1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa tăng trưởng với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Liên hệ ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1996 đến nay.DOC

31 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Với Chuyển Dịch Cơ Cấu Ngành Kinh Tế. Liên Hệ Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Từ 1996 Đến Nay
Tác giả Cấn Thị Thanh Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Đồ Án Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 231 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa tăng trưởng với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Liên hệ ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1996 đến nay

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 5

I Các khái niệm 5

1 Tăng trưởng kinh tế 5

2 Phát triển kinh tế 6

3 Khái niệm về cơ cấu ngành của một nền kinh tế 6

4 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 8

II Mối quan hệ qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 9

1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 9

2 Vai trò của cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển 11

3 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình tăng trưởng và phát triển 11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1996 ĐẾN NAY 13

I Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1996 đến nay 13

1 Nền kinh tế nước ta đã liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định 13

2 Tăng trưởng kinh tế đã dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh tế khu vực và thế giới 13

3 Tăng trưởng và phát triển kinh tế đã đưa đến nâng cao trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cư 15

4 Tăng trưởng và phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết việc làm, gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội 16

II Thực trạng về tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng giai đoạn 1996 đến nay 17

1 Những thành tựu đã đạt được 17

1.1 Cơ cấu ngành kinh tế dần chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH 17

Trang 2

1.2 Công cuộc đổi mới và chuyển dịch cơ cấu tạo cho nền kinh tế mức tăng

trưởng ngày càng cao 19

1.3 Đóng góp của các ngành công nghiệp và dịch vụ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chiếm tỷ trong cao 20

1.4 Cơ cáu kinh tế đã chuyển dịch dần theo hướng hướng vào xuát khẩuđòng thời thay thế nhập khẩu 22

2 Những bất cập còn tồn tại 22

3 Nguyên nhân 24

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRI ỂN Ở VIỆT NAM 25

I Xác định mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu trong mối quan hệ với tăng trưởng trong giai đoạn nhất định 25

1 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải tiến tới một cơ cấu hợp lý, đó là một cơ cấu đa ngành, trong đó hình thành các ngành trọng điểm mũi nhọn 25

2 Kết hợp tối ưu giá cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế 25

3 Hình thành và phát triển các ngành trọng điểm và mũi nhọn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 26

II Một só giải pháp thúc đảy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta 27

1 Cần lựa chọn mô hình phát triển hợp lý, nâng cao chất lượng các chiến lược, quy hoạch phát triển ngành 27

2 Phát triển mạnh mẽ thị trường 27

3 Đầu tư, chuyển dịch cơ cấu đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư 28

4 Đổi mới và phát triển công nghệ 28

5 Về cơ sở hạ tầng: 28

6 Về chính sách vĩ mô: 28

7 Về quan hệ quốc tế: 28

C KẾT LUẬN 30

Tµi liÖu tham kh¶o 31

Trang 3

A LỜI MỞ ĐẦU

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung quan trong nhất trongđường lối CNH-HĐH của Đảng ta trong giai đoạn phát triển từ nay đến năm 2020 Thựctiễn cho thấy, trình độ phát triển càng cao, quá trình hội nhập kinh tế càng sâu thì việc điềuchỉnh cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp càng trở nên quan trọng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển, là thuộc tính của hệthống kinh tế, nó quy định tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế Nếu có được cơcấu kinh tế hợp lý sẽ có khả năng tạo ra tăng trưởng nhanh và hiệu quả cao Ngược lại khi

có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ có khả năng tăng mức tích lũy để đầu tư cải tạo cơ cấukinh tế Sự hợp lý của cơ cấu kinh tế đảm bảo cho tăng trưởng nhanh và bền vững, màdạng quan trọng nhất của nó chính là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986 đến nay, rõ nhất là từ năm 1990

cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với tiến trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh vàchiếm tỷ trọng lớn Những chuyển biến đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độtăng trưởng nhanh và ổn định

Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó cũng mới chỉ là bước đầu vànhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nôngnghiệp, dân cư sống ở nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn Để đạtđược mục tiêu đến năm 2020: “Đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp có cơ

sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế ngành hợp lý với tỷ trọng ngành nôngnghiệp chiếm dưới 10%, công nghiệp 35 – 40%, dịch vụ chiếm 50 – 60% trong tổngGDP” Mà Đại hội VIII đã đề ra thì còn nhiều vấn đề phải được tiếp tục nghiên cứu và cógiải pháp sát thực

Với lý do đó, em chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng trưởng với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Liên hệ ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1996 đến nay” Đề tài này

nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng trưởng Kết cấucủa bài viết này gồm:

Chương I: Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế

Trang 4

Chương II: Phân tích về thực trạng tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngànhtác động đến tăng trưởng kinh tế từ đó đưa ra đánh giá về những thành tựu và bất cập còntồn tại

Chương III: Đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế một cách hiệu quả, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Em xin trân thành cảm ơn Cô giáo Th.s Nguyễn Quỳnh Hoa đã hướng dẫn em vàgiúp đỡ em hoàn thành đề án này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian và thông tin có hạn nên bài viếtkhông tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp của Cô giáo

Trang 5

B NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA

TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

NGÀNH KINH TẾ

I Các khái niệm

1 Tăng trưởng kinh tế

Theo nghĩa chung nhất, tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng lênhay gia tăng về quy mố sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường làmột năm) Hay nói một cách khác cụ thể hơn, tăng trưởng kinh tế là do tăng thu nhập quốcdân và thu nhập quốc dân đầu người

Tăng trưởng kinh tế được xác định bằng cách so sánh quy mô sản lượng giữa cácthời kỳ Có hai cách so sánh tuyệt đối và tương đối

- Mức tăng tuyệt đối: y = Yn – Y0

Trong đó: Yn là sản lượng của năm n, còn Y0 là sản lượng của năm so sánh (nămgốc)

Như vậy, mức tăng trưởng tuyệt đối phản ánh mức độ tăng quy mô sản lượng

- Mức tăng trưởng tương đối hay là tốc độ tăng trưởng (gy)

gy = Yn/Yo hay (Yn – Yo)/YoTrong kinh tế vĩ mô, Y chính là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩmquốc dân (GNP)

Có thể nói, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Càngngày thì tăng trưởng kinh tế càng được gắn với yêu cầu tính bền vững hay việc bảo đảmchất lượng tăng trưởng ngày càng cao Tức là tăng trưởng không những phải nhanh màphải đảm bảo liên tục, có hiệu quả của các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bìnhquân đầu người Hơn thế nữa quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyếtđịnh là khoa học công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý

Trang 6

2 Phát triển kinh tế.

Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (tăng tiến) về mọi mặt của nềnkinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sảnlượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội Phát tiển kinh tế là quá trìnhbiến đổi cả về lượng và về chất của nền kinh tế, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quátrình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia

Phát triển kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, sự tăng lên của tổng thu nhập nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình

quân đầu người

Thứ hai, sự thay đổi (tiến bộ) về cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành Đây là tiêu

thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế quốc gia

Thứ ba, sự tiến bộ về mặt xã hôi Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong

các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xoá bỏnghèo đói, suy dinh dưỡng, khẳ năng tiếp cận tới các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dânchí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân,…làm cho con người ngày càng có cuộcsống tốt hơn

Nếu nền kinh tế chỉ nhìn theo khía cạnh tăng trưởng thì chưa đủ, để nhìn toàn diệnphải nhìn trên phương diện phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là lượng thì phát triểnkinh tế phải là cả lượng và chất Như vậy, đánh giá về phát triển kinh tế phải dựa trên đánhgiá của các khía cạnh: Đánh giá sự thay đổi về lượng, đánh giá về sự biến đổi trong cơ cấucủa nền kinh tế, đánh giá về sự thay đổi trong các vấn đề xã hội

Ngày nay khi nói đến phát triển người ta thường nhắc đến khái niệm phát triển bềnvững, nghĩa là “phải có tính liên tục, mãi mãi hoặc các lợi ích của nó phải được duy trìkhông hạn định”

3 Khái niệm về cơ cấu ngành của một nền kinh tế.

Cơ cấu ngành kinh tế là sự tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, thểhiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa cácngành với nhau

Mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định,

Trang 7

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Cơ cấu ngành của một nền kinh tế là tập hợptất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữachúng.

Có nhiều cách phân loại ngành khác nhau khi nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấungành Song cho đến nay chính thức tồn tại hai hệ thống phân ngành kinh tế: Phân ngànhkinh tế theo hệ thống sản xuất vật chất (MPS) và phân ngành theo hệ thống tài khoản quốcgia (SNA)

Theo hệ thống sản xuất vật chất, các ngành kinh tế được phân thành hai khu vực: Sảnxuất vật chất và không sản xuất vật chất Khu vực sản xuất vật chất và khôn sản xuất vậtchất được phân thành các ngành cấp I như: Công nghiệp, Nông nghiệp Các ngành cấp Ilại được phân thành các ngành cấp II, chẳng hạn ngành công nghiệp lại bao gồm các ngànhsản phẩm như: điện năng, nhiên liệu Đặc biệt trong các ngành công nghiệp người ta cònphân ra thành nhóm A và nhóm B

Theo hệ thống tài khoản quốc gia, các ngành kinh tế được phân thành 3 nhóm ngànhlớn là nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Ba ngành gộp này bao gồm 20ngành cấp I như: nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, khai mỏ khai khoáng, Các ngànhcấp I lại được phân nhỏ thành các ngành cấp II Các ngành cấp II lại được phân nhỏ thànhcác ngành sản phẩm

Có nhiều mức phân ngành khác nhau, tùy theo mức dộ gộp hay chi tiết hóa đếnchừng nào đó mà có được tập hợp các ngành tương ứng

Với một cách phân ngành hợp lý và một giá trị đại lượng được chọn thống nhất cóthể xác định được các chỉ tiêu định lượng phản ánh một mặt cơ cấu ngành, đó là tỷ trọngcác ngành so với tổng thể các ngành của nền kinh tế Loại chỉ tiêu định lượng thứ nhất nàyđược sử dụng để nghiên cứu liên quan đến phát triển cơ cấu ngành của nền kinh tế Chỉtiêu định lượng thứ hai có thể mô tả được phần nào mối quan hệ tác động qua lại giữa cácngành kinh tế, đó chính là các hệ số trong bảng cân đối liên ngành (của hệ MPS) hay bảnVào – Ra (I/O) (của hệ thống SNA)

Như vậy theo định nghĩa cơ cấu ngành đưa ra xét về mặt định lượng, ít ra phải có hailoại chỉ tiêu trên đây mới cho ta sự hiểu biết đầy đủ hơn về cơ cấu ngành của một nền kinhtế

Trang 8

4 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sựtăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi quan hệ tương quan giữa chúng sovới một thời điểm trước đấy

Theo định nghĩa này, điều chỉnh cơ cấu ngành chỉ diễn ra sau một khoảng thời giannhất định vì nó là một quá trình và sự phát triển của các ngành phải dẫn đến sự thay đổimối quan hệ tương đối ổn định vốn có của chúng (ở thời điểm trước đó) Trên thực tế, sựthay đổi này là kết quả của quá trình:

Xuất hiện thêm một số ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là có sự thayđổi về số lượng cũng như loại ngành trong nền kinh tế

Tăng trưởng về quy mô với nhịp độ khác nhau của các ngành dẫn đến thay đổi cơcấu Trong trường hợp này sự điều chỉnh cơ cấu ngành là kết quả của sự phát triển khôngđồng đều của các ngành sau mỗi giai đoạn

Chỉ tiêu xác định tốc độ biến đổi tương quan giữa các ngành kinh tế thường dùng lànhịp độ tăng trưởng ngành:

Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành Sự thay đổi này trướchết biểu thị bằng số ngành có liên quan Mức độ tác động qua lại của ngành này với cácngành khác qua quy mô đầu vào mà nó cung cấp cho các ngành hay nhận từ các ngành đó

Sự tăng trưởng của các ngàn dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành trong mỗi nền kinh tế.Cho nên, chuyển dich cơ cấu ngành xảy ra như là kết quả của quá trình phát triển Đó làquy luật tất yếu từ xưa đến nay trong hầu hết mọi nền kinh tế Vấn đề đáng quan tâm là ởchỗ : sự chuyển dich cơ cấu ngành diễn ra theo xu hướng nào, tốc độ nhanh chậm ra sao,

có những quy luật gì?

Có rất nhiều nền kinh tế đã đạt được thành công trong sự phát triển nhờ vào quátrình chuyển dịch cơ cấu ngành đặc thù phù hợp với điều kiện cụ thể Việc tìm ra một xuhướng hay giải pháp cho chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt Nam không đơn thuần là ápdụng kinh nghiệm có được mà là sự phát hiện những đặc thù của đất nước, của môi trườngtrong nước và thế giới hiện nay để làm thích ứng những bài học đã có cho hoàn cảnh ViệtNam

Trang 9

II Mối quan hệ qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khi xét đến sự tác động trên cácphương diện khác nhau: Xét về phương diện đầu vào có ba yếu tố, đó là vốn, lao động vànăng suất các nhân tố tổng hợp (TFB); Xét về phương diện cấu thành có ba khu vực: nông,lâm nghiệp – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ; Xét từ phương diện đầu ra có

ba yếu tố, đó là tích lũy – đầu tư, tiêu dùng cuối cùng và xuất khẩu ròng Nhìn trên bìnhdiện chung, các yếu tố nêu trên đều có vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến sốlượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến tácđộng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng

Như chúng ta đã biết, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là thuộc tính của hệ thống kinh tế,

nó quy định tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế làyếu tố tác động trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển Nếu có được cơ cấu kinh

tế hợp lý sẽ có khả năng tạo ra tăng trưởng nhanh và hiệu quả cao Cơ cấu kinh tế khôngchỉ tạo ra nhiều việc làm để giảm thất nghiệp mà còn tạo ra tăng trưởng kinh tế, gia tăngquy mô nền kinh tế, dẫn đến các mục tiêu khác của sự phát triển đều được giải quyết.Ngược lại khi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ có khả năng tăng mức tích lũy để đầu tưcải tạo cơ cấu kinh tế, hướng tới trạng thái hiện đại hơn, hiệu quả hơn Sự hợp lý của cơcấu kinh tế đảm bảo cho tăng trưởng nhanh và bền vững

Cơ cấu kinh tế có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển Đồng thời, tăngtrưởng kinh tế và biến đổi cơ cấu kinh tế là hai mặt của phát triển kinh tế Giữa chúng cómối quan hệ tác động qua lại như mối quan hệ tác động giữa lượng và chất mà trong đótăng trưởng chính là mặt lượng và cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất của quá trình phát triển

Cơ cấu kinh tế hợp lý thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đến lượt nó, tăng trưởng kinh tế tạođiều kiện cần thiết để hoàn thiện hơn nữa cơ cấu kinh tế trong tương lai Cơ cấu ngành là

bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế, sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định đến

sự biến động của nền kinh tế

Nếu tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) phản ánh động thái tăng trưởng thìchuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh chất lượng tăng trưởng Về mặt lý thuyết, việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia vừa là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh

tế vừa phản ánh bản chất của quá trình công nghiệp hoá Trong điều kiện hội nhập kinh tế

Trang 10

toàn cầu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh bản chất quá trình công nghiệp hoá, khảnăng thích nghi và mức độ hội nhập quốc tế của quốc gia về kinh tế Sự thay đổi cơ cấungành kinh tế hoặc cơ cấu vùng, cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ, cơ cấu quy mô hay cơcấu thành phần kinh tế…, về thực chất là điều chỉnh phương thức phân bổ và sử dụng cácnguồn lực Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành là tiêu điểm của chính sách côngnghiệp Thành công của công cuộc công nghiệp hoá phụ thuộc trực tiếp vào thành công củaviệc xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp.

Giữa tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ khăng khít với nhau,

cơ cấu kinh tế giữa các ngành ảnh hưởng rất lớn đến nhịp độ tăng trưởng của các ngành.Vốn đầu tư cũng như tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành có ảnh hưởng trực tiếp đến sự pháttriển của các ngành và cơ cấu các ngành trong toàn bộ nền kinh tế Không những thế mà nócòn ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu của các ngành Đó là những nhân tố tácđộng trực tiếp đến nhịp độ tăng trưởng chung của GDP toàn nền kinh tế Vốn đầu tư vàocác ngành khác nhau không những mang lại mức độ tăng trưởng khác nhau mà còn ảnhhưởng trực tiếp đến nhịp tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Tỷ lệ đầu tư vào các ngànhkhác nhau cũng mang lại sự chuyển dịch lớn về cơ cấu của GDP vì mỗi ngành sẽ có sựđóng góp khác nhau vào nhịp tăng GDP của vốn

Quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được xem xét như

là một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người Mặc dù có nhiều thay đổitrong quan niệm về phát triển và tăng trưởng nhưng chỉ tiêu trên vẫn được coi trọng và làmthước đo cho sự phát triển kinh tế Một xu hướng mang tính quy luật là cùng với sự pháttriển của kinh tế là một quá trình thay đổi về cơ cấu kinh tế, tức là một sự thay đổi tươngđối về mức đóng góp, tốc độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng về cấu thànhnên toàn bộ kinh tế Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu nhiềutrong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơ cấu ngành Ngay từcuối thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Đức E.Engle đã phát hiện ra mối quan hệ giữa pháttriển kinh tế (thu nhập bình quân tăng lên) với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Theo E.Engle, khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ cholương thực, thực phẩm giảm đi Do chức năng chính của khu vực nông nghiệp là sản xuấtlương thực, thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế

sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên

Trang 11

Quy luật E.Engle được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩm nhưng nó

có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứu tiêu dùng các loại sảnphẩm khác Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm là các sản phẩm thiết yếu, hàngcông nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền và việc cung cấp dịch vụ là sự tiêu dùng caocấp Qua quá trình nghiên cứu, họ phát hiện ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì

tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với thu nhập, còn chi tiêu cho tiêudùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập, tức là tỷ trọng của ngành công nghiệp

và dịch vụ trong nền kinh tế đã có sự thay đổi

Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engle đã làm rõ tính xu hướng của việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nói riêng trong quá trình phát triển

2 Vai trò của cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển

Cơ cấu kinh tế là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế các nước.Một nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng và phát triển khi nó có một cơ cấu kinh tế hợp lýtiên tiến, đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của thời đại

Cơ cấu kinh tế hợp lý tạo động lực cho việc khai thác hiệu quả mọi nguồn lực trongnước và quốc tế

Các khu vực , địa phương cần phải có được chính sách cơ cấu kinh tế hợp lý phù hợpvới quy luật khách quan, phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển đất nước

Bảo đảm tăng cường sức mạnh về quốc phòng và an ninh, góp phần quan trọng vào

Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm là sản phẩm thiết yếu, hàng tiêu dùng làsản phẩm lâu bền và việc cung cấp dịch vụ là hàng tiêu dùng cao cấp Thực tế phát triển

Trang 12

của các nước đã chỉ ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho hàngtiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với tốc độ tăng thu nhập, còn chi tiêu cho hàng tiêu dùngcao cấp có tốc độ tăng nhanh hơn.

Trong quá trình phát triển, việc tăng cường sử dụng máy móc và các phương thứccanh tác mới đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động kết quả là, để đảm bảo lươngthực, thực phẩm cho xã hội sẽ không cần đến lực lượng lao động như cũ, có nghĩa là tỉ lệlao động trong nông nghiệp sẽ giảm.ngược lai, tỉ lệ lao động được thu hút vào công nghiệp

và dịch vụ ngày càng tăng do tính co dãn về nhu cầu sản phẩm của hai khu vực và khảnăng hạn chế hơn trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật để thay thế lao động, đặc biệt là hoạtđộng dịch vụ

Tóm lại, các xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hiện nay là:

- Giảm lỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ

- Tốc độ tăng của dịch vụ có xu hướng ngày càng nhanh hơn so với tốc độ tăng củacông nghiệp, nông nghiệp

- Tăng tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng vốn cao

- Xu hướng “mở” trong cơ cấu kinh tế là cơ cấu sản xuất Cơ cấu “mở” bao gồm cácngành có dấu hiệu lợi thế

Trang 13

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1996 ĐẾN NAY

I Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1996 đến nay

1 Nền kinh tế nước ta đã liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định

Nhiều năm liên tục, kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối

ổn định GDP tăng bình quân trên 7% năm, riêng năm 2006 là 8,2% đứng thứ hai ở châu Á

và năm 2007 là 8,5% Việt Nam cũng đã chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hộinhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới Hiện nay đã có gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu

tư vào Việt Nam với gần 8.000 dự án và tổng số vốn đăng ký trên 70 tỷ USD, riêng năm

2006 Việt Nam đã thu hút được 10,2 tỷ USD vốn FDI, tăng 50% so với 2005 Năm 2007,con số này là gần 13 tỉ USD Kim ngạch xuất khẩu tăng 20%/năm liên tục trong nhiều nămqua, giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2006 tương đương trên 60% GDP của cả nước

Bảng : Tăng trưởng GDP từ năm 1995-2007

năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007GDP

Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH: đó là tỷ trọng trong GDP

của ngành nông – lâm - thuỷ sản đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm

1995, 24,5% năm 2000, năm 2005 xuống 20,9%, và đến năm 2006 còn 20,4%; Tỷ trọngcông nghiệp và xây dựng trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%, năm 1995 đã tănglên 28,8%, năm 2000 là 36,7%, năm 2005 là 41% và đến năm 2006 đã tăng đến 41,6%; Tỷtrọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%, năm 1995 là 44,0%,năm 2000 là 38,8% năm 2005 là 38,07% và đến năm 2006 là 38,08%

Trang 14

Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ XK/GDP ngày càng tăng, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001

và đến năm 2005 là trên 50% Tổng KNXK 5 năm 2001-2005 đã đạt 111 tỷ USD, tăngbình quân 17,5%/năm (kế hoạch 16%/năm), khiến cho năm 2005 bình quân KNXK/người

đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000 Năm 2006, KNXK tiếp tục đạt mức cao 40 tỷUSD, tăng 24% so với năm 2005 Năm 2007, KNXK 9 tháng đầu năm đã đạt khoảng 35,2

tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2006 Tổng KNXK năm 2007 đạt tới 48 tỷ USD,tăng 20,5% so với cùng kỳ năm 2006, đưa tỷ lệ XK/GDP lên đến 67,4% Nhiều sản phẩmcủa Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản đã có sức cạnh tranh cao trênthị trường thế giới Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nướcngoài (FDI), và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặcbiệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004 đến nay Năm 2001:vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỷ USD; tiếp theo, năm 2002: 3,0 tỷ USD; 2003: 3,2 tỷ USD;2004: 4,5 tỷ USD; 2005: 6,8 tỷ USD; 2006: 10,2 tỷ USD; và 9 tháng đầu năm 2007 đã đạt9,6 tỷ USD, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2006 Theo dự báo của Cục Đầu tư nước ngoài(Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam), kết thúc năm 2007 này các thủ tục hành chính cấpphép triển khai thuận lợi, nhanh chóng, kịp với nhu cầu các nhà đầu tư thì có thể vốn FDIvào Việt Nam sẽ đạt tới con số kỷ lục là 13 tỷ USD)

Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo hướng tích cực Nếu như năm 1996, lực

lượng lao động trong ngành nông-lâm-thuỷ sản còn chiếm đa số lực lượng lao động xã hội(73%) thì đến năm 2000 giảm xuống còn 68,2% và đến năm 2006 còn khoảng 56,8%; Tỷ

lệ lao động công nghiệp năm 1996 là 11,2%, năm 2000 là 12,1%, năm 2006 khoảng17,9%; Tỷ lệ lao động trong các ngành dịch vụ năm 1996: 15,6%, năm 2000: 19,7, năm2006: 25,3%

Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu Kinh tế nhà nước đang được tổ

chức lại, đổi mới, chiếm 38,4% GDP vào năm 2006 và đang chi phối nhiều ngành kinh tếthen chốt Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, chiếm 45,7% GDP, đóng góp quantrọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhândân; trong đó kinh tế hợp tác và HTX phát triển khá đa dạng, chiếm 6,8% GDP Kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng khá cao, đóng góp 15,9 % GDP của cả nước

Trang 15

3 Tăng trưởng và phát triển kinh tế đã đưa đến nâng cao trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cư.

Việc đánh giá trình độ và chất lượng dân sinh của các quốc gia, lãnh thổ có thể đượccăn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau, song thông thường có tính phổ biến ngày nay người tavẫn dùng tiêu chí chỉ số phát triển con người (HDI) là một thước đo tổng hợp về nhiều khíacạnh trình độ và chất lượng dân sinh Theo Báo cáo hàng năm của Liên hiệp quốc, chỉ sốHDI của Việt Nam đã liên tục tăng trong những năm gần đây, từ 0,671 điểm (năm 2000)

đã tăng lên 0,688 điểm (2003), tăng lên 0,704 điểm (2005) và có khả năng đạt tới 0,750điểm vào năm 2010 như mục tiêu Chiến lược Dân số đã đề ra Đáng lưu ý là, từ năm 1995đến nay, xếp hạng HDI của Việt Nam trong khu vực đã được nâng lên từ thứ bậc 7 lên thứbậc 6; ở Châu Á từ thứ bậc 32 lên thứ bậc 28 và trên thế giới từ thứ bậc 122 lên thứ bậc

108 so vớí 177 nước trên thế giới

Để thấy rõ một cách chi tiết về trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cưViệt Nam đã ngày càng nâng cao hơn, nên xem xét tổng thể các tiêu chí cơ bản sau đây:+) Đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện Thu nhập GDP bình quân/người của cả nước đã tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2000 lên trên 10 triệu đồng năm 2005,tương đương 640 USD (tăng 12,1%/năm và 1,75 lần sau 5 năm) Năm 2007, ước tính đạt

+)Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng có nhiều tiến bộ

+) Sự nghiệp phát triển giáo dục - tạo có bước phát triển mạnh Năm 2000, cả nước

đã đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, đến năm 2005, có31/64 tỉnh, thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ ngườilớn biết chữ đạt 94%, trong khi đó trung bình của thế giới là 79%, các nước thu nhập thấp

là 61%, các nước thu nhập trung bình là 90%, các nước châu Á – Thái Bình Dương là90% Đến hết năm 2006, số học sinh đi học bậc tiểu học đạt 97,5%, số học sinh trung họcchuyên nghiệp tăng 15,1%/năm, dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm, sinh viên đại học và caođẳng tăng 8,4%/năm Cơ sở vật chất các cơ sở giáo dục và đào tạo ở các cấp được tăng

Ngày đăng: 02/09/2012, 12:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w