

7 Điều 27 Luật đất đai năm 2013.

Trang 28

cho đồng bào dân tộc thiểu số phải thay đổi góp phần thực hiện mục tiêu, giải pháp phù hợp với sự thay đổi đó.

- Việc ban hành Luật hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi tạo

cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất để xây dựng nguồn lực cho cho việc phát triểncủa vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới

- Thực tiễn thực hiện công tác dân tộc, chính sách giải quyết đất ở, đất sảnxuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cho thấy:vùng dân tộc thiểu số và miền núi có điều kiện tự nhiên khó khăn, hiểm trở, thườngxuyên chịu ảnh hưởng và tác động lớn của thiên tai, lũ lụt; kết cấu hạ tầng (điện -đường - trường - trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng vẫncòn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái; tỷ lệ hộ nghèo,cận nghèo còn cao so mới mức bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênhlệch về mức sống, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa cácvùng ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả về giáo dục và đào tạo còn thấp, công tácchăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn; tình trạng di

cư tự do vẫn còn diễn biến phức tạp; bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu

số đang bị mai một Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên; trong đó,nguyên nhân chủ yếu là hệ thống chính sách, pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuấtcho đồng bào dân tộc thiểu số hiện hành còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, chưahoàn thiện; thiếu một cơ chế pháp lý thống nhất để các cơ quan nhà nước phối hợptrong quản lý, hoạch định, xây dựng, thực hiện và theo dõi, đánh giá các chính sáchđối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi, người dân tộc thiểu số, cụ thể:

Một là, văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực dân tộc, chính sách giải

quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số có tính ổn định không cao,chủ yếu là các văn bản dưới luật quy định cụ thể chế độ, chính sách áp dụng đối vớivùng dân tộc thiểu số và miền núi Chính sách chưa phù hợp với đặc thù vùng dântộc và miền núi; chính sách ban hành trước và sau thiếu sự kết lối về nội dung;chính sách thường có mục tiêu lớn, thời gian thực hiện ngắn, gắn với nhiệm kỳ nênhiệu quả chưa cao

Trang 29

Hai là, các chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc

thiểu số do nhiều chủ thể ban hành nhưng thiếu cơ chế phối hợp thống nhất giữa các

Bộ, ngành, địa phương trong hoạch định, thực hiện và theo dõi, đánh giá nên có sựchồng chéo về nội dung, đối tượng thụ hưởng và thời gian thực hiện, khó lồng ghép.Một số văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện chính sách chưa kịp thời hoặc chậmđược sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, chưa phát huy được nội lực củangười dân, chưa đảm bảo tăng cường sự quản lý nhà nước một cách thống nhất

Ba là, thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu theo từng dân tộc, hệ thống chỉ tiêu

thống kê quốc gia về dân tộc phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quanquản lý nhà nước làm cơ sở cho việc đánh giá, dự báo, hoạch định chiến lược, chínhsách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và vùng dân tộcthiểu số và miền núi

Bốn là, thiếu cơ chế phân bổ ngân sách ổn định dành cho vùng dân tộc thiểu

số theo tỷ lệ% tính trên tổng chi ngân sách nhà nước Nguồn lực tài chính phân bổdàn trải, thiếu tập trung, việc bố trí vốn cho các chính sách chưa thể hiện rõ tính ưutiên, thiếu chủ động về kinh phí, chưa đảm bảo mục tiêu và kế hoạch đã được phêduyệt Việc huy động nguồn lực từ ngân sách địa phương, từ cộng đồng còn ít

Do đó, việc xây dựng pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bàodân tộc thiểu số dân tộc thiểu số nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của các luậtchuyên ngành có liên quan đến lĩnh vực dân tộc, công tác dân tộc; xây dựng các cơchế cụ thể nhằm đảm bảo thực hiện các chính sách này đối với vùng dân tộc thiểu số

và miền núi được quy định trong các luật chuyên ngành, phù hợp với những đặc thù

về văn hóa và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số; khắc phục những chồng chéo,dàn trải của chính sách, pháp luật chuyên ngành liên quan đến công tác dân tộc; tạokhung pháp lý thống nhất đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ đối với đồng bào dân tộc thiểu số gắn với mục tiêu phát triển bền vững

1.3.2.2 Những thay đổi về kinh tế - xã hội tác động mạnh đến việc tổ chức thực hiện chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 30

Sau 30 năm đổi mới, nhất là từ khi có Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày27/11/1989 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươnglần thứ 7 (khóa IX), tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số cóbước chuyển biến quan trọng Nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở miền núi

và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng sản xuất hàng hóa Việc triển khai thực hiện nhiều chính sách, chươngtrình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân

ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt Công tác xóa đói, giảm nghèođạt được những kết quả to lớn Giáo dục phát triển, mặt bằng dân trí được nâng lên.Văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy

Nền kinh tế nước ta vượt qua ngưỡng nước nghèo vào năm 2008 khi tổngsản phẩm trong nước bình quân đầu người đạt 1.152 USD/người và nền kinh tế nóichung, công tác dân số nói riêng không còn cơ hội nhận được các nguồn vốn viện trợ,vốn vay ưu đãi của các tổ chức quốc tế và các quốc gia trong những năm sau đó Khivượt qua ngưỡng của nước nghèo thì nhiều chính sách phát triển kinh tế và quản lýkinh tế thay đổi hướng tới mục tiêu chất lượng và tạo cơ hội bình đẳng trong phát triển.Những ảnh hưởng của chính sách phát triển và sự phát triển có thể không đồng bộ, kinh

tế ở miền núi và các vùng dân tộc còn chậm phát triển Kết cấu hạ tầng ở một số vùngcao, vùng sâu, vùng xa còn thấp kém Môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái Tỷ lệđói nghèo hiện còn cao so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch

về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáodục và đào tạo còn thấp; công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở vùng sâu, vùng

xa còn nhiều khó khăn Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu sốđang bị mai một Một số nơi đồng bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kíchđộng, lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Tình hình này cónhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ phía các chính sách đề ra Thực tế chothấy, một số chính sách mới chỉ dừng lại ở những quy định mang tính khuyến khíchchung nên kết quả hỗ trợ còn hạn chế Một số chính sách lại chưa sát thực tế, hình thứcthực hiện chưa phù hợp với đối tượng là người dân tộc thiểu số Tiến bộ thực hiện các

Trang 31

chính sách, chương trình hỗ trợ còn chậm, rời rạc, dàn trải, chưa đáp ứng yêu cầu Mặtkhác, một số chính sách hỗ trợ tuy đã được quy định trong các các văn bản dưới luậtnhư nghị định, quyết định, thông tư nhưng để thực hiện được phải áp dụng nhiều quyđịnh của Luật chuyên ngành và chịu sự điều chỉnh của các luật đó, như Luật ngânsách nhà nước, Luật đất đai, Luật đầu tư và hàng trăm văn bản hướng dẫn thihành Vì vậy, việc thực hiện các chính sách nói trên trong thực tiễn bị chia cắt, thựchiện một cách rời rạc, manh mún và dàn trải Đó là một thách thức rất lớn khi thựchiện trong thực tiễn các chính sách đất ở, đất sản xuất đối với vùng dân tộc thiểu số

và miền núi Vì vậy, nếu không có một luật ở mức độ pháp điển hóa cao quy định vềnhững chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số mang tínhkhả thi thì đồng bào dân tộc vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong quá trình phát triển

Qua kết quả điều tra kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, thấyrằng nhiều vấn đề nổi lên đáng lo ngại như: tỷ lệ nghèo dân tộc thiểu số 23,1%, cậnnghèo 13,6%, cao gấp 04 lần so với mức bình quân chung của cả nước; tỷ lệ tảo hôndân tộc thiểu số: 26,6%, có 19 dân tộc trên 40%, cao nhất 73%; tỷ lệ người dân tộcthiểu số từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, không biết viết chữ phổ thông là 20,8%,

có 06 dân tộc trên 50%, cao nhất là 65,6%; còn có 80.096 hộ thiếu đất ở, chiếm2,74% tổng số hộ dân tộc thiểu số; 221.754 hộ thiếu đất sản xuất, chiếm 7,49% hộdân tộc thiểu số cả nước

Những hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân làthiếu văn bản quy phạm pháp luật ngang tầm với nhiệm vụ làm công cụ pháp lý đểnâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc và thực hiện chínhsách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.2.3 Những thay đổi khác biệt của quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền có tác động mạnh đến việc xây dựng nội dung cụ thể, chi tiết của pháp luật giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Việc xây dựng và ban hành Luật hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số vàmiền núi nhằm hoàn thiện nhà nước pháp quyền:

Trang 32

- Thể chế hóa đầy đủ và đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng về côngtác dân tộc thời kỳ đổi mới, nhằm phát triển toàn diện đời sống kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội, quốc phòng, an ninh cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nêu tại Nghịquyết Hội nghị lần thứ 07, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dântộc và các văn kiện khác của Đảng Đồng thời thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TWngày 26/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và các văn kiện khác củaĐảng Trong đó xác định nhiệm vụ thể chế hoá toàn diện chính sách "bình đẳng, tôntrọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng pháttriển", giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc

- Việc xây dựng Luật còn nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm2013: "Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để cácdân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước" (Khoản 4, Điều 5).Khắc phục những bất cập về chính sách, pháp luật trong lĩnh vực dân tộc và miềnnúi: Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về công tácdân tộc Tuy nhiên, những chính sách này chưa thể hiện rõ tính chiến lược, chưađồng bộ, thiếu cụ thể, thường áp dụng một mô hình cho nhiều vùng, nhiều dân tộc

và chủ yếu mới đáp ứng những yêu cầu cấp bách, trước mắt Một số chủ trương,chính sách được xây dựng còn thiên về cách tiếp cận từ trên xuống, mang tính ápđặt, vẫn bị ảnh hưởng của mô hình phát triển của dân tộc Kinh nên không phù hợp.Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa chủ trương, đường lối củaĐảng về công tác dân tộc đã phát huy tác dụng nhất định trong việc phát triển kinh

tế, xã hội, văn hóa và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi.Nhưng các quy định này chủ yếu lại nằm rải rác, tản mạn ở rất nhiều văn bản luậtchuyên ngành, thường mang tính quy định chung về những ưu tiên, ưu đãi dành chođồng bào dân tộc thiểu số trong lĩnh vực kinh tế - xã hội Trong số các văn bản quyphạm pháp luật chuyên về công tác dân tộc chỉ có một nghị định duy nhất (Nghịđịnh số 05/2011/NĐ-Cp ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc) Các văn bản còn lạichủ yếu dưới dạng thông tư hoặc quyết định phê duyệt các chương trình, kế hoạch

Trang 33

hỗ trợ phát triển, chủ yếu mang tính chất quản lý, điều hành việc thực hiện, triểnkhai các dự án, chương trình đầu tư, hỗ trợ cụ thể Hơn nữa, do là văn bản dưới luậtnên tính ổn định không cao, lại được nhiều chủ thể ban hành nên có sự chồng chéo,trong khi đó cơ chế phối hợp thực hiện chưa rõ nên việc triển khai chính sách hỗ trợvùng dân tộc thiểu số và miền núi còn nhiều khó khăn, vướng mắc

1.3.3 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ nhất, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách về

dân tộc nói chung và chính sách đất đai nói riêng của Nhà nướcảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồngbào dân tộc thiểu số ở nước ta

Như chúng ta đã biết do thể chế chính trị của nước ta là thể chế Đảng Cộngsản lãnh đạo duy nhất và toàn diện về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội thông qua việc ban hành quan điểm, đường lối Dựa trên quan điểm, đường lốicủa Đảng, Nhà nước xây dựng chính sách và pháp luật là sự thể chế hóa quan điểm,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các quy phạm cụ thể mang tínhcưỡng chế thực hiện Do vậy, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách về dân tộcnói chung và chính sách đất đai nói riêng của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đếnpháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta

Thứ hai, chế độ sở hữu đất đai ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết đất ở,

đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta

Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu đất đai: Đất đai thuộc sở hữu toàndân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Pháp luật đất đai quyđịnh quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước trong việc phânphối đất đai cho các nhu cầu của xã hội; quy định mục đích sử dụng đất, thời hạn sửdụng đất và hạn mức sử dụng đất v.v Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhànước đại diện đã để lại dấu ấn đậm nét trong nội dung các quy định của pháp luật vềgiải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta với biểu hiện:

Trang 34

Một là, Nhà nước với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và

thống nhất quản lý đất đai có quyền giao đất, cho thuê đất ở, đất sản xuất cho đồngbào dân tộc thiểu số; có quyền quy định thời hạn sử dụng đất, hạn mức sử dụng đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; quy định quyền và nghĩa vụ của đồngbào dân tộc thiểu số trong sử dụng đất ở, đất sản xuất; đồng thời, Nhà nước có tráchnhiệm đảm bảo đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số…

Hai là, Nhà nước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất ở, đất

sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số; thanh tra, kiểm tra việc quản lý và sử dụngđất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số; giải quyết tranh chấp về đất ở, đấtsản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số v.v

Thứ ba, trình độ phát triển và trình độ dân trí ảnh hưởng đến pháp luật về

giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số Yếu tố này thể hiệnđậm nét ở khía cạnh thực thi pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồngbào dân tộc thiểu số Do sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc và sự tiếpcận, hiểu biết pháp luật khác nhau giữa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước cấp cơsở; đồng bào dân tộc nên việc tự giác tuân thủ pháp luật về giải quyết đất ở, đất sảnxuất của đồng bào dân tộc thiểu số có sự khác nhau Ở những vùng có điều kiệnphát triển kinh tế - xã hội và trình độ dân trí của đồng bào dân tộc cao hơn thì sựhiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bàodân tộc thiểu số cao hơn những khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn, khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn

Thứ tư, phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào

dân tộc thiểu số ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồngbào dân tộc thiểu số Điều này thể hiện khi áp dụng các quy định về giải quyết đất

ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số, chúng ta không chỉ dựa trên quanđiểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; áp dụng dập khuôn máy móchoặc áp đặt nhận thức, suy nghĩ của người Kinh mà phải tính đến các yếu tố phongtục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Mỗi mộtdân tộc có phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống riêng Hơn nữa, mỗi

Trang 35

khu vực đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lại có điều kiện hoàn cảnh, lịch sửriêng Vì vậy, việc xây dựng và thực thi pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuấtcủa đồng bào dân tộc thiểu số bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc chung cònphải tính tới các yếu tố đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số Có như vậy thì phápluật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số mới đi vào cuộcsống và phát huy vai trò tích cực trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ởnước ta.

Kết luận Chương 1

1 Nước ta là quốc gia có 54 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống, đoàn kết,tương trợ, hợp tác, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển Đây làtruyền thống vô cùng quý báu đã giúp dân tộc Việt Nam đương đầu và vượt qua mọikhó khăn, thách thức trong công cuộc dựng nước và giữ nước Do sự phát triểnkhông đồng đều giữa các dân tộc Về cơ bản 53 dân tộc thiểu số có mức phát triểnchưa tương thích với dân tộc đa số là dân tộc Kinh

Tuy chiếm số lượng thiểu số nhưng 53 dân tộc cư trú, phân bố trên phạm vi35% lãnh thổ, ở những vùng có vị trí địa chính trị, an ninh, quốc phòng và môitrường sinh thái rất quan trọng Việc đảm bảo ổn định đời sống của đồng bào dântộc thiểu số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững chủ quyền, an ninhbiên giới, lãnh thổ quốc gia

2 Hiện nay, đồng bào dân tộc thiểu số đang phải đối mặt với tình trạngthiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhânkhác nhau và không loại trừ một số nguyên nhân mang tính lịch sử Nếu không giảiquyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số sẽ tiềm ẩn nguy cơxung đột xã hội và bị các thế lực phản động lôi kéo, xúi giục, kích động gây mất ổnđịnh chính trị Mặt khác, giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số còn nhằm thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thể hiện sự bình đẳng, tính nhân văn và ansinh xã hội trong quan điể, đường lối, chinh sách của Đảng và Nhà nước

Trang 36

3 Pháp luật về giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số được xây dựng và ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi tráchnhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất chođồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta Nội dung các quy định về vấn đề này chủ yếunằm ở các văn bản dưới luật do Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương banhành nên tính pháp lý chưa cao.

Mặt khác, lĩnh vực pháp luật này chịu ảnh hưởng của một số yếu tố cơ bảnbao gồm quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách về dân tộc nói chung và chínhsách đất đai nói riêng của Nhà nước; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; trình độphát triển và trình độ dân trí; phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống củađồng bào dân tộc thiểu số v.v

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

TẠI TỈNH YÊN BÁI

2.1 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

2.1.1 Giai đoạn trước thời kỳ Đổi mới (trước năm 1986)

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh emcùng sinh sống Trong lịch sử 4.000 năm, các dân tộc sinh sống trêndải đất hình chữ S đã đoàn kết, chung sức chung lòng đấu tranhchống ngoại xâm giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và phát triển đất

nước với truyền thống tương thân tương ái tốt đẹp "Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" Truyền

thống đại đoàn kết dân tộc được đúc kết từ các cuộc kháng chiếntrường kỳ chống ngoại xâm là bài học vô cùng quý giá mà các thế hệtiền nhân truyền lại cho con cháu phải duy trì, củng cố và giữ gìn.Nhận thức sâu sắc bài học đại đoàn kết dân tộc, Đảng và Nhà nướcxác định vấn đề dân tộc chiếm vị trí trọng yếu, cốt tử Các quanđiểm, đường lối, chính sách, pháp luật về ưu tiên đầu tư, giúp đỡđồng bào dân tộc thiểu số đã lần lượt được ban hành; trong đó, cóchính sách về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số Chính sách đại đoàn kết dân tộc nói chung và chính sáchgiải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nóiriêng đã được thể hiện trong các Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980.Tiếp đó, văn bản pháp luật đề cập tương đối toàn diện việc quản lý

và sử dụng đất là Quyết định số 201/CP ngày 01/07/1980 của Chínhphủ về tăng cường công tác quản lý đất đai trong phạm vi cả nước.Trong Quyết định này vấn đề giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng

Trang 38

bào dân tộc thiểu số được thể hiện lồng ghép trong các quy định vềquản lý và sử dụng đất đai Nghiên cứu pháp luật về giải quyết đất

ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở giai đoạn này, tác

giả rút ra một số nhận xét sau đây: một là, vấn đề giải quyết đất ở,

đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số chưa được đề cập một cáchtrực diện, cụ thể và đầy đủ trong một văn bản pháp luật Vấn đề này được lồng ghéptrong nội dung các quy định về quản lý, sử dụng đất và thể hiện còn khá mờ nhạt;

hai là, vấn đề giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số được quy định rải rác ở các văn bản pháp luật do các cơquan nhà nước khác nhau ban hành mà chưa có tình hệ thống Mặtkhác, hiệu lực pháp lý của các quy định này chưa cao do còn thiếumột đạo luật đề cập cụ thể vấn đề giải quyết đất ở, đất sản xuấtcho đồng bào dân tộc thiểu số

2.1.2 Giai đoạn sau Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đặt nền móng cho công cuộcđổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định:

Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc Trongviệc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộcthiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệgắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp

đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xãhội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả nhữngngười từ nơi khác đến và dân tại chỗ Chống những thái độ và nhữngbiểu thị tư tưởng -dân tộc lớn’’ và những biểu hiện của dân tộc hẹp hòi8 Ngày 27/11/1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xãhội miền núi Thể chế hóa quan điểm của Đảng về chính sách dântộc được ghi nhận trong các nghị quyết nêu trên, Hội đồng Bộ

8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987

Trang 39

trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa bằng Quyết định số HĐBT ngày 13/02/1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thểphát triển kinh tế - xã hội miền núi Đây là hai văn kiện quan trọngđánh dấu sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc và chính sách dântộcnói chung và và pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất chođồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.

Tiếp đó, Hiến pháp năm 1992 ra đời đã quy định:

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nướcthống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhànước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dântộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc cóquyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huynhững phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nângcao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số9

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua thay thế Hiếnpháp năm 1992 nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế đã long trọng khẳng định:

1 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thốngnhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2 Các dântộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêmcấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; 3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc,phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình;

4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện đểcác dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước10

9 Điều 5 Hiến pháp năm 1992.

10 Điều 5 Hiến pháp năm 2013.

Trang 40

Thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về ưu tiên phát triển đối vớiđồng bào dân tộc thiểu số, Luật đất đai năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhànước trong việc đảm bảo đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số; theo đó:

"1 Có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu sốphù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từngvùng; 2 Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sảnxuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp"11 Tuy nhiên, đạoLuật này mới dừng lại ở quy định mang tính nguyên tắc về giải quyết đất ở, đất sảnxuất của đồng bào dân tộc thiểu số Vấn đề này được quy định với những giải pháp

cụ thể tại Quyết định số 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chínhsách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo ở xã, thôn đặc biệt khó khăn; Quyết định số 29/2013/QĐ -TTg ngày20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở vàgiải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn vùng đồng bằngsông Cửu Long giai đoạn từ năm 2013 - năm 2015; Thông tư số 02/2013/TT-UBDTngày 24/6/2013 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc hướng dẫn thực hiệnmột số điều của Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướngChính phủ về ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dântộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 - 2015; Nghị định số 41/2010/NĐ-CPngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nôngnghiệp, nông thôn v.v Tìm hiểu chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sảnxuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn này, tác giả rút ra một số nhận xét:

một là, hệ thống chính sách, pháp luật về giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng

bào dân tộc thiểu số được xây dựng và ban hành tương đối cụ thể, từng bước hoànthiện đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào

dân tộc thiểu số trên thực tế; hai là, các quy định giải quyết đất ở, đất sản xuất đối

với đồng bào dân tộc thiểu số được đề cập trong các văn bản có hiệu lực pháp lý caonhất như Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp 2013, Luật đất đai năm 2013 đã ràng

11 Điều 27 Luật đất đai năm 2013.

Ngày đăng: 10/01/2023, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chính phủ (2004), Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/07/2004 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/07/2004 của Thủtướng Chính phủ về hỗ trợ giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nướcsinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
3. Chính phủ (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 về công tácdân tộc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
4. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
5. Chính phủ (2013), Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủtướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giảiquyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khănvùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
6. Chính phủ (2013), Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2013 - 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạtcho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặcbiệt khó khăn giai đoạn 2013 - 2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
7. Chính phủ (2013), Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 4/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 4/6/2013 của Thủ tướngChính phủ về việc tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiệnđịnh canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
8. Chính phủ (2013), Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 40/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 40/12/2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Chương trình hành động thực hiện Chiến lược côngtác dân tộc đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Cơ quan Thường trực Khu vực đồng bằng sông Cửu Long (2006), "60 năm công tác dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long - Thực tiễn và bài học", Kỷ yếu Khoa học: 60 năm công tác dân tộc - Thực tiễn và bài học kinh nghiệm, do Viện Dân tộc - Ủy ban Dân tộc tổ chức tháng 06/2006 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 năm côngtác dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long - Thực tiễn và bài học
Tác giả: Cơ quan Thường trực Khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Năm: 2006
10. Khổng Diễn (Chủ nhiệm) (2006), Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược phát triển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến năm 2020, Báo cáo tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học xây dựng chiến lược pháttriển các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Khổng Diễn (Chủ nhiệm)
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương Khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấphành trung ương Khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
17. Văn Kiện (2015), "Truy trách nhiệm Bộ trưởng vụ xây biệt phủ trong rừng cấm", Báo Tiền phong, ngày 28/8/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truy trách nhiệm Bộ trưởng vụ xây biệt phủ trong rừngcấm
Tác giả: Văn Kiện
Năm: 2015
18. Ngân hàng Thế giới (2012), Sửa đổi Luật đất đai để thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam, Bản tóm tắt các khuyến nghị chính sách ưu tiên rút ra từ các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi Luật đất đai để thúc đẩy phát triển bềnvững ở Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2012
19. Nguyễn Vinh Quang, Lê Văn Lân, Lưu Đức Khải, Ngô Văn Hồng, Tạ Long, Nguyễn Hải Xuân (2016), Hiện trạng giao đất lâm nghiệp từ các công ty lâm nghiệp cho người dân địa phương và các khuyến nghị chính sách , Báo cáo nghiên cứu, Chương trình Quản trị đất đai khu vực Mê kông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng giao đất lâm nghiệp từ các công tylâm nghiệp cho người dân địa phương và các khuyến nghị chính sách
Tác giả: Nguyễn Vinh Quang, Lê Văn Lân, Lưu Đức Khải, Ngô Văn Hồng, Tạ Long, Nguyễn Hải Xuân
Năm: 2016
24. Đặng Kim Sơn và cộng sự (2013), Rà soát, phân tích các chính sách dân tộc thiểu số và hỗ trợ xây dựng hệ thống chính sách cho Ủy ban Dân tộc đến 2020, Báo cáo nghiên cứu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát, phân tích các chính sách dân tộcthiểu số và hỗ trợ xây dựng hệ thống chính sách cho Ủy ban Dân tộc đến2020
Tác giả: Đặng Kim Sơn và cộng sự
Năm: 2013
25. Tổ chức Oxfam tại Việt Nam (2013), Báo cáo về tham vấn cộng đồng góp ý kiến Dự thảo Luật đất đai năm 2003 sửa đổi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tham vấn cộng đồng góp ýkiến Dự thảo Luật đất đai năm 2003 sửa đổi
Tác giả: Tổ chức Oxfam tại Việt Nam
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w