MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 2 1 1 Lý luận về vật chất 2 1 1 1 Định nghĩa vật chất 2 1 1 2 Ý nghĩa khoa học của vật chất 3 1 2 Lý luận.MỤC LỤCPHẦN I: MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC21.1.Lý luận về vật chất21.1.1. Định nghĩa vật chất21.1.2. Ý nghĩa khoa học của vật chất31.2. Lý luận về ý thức41.2.1.Khái niệm ý thức41.2.2. Bản chất của ý thức.41.2.2.1. Bản tính phản ánh và sáng tạo.41.2.2.2. Bản tính xã hội.51.3.Mối quan hệ biện chứng và ý nghĩa phương pháp luận giữa vật chất và ý thức61.3.1.Mối qaun hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức61.3.2.Ý nghĩa phương pháp luận8CHƯƠNG II: THỰC TIỄN VẬN DỤNG MỐI QAUN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC92.1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào kinh tế và chính trị92.2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.11PHẦN III: KẾT LUẬN16 PHẦN I: MỞ ĐẦUNhững thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã được tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng. Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội. Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao, mà điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt. Trước tình hình đó, cũng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt, giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời đổi mới kinh tế là một vấn đề cấp bách, bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh. Với ý nghĩa đó, sau một thời gian tìm hiểu em đã chọn đề tài Quan điểm của triết học Mác Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức và việc phát huy tính năng động chủ quan của ý thức trong quá trình phát triển của bản thân. Để có cái nhìn sâu và rộng hơn.PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC1.1.Lý luận về vật chất1.1.1. Định nghĩa vật chất Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa: Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có một loạt phát minh khoa học mang tính bước ngoặt ra đời như phát hiện ra tia X, tia rơn gen, trường điện từ, học thuyết tiến hoá, định luật bảo toàn vật chất và vận động, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng... Những phát minh khoa học này làm cho quan niệm siêu hình, máy móc về vật chất vấp phải mâu thuẫn khi không thể giải thích được các hiện tượng cho phát minh khoa học mới. Lợi dung điều đó, chủ nghĩa duy tâm vật lý đi tới phủ định vật chất, cho rằng vật chất biến mất, tiêu tan. Trong bối cảnh đó, khái quát những thành tựu khoa học đương thời, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất.Nội dung định nghĩa: Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Phân tích nội dung của định nghĩa:+Trong định nghĩa vật chất này, Lênin chỉ rõ vật chất là một phạm trù triết học, nghĩa là vật chất được Lênin sử dụng với tư cách là phạm trù triết học chứ không phải với tư cách là phạm trù của các khoa học cụ thể khác. Đã làm phạm trù triết học thì nó mang tính khái quát, trừu tượng hoá cao, đồng thời thể hiện thế giới quan và phương pháp luận triết học. Hơn nữa, phạm trù triết học mang tính khái quát hoá rộng hơn so với phạm trù của các khoa học khác. Điều này có nghĩa vật chất được hiểu theo nghĩa triết học khác với phạm trù vật chất được dùng trong khoa học vật lý, hoá học, chính trị học...+ Trong định nghĩa của mình, Lênin cũng nói rằng vật chất được dùng để chi thực tại khách quan, có nghĩa là vật chất có rất nhiều thuộc tính nhưng thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất, thuộc tính cần và đủ để phân biệt cái gì thuộc vật chất và cái gì không thuộc vật chất chính là thực tại khách quan. Thực tại khách quan là sự tồn tại thực và khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và loài người. Những gì có thuộc tính ấy thì thuộc về vật chất. Ví dụ: Quan hệ sản xuất là một phạm trù vật chất. Nhưng tình yêu, truyền thống dân tộc lại thuộc phạm trù ý thức.+ Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác có nghĩa là thực tại khách quan (tức vật chất) có trước, còn cảm giác của con người (tức ý thức) là cái có sau. Điều này cũng có nghĩa cảm giác của con người (ý thức) có thể phản ánh được thực tại khách quan (tức vật chất). Hay nói cách khác, thực tại khách quan không tồn tại trừu tượng mà thông qua các dạng tồn tại cụ thể của mình và bằng cảm giác (ý thức) mà con người có thể nhận thức được.1.1.2. Ý nghĩa khoa học của vật chất Định nghĩa về vật chất của Lênin đã chống lại được cả quan điểm duy tâm chủ quan và quan điểm duy tâm khách quan về vấn đề cơ bản của triết học và về phạm trù vật chất. Định nghĩa này đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học trên cả hai mặt bản thể luận và nhận thức luận. Phái bản thể luận cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau. Phái nhận thức luận thì cho rằng ý thức tư duy, nhận thức được vật chất. Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được tính trực quan siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng thời kế thừa được những tư tưởng duy vật biện chứng về vật chất của Mác Ăngghen. Định nghĩa vật chất của Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất. Định nghĩa vật chất của Lênin là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội. Định nghĩa này là một khuôn mẫu về định nghĩa khoa học, mở ra một phương hướng mới cho định nghĩa trong logic biện chứng.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 2
1.1 Lý luận về vật chất 2
1.1.1 Định nghĩa vật chất 2
1.1.2 Ý nghĩa khoa học của vật chất 3
1.2 Lý luận về ý thức 4
1.2.1 Khái niệm ý thức 4
1.2.2 Bản chất của ý thức 4
1.2.2.1 Bản tính phản ánh và sáng tạo 4
1.2.2.2 Bản tính xã hội 5
1.3 Mối quan hệ biện chứng và ý nghĩa phương pháp luận giữa vật chất và ý thức 6
1.3.1 Mối qaun hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 6
1.3.2 Ý nghĩa phương pháp luận 8
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN VẬN DỤNG MỐI QAUN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 9
2.1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào kinh tế và chính trị 9
2.2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay 11
PHẦN III: KẾT LUẬN 16
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã được tạo
ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng thế giới được tăng thêm Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội
Các nước đều có cơ hội phát triển Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trước một thách thức to lớn Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao, mà điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt
Trước tình hình đó, cũng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt, giữ vai trò chủ đạo Đồng thời đổi mới kinh tế là một vấn đề cấp bách, bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh
Với ý nghĩa đó, sau một thời gian tìm hiểu em đã chọn đề tài " Quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức và việc phát huy tính năng động chủ quan của ý thức trong quá trình phát triển của bản thân." Để có cái nhìn sâu và rộng hơn.
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC 1.1 Lý luận về vật chất
1.1.1 Định nghĩa vật chất
Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa: Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có một loạt phát minh khoa học mang tính bước ngoặt ra đời như phát hiện ra tia X, tia rơn - gen, trường điện từ, học thuyết tiến hoá, định luật bảo toàn vật chất
và vận động, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng Những phát minh khoa học này làm cho quan niệm siêu hình, máy móc về vật chất vấp phải mâu thuẫn khi không thể giải thích được các hiện tượng cho phát minh khoa học mới Lợi dung điều đó, chủ nghĩa duy tâm vật lý đi tới phủ định vật chất, cho rằng vật chất biến mất, tiêu tan Trong bối cảnh đó, khái quát những thành tựu khoa học đương thời, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất
Nội dung định nghĩa: Trong tác phẩm "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán", Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
- Phân tích nội dung của định nghĩa:
+Trong định nghĩa vật chất này, Lênin chỉ rõ "vật chất là một phạm trù triết học", nghĩa là vật chất được Lênin sử dụng với tư cách là phạm trù triết học chứ không phải với tư cách là phạm trù của các khoa học cụ thể khác Đã làm phạm trù triết học thì nó mang tính khái quát, trừu tượng hoá cao, đồng thời thể hiện thế giới quan và phương pháp luận triết học Hơn nữa, phạm trù triết học mang tính khái quát hoá rộng hơn so với phạm trù của các khoa học khác Điều này có nghĩa vật chất được hiểu theo nghĩa triết học khác với phạm trù vật chất được dùng trong khoa học vật lý, hoá học, chính trị học
Trang 4+ Trong định nghĩa của mình, Lênin cũng nói rằng vật chất "được dùng để chi thực tại khách quan", có nghĩa là vật chất có rất nhiều thuộc tính nhưng thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất, thuộc tính cần và đủ để phân biệt cái gì thuộc vật chất và cái gì không thuộc vật chất chính là thực tại khách quan Thực tại khách quan là sự tồn tại thực và khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và loài người Những gì có thuộc tính ấy thì thuộc về vật chất
Ví dụ: Quan hệ sản xuất là một phạm trù vật chất Nhưng tình yêu, truyền thống dân tộc lại thuộc phạm trù ý thức
+ "Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
có nghĩa là thực tại khách quan (tức vật chất) có trước, còn cảm giác của con người (tức ý thức) là cái có sau Điều này cũng có nghĩa cảm giác của con người (ý thức) có thể phản ánh được thực tại khách quan (tức vật chất) Hay nói cách khác, thực tại khách quan không tồn tại trừu tượng mà thông qua các dạng tồn tại cụ thể của mình và bằng cảm giác (ý thức) mà con người có thể nhận thức được
1.1.2 Ý nghĩa khoa học của vật chất
- Định nghĩa về vật chất của Lênin đã chống lại được cả quan điểm duy tâm chủ quan và quan điểm duy tâm khách quan về vấn đề cơ bản của triết học và về phạm trù vật chất
- Định nghĩa này đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học trên cả hai mặt" bản thể luận và nhận thức luận Phái bản thể luận cho rằng vật chất
có trước, ý thức có sau Phái nhận thức luận thì cho rằng ý thức tư duy, nhận thức được vật chất
- Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được tính trực quan siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật
Trang 5cũ, đồng thời kế thừa được những tư tưởng duy vật biện chứng về vật chất của Mác - Ăngghen
- Định nghĩa vật chất của Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất
- Định nghĩa vật chất của Lênin là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội
- Định nghĩa này là một khuôn mẫu về định nghĩa khoa học, mở ra một phương hướng mới cho định nghĩa trong logic biện chứng
1.2 Lý luận về ý thức
1.2.1 Khái niệm ý thức
Theo triết học Mac-Lênin "ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới khách quan vào bộ não của người thông qua lao động và ngôn ngữ'' Để đưa
ra được định nghĩa trên con người phải trải qua một quá trình lịch sử lâu dài với những quan niệm về ý thức nhiều khi sai lệch hoặc không trọn vẹn
Ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý chí trong sự liên hệ tác động qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri thức
và luôn hướng tới tri thức
1.2.2 Bản chất của ý thức.
Qua nghiên cứu nguồn gốc của ý thức có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội
1.2.2.1 Bản tính phản ánh và sáng tạo
ý thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên ngoài, từ vật gây tác động được truyền đi trong quá trình phản ánh Bản tín phản ánh quy định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiền đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan
Trang 6ý thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động Bản thân lao đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người ý thức không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới
đó Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ quan của ý thức ý thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc người, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa,
có định hướng, có chọn lọc tồn tại dưới hình thức chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực khách quànva sự vật, hiện tượng, vật chất, cảm tính
Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời Hiện thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo Ngược lại không có sáng tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức Vì vậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan ( hay là cái vật chất) đã được di chuyển vào bộ não người và được cải biến đi trong đó Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Biểu hiện của sự phản ánh và sáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình thực hiện hóa tư tưởng Đó là quá trình tư tưởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực trực tiếp dưới hình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tượng mới, tự nhiên "mới" tự nhiên "thứ hai" của con người
1.2.2.2 Bản tính xã hội.
Ý thức được hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác Do đó mà khái
Trang 7niệm hoạt đọng xã hội ra đời ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa người với người trong xã hội Do đó
ý thức xã hội được hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân vừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có những nét độc đáo riêng do những điều kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định Như vậy, con người suy nghĩ
và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội của nhân loại nói chung Tự tách ra khỏi môi trường xã hội con người không thể có ý thức, tình cảm người thực sự Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bản thân và xã hội Ta phải học làm người qua môi trường xã hội lành mạnh
Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức, ở quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người
1.3 Mối quan hệ biện chứng và ý nghĩa phương pháp luận giữa vật
chất và ý thức
1.3.1 Mối qaun hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Trước khi phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì phải hiểu rõ hai phạm trù vật chất và ý thức
Vật chất theo định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Trang 8Còn ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển của cả tự nhiên và lịch sử xã hội loài người ý thức có cả nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
Nói ý thức có nguồn gốc tự nhiên là vì phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Tuy nhiên, do nội dung và hình thức phản ánh phụ thuộc vào trình độ tổ chức của vật phản ánh và vật được phản ánh nên, cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật phản ánh và vật được phản ánh nên, cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh cũng phát triển từ thấp đến cao Trong các dạng phản ánh thì ý thức của con người là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất và tổ chức sống có dạng vật chất cao nhất của bộ não người Nói tóm lại, não người và
sự phản ánh thế giới khách quan vào não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Nói rằng ý thức có nguồn gốc xã hội là vì lao động và ngôn ngữ là hai nguồn gốc xã hội quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức Lao động đóng vai trò quyết định trong việc chuyển biến vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác, đồng thời là cơ
sở hình thành và phát triển ngôn ngữ Sự ra đời của ngôn ngữ, tiếp đó, giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn, đồng thời thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển
* Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức được thể hiện như sau:
- Vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức:
+ Theo triết học duy vật biện chứng, vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức
+ Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não và tổ chức kết cấu của bộ não người Điều này giải thớch tại sao con người cú chỉ
Trang 9số thụng minh khỏc nhau Người này nhận thức nhanh hơn người kia hay ngược lại
+ Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào bộ nóo của con người, là hỡnh ảnh của thế giới khỏch quan Vỡ thế, thế giới khỏch quan là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung ý thức
- Ý thức tỏc động ngược trở lại vật chất trờn cơ sở hoạt động thực tiễn của con người
+ Theo triết học duy vật biện chứng, ý thức cú tớnh năng động, sỏng tạo nờn thụng qua hoạt động thực tiễn của con người cú thể thỳc đẩy hoặc kỡm hóm ở một mức độ nhất định cỏc điều kiện vật chất, gúp phần cải biến thế giới khỏch quan Nếu ý thức phản ỏnh đúng hiện thực khỏch quan sẽ gúp phần thỳc đẩy, cải tạo khách quan theo hướng tiến bộ Ngược lại sẽ theo hướng tiêu cực
+ Ý thức - thông qua hoạt động thực tiễn của con người trong một thời điểm, không gian xác định - cú thể đóng vai trò quyết định đối với mối quan
hệ với vật chất Tuy nhiên, xét đến sự tác động trở lại của ý thức vào vật chất vẫn phụ thuộc vào thế giới vật chất và điều kiện vật chất Do vậy, vật chất vẫn quyết định ý thức
1.3.2 Ý nghĩa phương pháp luận
Vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức: ý thức chỉ là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não người Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn luôn luôn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan Nghĩa
là phải có quan điểm khách quan trong hành động
- Do ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông qua ý thức của con người nên phải thấy được vai trò tích cực của ý thức trong việc sử dụng cú hiệu quả cỏc điều kiện vật chất khách quan
Trang 10- Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, cần phải chống chủ nghĩa Tức là sự thụ động, ỷ lại vào điều kiện vật chất, không biết phát huy vai trò tích cực của ý thức, tinh thần
- Cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí Tức là tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, tinh thần, ý chớ; không đánh giá đúng vai trò của các điều kiện vật chất khách quan
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN VẬN DỤNG MỐI QAUN HỆ BIỆN
CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 2.1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào kinh tế và chính trị
Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức có tác động trở lại nhân tố ý thức Nhân tố vật chất trong nhiều trường hợp ý thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của con người.Điều này thể hiện rõ trong các đường lối chủ trường,chính sách đổi mới kinh tế của Đảng Vai trò tích cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể
vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động, theo đó ý thức phải biến đổi phù hợp với nó, nếu tiêu cực thì sớm muộn cũng bị đào thải, nhưng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định Và ta thấy nếu kinh tế của một nước giàu, xã hội phát triển cao nhưng chính trị mất ổn định, luôn đấu tranh giai cấp …thì đất nước đó không thể yên ấm hoà bình được và cuộc sống người dân tuy đầy đủ, sung túc nhưng sẽ luôn lo âu Do đó nếu chính trị
ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng một xã hội phát triển, đất nước giàu mạnh
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế Phong kiến-Tư bản chủ nghĩa-Chủ nghĩa Xã hội Trình độ tổ tổ chức quản lý
và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống của xã hội, bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan