1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành kiểm sát ở việt nam hiện nay

195 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành kiểm sát ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Ngô Thu Hiền
Người hướng dẫn PGS, TS. Trần Sỹ Phán
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận án tiến sĩ triết học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay 15 1.2.1.. Cơ sở thực tiễn - Luận án được thực hi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGÔ THU HIỀN

ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH KIỂM SÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Đạo đức học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS, TS Trần Sỹ Phán

Hà Nội - 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Sỹ Phán Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận án

Ngô Thu Hiền

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Những công trình nghiên cứu về lý luận công vụ, công chức; đạo đức công vụ nói chung, đạo đức công vụ công chức ngành Kiểm sát nói riêng 6

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về công vụ, công chức 6

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đạo đức công vụ nói chung, đạo đức công vụ công chức ngành Kiểm sát nói riêng 9

1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay 15 1.2.1 Những công trình nghiên cứu về thực trạng đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay 15

1.2.2 Những công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay 20

1.3 Giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 28

1.3.1 Giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án 28

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 29

Chương 2 ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH KIỂM SÁT Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 30

2.1 Khái niệm công chức, công vụ, đạo đức và đạo đức công vụ 30

2.1.1 Khái niệm công chức, công vụ 30

2.1.2 Khái niệm đạo đức và đạo đức công vụ 34

Trang 4

2.2 Công chức ngành Kiểm sát và nội dung đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát Việt Nam 41 2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động công vụ của công chức ngành Kiểm sát 41 2.2.2 Quan niệm, đặc điểm và một số nội dung cơ bản của đạo đức công

vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát Việt Nam 47 2.3 Những nhân tố tác động đến đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát Việt Nam 66 2.3.1 Tác động của môi trường kinh tế - xã hội 66 2.3.2 Tác động từ công tác giáo dục và tự giáo dục đạo đức công vụ của đội ngũ công chức kiểm sát 72 2.3.3 Tác động từ cơ chế, chính sách; từ sự lãnh đạo, quản lý cán bộ, công chức ngành Kiểm sát 75 Kết luận chương 2 80 Chương 3 ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH KIỂM SÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG 82 3.1 Thực trạng đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay 82 3.1.1 Những ưu điểm và hạn chế trong việc bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; giữ gìn bí mật Nhà nước, bí mật công tác 82 3.1.2 Những ưu điểm và hạn chế trong việc nêu cao tính tích cực, tự giác, công minh, chính trực, khách quan trong xử lý công việc 88 3.1.3 Những ưu điểm và hạn chế trong việc nêu cao tinh thần đoàn kết, hợp tác, chia sẻ với đồng nghiệp trong thực thi công vụ 106 3.1.4 Những ưu điểm và hạn chế trong việc nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; tôn trọng và chịu sự giám sát của nhân dân 111 3.1.5 Những ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện các “đức”: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư 114

Trang 5

3.2 Nguyên nhân thực trạng đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành

Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay 118

3.2.1 Nguyên nhân của những ưu điểm 118

3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 120

Kết luận chương 3 123

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH KIỂM SÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 125

4.1 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để có tác động tích cực đến đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát 125

4.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý công chức; tăng cường hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát 130

4.3 Tăng cường công tác giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức ngành Kiểm sát 141

4.4 Phát huy nhân tố chủ quan của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát trong việc rèn luyện, nâng cao đạo đức công vụ 153

Kết luận chương 4 160

KẾT LUẬN CHUNG 162

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 164

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 165

PHỤ LỤC 179

Trang 6

7

9

10

Trang

Viện kiểm sát nhân dân

Toà án nhân dân

Tr VKSND TAND

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cấu trúc nhân cách của một con người nói chung, của người cán

bộ, công chức ngành Kiểm sát nói riêng, đạo đức được coi là yếu tố nền tảng của nhân cách Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước; khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ được đức tính khiêm tốn, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo Chủ tịch

Hồ Chí Minh từng nói: người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nói chung, trong chiến lược cán bộ nói riêng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi trọng cả “đức” và “tài”, trong

đó “đức là gốc” Một trong 5 nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh được Đại hội lần thứ XIII đề ra là xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ

Bên cạnh đa số công chức ngành Kiểm sát luôn luôn nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm trong công việc; tôn trọng nhân dân; có tinh thần tập thể, tôn trọng và hợp tác với đồng nghiệp; có ý chí, nghị lực vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, v.v thì hiện vẫn còn một bộ phận công chức Kiểm sát chưa theo kịp với yêu cầu, nhiệm vụ của chủ trương đổi mới, xây dựng và phát triển ngành Tình trạng oan, sai, tiếp tay cho tiêu cực hay bỏ lọt tội phạm vẫn chưa chấm dứt Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chưa được như kỳ vọng của nhân dân mà vụ án oan, sai nổi tiếng tại Bắc Giang đối với ông Nguyễn Thanh Chấn (năm 2003) và với ông Huỳnh Văn Nén tại Bình Thuận (năm 1998) là những vụ án oan, sai điển hình Tại phiên họp thứ 15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 15/9/2022), Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho biết hiện vẫn còn 17 trường hợp bị oan trong giai đoạn điều tra, truy tố thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

Để xây dựng nền công vụ liêm chính, xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch như Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề

ra, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung, công chức ngành Kiểm sát nói riêng vừa có phẩm chất đạo đức trong sáng vừa có năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề ĐĐCV, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ở nhiều góc độ khác nhau như triết học, đạo đức học, khoa học hành chính, khoa học quản lý, v.v Tuy nhiên, chưa có công trình chuyên biệt nào bàn về ĐĐCV của người công chức kiểm sát Sự thiếu vắng những công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực nhân cách, đạo đức người công chức ngành Kiểm sát sẽ hạn chế đến việc nâng cao ĐĐCV của đội ngũ này trong thực tiễn Việc luận giải, làm rõ nội dung ĐĐCV của công chức ngành Kiểm sát cho phép đề xuất những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra trong thực tiễn ĐĐCV của người công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

Qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Kiểm sát cũng đặt ra cho mình những yêu cầu về xây dựng một nền công vụ liêm chính, nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền; xây dựng đội ngũ trong sạch, vững mạnh, biết đề cao vị trí, vai trò và phát huy trách nhiệm của người làm việc trong ngành Kiểm sát góp phần nâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát, góp phần xây dựng ngành Kiểm sát ngày càng vững mạnh

Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Đạo đức công vụ của

đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên

cứu luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Góp phần bổ sung, phát triển lý luận về đạo đức công vụ của đội ngũ

Trang 9

công chức ngành Kiểm sát và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục giải quyết

- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công vụ, ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích thực trạng ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng đó

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ĐĐCV cho đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề ĐĐCV của đội ngũ công chức

ngành Kiểm sát ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian nghiên cứu: chủ yếu là công chức ngành Kiểm sát ở hai

Thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh khu vực miền Bắc

- Về thời gian nghiên cứu: tác giả nghiên cứu vấn đề đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam từ năm 2005 đến nay

4 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng nói chung, đạo đức công chức, viên chức ngành Kiểm sát nói riêng Ngoài ra tác giả luận án còn kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có

liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 10

4.2 Cơ sở thực tiễn

- Luận án được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu và sử dụng những tài liệu, số liệu thực tiễn trong các công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo, tổng kết, đánh giá của Đảng, Nhà nước, của ngành Tư pháp, các cơ quan hữu quan, các tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân về vấn đề đạo đức, ĐĐCV, đạo đức nghề nghiệp của công chức, viên chức nói chung và công chức, viên chức ngành Kiểm sát nói riêng

- Luận án nghiên cứu và sử dụng các số liệu trong các văn bản, báo cáo tổng kết của ngành Kiểm sát và tổng hợp một số phản ảnh, số liệu của các cơ quan truyền thông có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Luận án xin ý kiến của các nhà khoa học trong và ngoài lực lượng về một số nội dung thuộc nội dung nghiên cứu của luận án

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp giữa phân tích và tổng hợp; lịch sử và lôgíc; đi từ trừu tượng đến cụ thể; sử dụng tài liệu thứ cấp trong các văn bản, báo cáo tổng kết công tác nội chính, công tác phòng chống tham nhũng và tổng hợp một số phản ánh của cơ quan truyền thông trong việc đánh giá thực trạng đạo đức công vụ đội ngũ công chức ngành Kiểm sát Việt Nam hiện nay

Trong các phương pháp nghiên cứu trên, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản sẽ chi phối các phương pháp nghiên cứu khác Ngoài ra, đây cũng là phương pháp luận chi phối việc xác định nội dung, đặc điểm đạo đức công vụ đội ngũ công chức ngành Kiểm sát cũng như nguyên nhân thực trạng đạo đức công vụ của đội ngũ công chức này trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao đạo đức công vụ đội ngũ công chức ngành Kiểm sát Việt Nam hiện nay

Trang 11

Phương pháp kết hợp giữa phân tích và tổng hợp là một trong những phương pháp tương đối phổ biến trong nghiên cứu khoa học Phương pháp này cho phép tác giả luận án phân tích những nhân tố tác động cũng như thực trạng đạo đức công vụ đội ngũ công chức ngành Kiểm sát Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó rút ra những kết luận để đề ra giải pháp

5 Những đóng góp mới của luận án

- Luận án làm sáng tỏ chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động công

vụ của công chức ngành Kiểm sát cũng như đặc điểm đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

- Luận án làm sáng tỏ ưu điểm, hạn chế của đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

- Luận án đề xuất một số giải pháp mới nhằm nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chương trình, giáo trình giảng dạy, đào tạo trong các cơ sở giáo dục, đào tạo, nghiên cứu về đạo đức, ĐĐCV, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ kiểm sát cũng như các cơ quan nghiên cứu và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án gồm

4 chương, 12 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Những công trình nghiên cứu về lý luận công vụ, công chức; đạo đức công vụ nói chung, đạo đức công vụ công chức ngành Kiểm sát nói riêng

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về công vụ, công chức

Vấn đề công vụ, công chức thời gian qua đã có nhiều tác giả, các tổ chức quan tâm nghiên cứu và tiếp cận ở những góc độ khác nhau Có thể nêu

ra một số công trình như:

Có thể xem cuốn “Nghiên cứu, so sánh quy định về đạo đức công vụ

của một số quốc gia và Việt Nam” [48] do Đỗ Thị Ngọc Lan làm chủ biên,

Nxb Chính trị quốc gia có ấn hành năm 2012 là một trong những tư liệu đề cập tương đối nhiều và khá toàn diện đến công vụ, công chức Theo quan niệm của tác giả cuốn sách này thì: Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội Ngoài ra, các tác giả còn chỉ ra điểm chung của mọi nền công vụ khi coi công vụ là hoạt động công quyền, bao gồm con người thực thi công việc (công chức) và công việc mà họ được giao nhận

Năm 2017, Nxb Lý luận chính trị có ấn hành cuốn “Đạo đức công vụ

Trong cuốn sách này, tác giả quan niệm “công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực- pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quá trình xử lý toàn diện các mặt

Trang 13

Trong cuốn “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” [11] Ngô

Thành Can (làm chủ biên) cùng các tác giả Lê Thị Hằng, Ngô Văn Trân, nhà xuất bản Tư pháp ấn hành 2018 đã dẫn ra quan niệm của một số trường đại học về công vụ, công chức Quan niệm của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học tổng hợp Michigan (Mỹ); Trường Đại học tổng hợp Stellenbosch của Nam Phi hay của TS Jeanne-Marie Col (Ban Thư ký Liên hợp quốc) về “công vụ”

Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu ở Đại học tổng hợp Michigan (Mỹ), công vụ là một khái niệm chung miêu tả về các nhân viên do chính phủ tuyển dụng, những người cấu thành nên công việc theo chức nghiệp Các công chức được tuyển dụng trên cơ sở công tích, được đánh giá định kỳ theo việc thực thi công tác của mình, được nâng bậc căn cứ theo tính điểm hiệu quả và được bảo đảm về công việc Tại chính phủ quốc gia, công vụ bao gồm các viên chức dân sự cấu thành nên nền công vụ

Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học tổng hợp Stellenbosch của Nam Phi quan niệm công vụ “bao gồm các cơ quan khác nhau của chính phủ, như các bộ, ngành của nhà nước, các tổ chức doanh nghiệp, các tập đoàn và doanh nghiệp của chính phủ là các cơ quan chịu trách nhiệm về việc tạo điều kiện và thực thi pháp luật, chính sách công và các quyết định của chính phủ”

Trên cơ sở các quan niệm trên, khái quát từ sự nghiên cứu của mình, các tác giả Ngô Thành Can, Lê Thị Hằng, Ngô Văn Trân quan niệm: “công vụ

có thể được xem là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý do đội ngũ công chức thực hiện, sử dụng ngân sách nhà nước để tiến hành các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong việc quản lý toàn diện các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của một quốc gia” [11, tr.34]

Cùng với hướng nghiên cứu trên, các tác giả trong cuốn “Mấy vấn đề

công vụ và công chức Cộng hoà Pháp” [108] cho rằng: “công vụ bao gồm

toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở hay một

Trang 14

công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được thực thụ vào một trong những ngạch của nền hành chính Những người thuộc hệ thống công vụ này mang

Cùng với việc đưa ra quan niệm về công vụ, các tác giả còn chỉ ra các đặc điểm của hoạt động công vụ, đó là: 1) Mục đích của công vụ là phục vụ nhân dân và xã hội; 2) Tính chất của công vụ (Hoạt động công vụ không chỉ thuần túy mang tính quyền lực nhà nước mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập) Chúng tôi cho rằng quan niệm này phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Trong một số năm gần đây, trên các tạp chí khoa học có đăng tải một số bài viết có liên quan đến công vụ, công chức Chẳng hạn, Tạp chí Lý luận

chính trị, số 1/2015 có bài “Điều kiện để thực hiện đánh giá công chức theo

kết quả thực thi công vụ” [105] của Đào Thị Thanh Thủy; Bài “Trách nhiệm công vụ” [12] của Vũ Hoàng Công, đăng ở Tạp chí Lý luận chính trị, số

3/2016; “Đạo đức công vụ và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao đạo

đức công vụ cho cán bộ, công chức nước ta hiện nay” [34] của Vũ Văn Điệp,

đăng ở Tạp chí Triết học, số 1/2018; bài “Vai trò của chuẩn mực đạo đức công

vụ và nội dung giáo dục chuẩn mực đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” [2] của tác giả Lê Thị Nam An, đăng ở Tạp chí Chủ nghĩa

xã hội lý luận và thực tiễn, số 1-2021 Tạp chí Triết học, số 3-2021 còn có bài

“Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục” [3] của tác giả Lê Thị Nam An, v.v

Trong bài “Vai trò của chuẩn mực đạo đức công vụ và nội dung giáo

dục chuẩn mực đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” [2] đăng ở Tạp chí Chủ nghĩa xã hội lý luận và thực tiễn, số 1-2021,

tác giả Lê Thị Nam An quan niệm: “Công vụ là một dạng hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý do cán bộ, công chức tiến hành nhằm phục vụ lợi ích của nhà nước và nhân dân” Quan niệm này nhìn chung có điểm hợp lý

Trang 15

nhất định, nó lột tả được thực chất của hoạt động công vụ nói chung, công

vụ ở Việt Nam nói riêng

Hoạt động công vụ gắn liền với đội ngũ công chức Quan niệm này đã

và đang được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học Chẳng

hạn trong bài “Nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức hiện nay” [68], đăng ở tạp chí Lý luận chính trị, số 10/2015 và bài “Sự lệch chuẩn đạo

đức công vụ ở một bộ phận công chức Việt Nam hiện nay” [70], đăng ở tạp

chí Thông tin khoa học lý luận chính trị, số 8/2017, tác giả Trần Sỹ Phán đã

đưa ra quan niệm của mình về “công chức” Hay trong bài “Vai trò của chuẩn

mực đạo đức công vụ và nội dung giáo dục chuẩn mực đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” [2], đăng ở Tạp chí Chủ nghĩa xã hội

lý luận và thực tiễn số 1-2021, tác giả Lê Thị Nam An cũng trực tiếp đề cập đến khái niệm này, v.v

Trong cuốn Đạo đức công chức trong thực thi công vụ [11] do Ngô Thành Can làm chủ biên, Nxb Tư pháp ấn hành năm 2018, nhóm nghiên cứu

đã dẫn quan niệm về công chức của các nhà khoa học Pháp, phân tích các cách tiếp cận khác nhau về công chức và cuối cùng nhóm tác giả đưa ra quan niệm của mình Theo đó công chức là “Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[11, tr.52, 59]

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đạo đức công vụ nói chung, đạo đức công vụ công chức ngành Kiểm sát nói riêng

Trong những thập niên gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về đạo đức công chức, ĐĐCV, đạo đức nghề nghiệp gắn với quá trình cải cách hành chính trong bối cảnh đất nước đang trong quá trình đổi mới và xây dựng, hội nhập và phát triển Có thể kể đến các công trình khoa học như cuốn

Trang 16

sách“Đạo đức trong nền công vụ” [36] (2002) của nhóm tác giả Tô Tử Hạ, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo; “Nghiên cứu so sánh quy định về đạo

đức công vụ của một số quốc gia và Việt Nam” [48] (2012) cuả tác giả Đỗ Thị

Ngọc Lan chủ biên; “Đạo đức công chức trong thực thi công vụ” (2019) do

Ngô Thành Can chủ biên, v.v

Các bài báo như “Đạo đức công vụ và vấn đề nâng cao đạo đức công vụ

cho đội ngũ cán bộ công chức ở nước ta hiện nay” [44] (2003) của tác giả

Nguyễn Hữu Khiển; “Vấn đề đạo đức nghề nghiệp” [99] (2005) của tác giả Lê Thanh Thập; “Vấn đề nâng cao đạo đức công chức trong cải cách hành chính

ở nước ta hiện nay” [39] (2009) của tác giả Lê Thị Hằng; “Nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức hiện nay” [68] (2015) của tác giả Trần Sỹ

Phán; “Xác lập triết lý văn hóa công vụ trong cải cách hành chính nhà nước” [104] (2016) của Huỳnh Văn Thới; “Mấy vấn đề đạo đức người cán bộ, đảng

viên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng” [69] (2016) của tác giả Trần Sỹ

Phán; “Đạo đức công vụ và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao đạo đức

công vụ cho cán bộ, công chức nước ta hiện nay” [34] của Vũ Văn Điệp, đăng

ở Tạp chí Triết học, số 1/2018; bài “Xây dựng đạo đức công vụ trong bối cảnh

phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [98] của Trương Thị

Phương Thảo và Trần Viết Quang, đăng ở Tạp chí Triết học, số 4/2018; bài

“Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức ở Việt

Nam hiện nay và giải pháp khắc phục” [3] của tác giả Lê Thị Nam An, đăng

ở Tạp chí Triết học, số 3-2021, v.v đều trực tiếp bàn đến đạo đức công vụ

Trong các công trình khoa học kể trên, vấn đề đạo đức và đạo đức nghề nghiệp tiếp tục được luận giải ở nhiều góc độ khác nhau: giá trị học, triết học, đạo đức học, quản lý nhà nước, v.v từ đó các tác giả tiếp cận vấn đề ĐĐCV, đạo đức nghề nghiệp Theo tác giả Nguyễn Hữu Khiển, “Đạo đức công vụ là phạm trù phản ánh các quan hệ giữa người với người trong công việc và gắn liền với hoạt động của những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà

Trang 17

nước nói chung” [44, tr 6] Tác giả cũng coi ĐĐCV như một lĩnh vực đặc thù của đạo đức xã hội, biểu hiện qua hành vi của cán bộ, công chức trong thực thi công quyền hoặc phục vụ xã hội [44, tr 7] Tác giả Trần Sỹ Phán chỉ ra bản chất của ĐĐCV là “đạo đức thực thi công vụ của công chức, bao gồm hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa đội ngũ công chức với tổ chức, công dân, thể hiện ở lương tâm và trách nhiệm vì lợi ích chung, ý thức việc cần phải làm và mong muốn được làm vì lợi ích chung đó” [68, tr 50

- 51] Từ đó tác giả xem xét ĐĐCV từ hai góc độ: góc độ của tồn tại người và góc độ đạo đức nghề nghiệp Như vậy, theo tác giả, mỗi công chức vừa phải thực hiện những nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội mà trong đó họ sống, vừa không được vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, tác giả Lê Thanh Thập coi “Đạo đức nghề nghiệp là những quan điểm, quy tắc và chuẩn mực hành vi đạo đức

xã hội đòi hỏi phải tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có tính đặc trưng của nghề nghiệp [99, tr 49] Tác giả cũng cho rằng, đạo đức nghề nghiệp là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội, là một loại “đạo đức đã được thực tiễn hoá” Lương tâm nghề nghiệp là sự tự phán xét, tự ý thức về trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp Nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và lương tâm nghề nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau Đánh mất ý thức về nghĩa vụ đạo đức là đánh mất ý thức về bản thân mình, làm mất ý nghĩa làm người cũng như giá trị động lực của lao động Từ đó, tác giả khẳng định, giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là để hình thành nhân cách nghề nghiệp của mỗi chủ thể, hướng con người tới giá trị chân - thiện - mỹ trong hoạt động nghề nghiệp Tác giả

Lê Thị Hằng cho rằng: “đạo đức công chức là một dạng của đạo đức nghề nghiệp, bao gồm những quan điểm, nguyên tắc và chuẩn mực đánh giá, điều chỉnh tư tưởng, hành vi và quan hệ đạo đức công chức” [39, tr 66] Như vậy, cùng thuộc về lĩnh vực đạo đức xã hội, nhưng ĐĐCV, đạo đức công chức, đạo

Trang 18

đức nghề nghiệp được các tác giả xem xét ở những chiều cạnh khác nhau gắn liền với đối tượng và điều kiện lịch sử - cụ thể

Tác giả Huỳnh Văn Thới trong bài viết “Xác lập triết lý văn hóa công

vụ trong cải cách hành chính nhà nước” [104] đăng ở Tạp chí Lý luận chính

trị, số 5 - 2016 cho rằng: Triết lý phát triển văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay phải đặc biệt coi trọng văn hóa đạo đức trong mối tương quan với văn hóa pháp luật “Đó là nền công vụ tôn vinh đức trị trong cán cân với pháp quyền”

Các tác giả Trần Sỹ Phán, Lương Đình Hải, Cao Duy Hạ, Lê Thị Hằng trong các công trình nghiên cứu của mình cũng nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết của việc nâng cao ĐĐCV, đạo đức công chức, đạo đức nghề nghiệp trong giai đoạn cách mạng mới, gắn với yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của công chức, viên chức, người lao động Tác giả Trần Sỹ Phán đưa ra quan điểm về nâng cao ĐĐCV, xem đó là “quá trình tác động tích cực, có mục đích của các chủ thể tới đối tượng với nội dung, hình thức và phương pháp thích hợp nhằm làm biến đổi đời sống đạo đức của đội ngũ công chức theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn về mặt nhân cách của họ” [68, tr 50 - 51] Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những nội dung cần phải nâng cao của ĐĐCV, trong đó nhấn mạnh phẩm chất đạo đức là gốc, là nền tảng của nhân cách hay hạt nhân cơ bản của nhân cách, do đó việc nâng cao ĐĐCV cho công chức có tầm quan trọng đặc biệt

Trong bài “Vai trò của chuẩn mực đạo đức công vụ và nội dung giáo

dục chuẩn mực đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay”

đăng ở Tạp chí Chủ nghĩa xã hội - Lý luận và thực tiễn, số 1-2021, tác giả Lê Thị Nam An cho rằng: “đạo đức công vụ là hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực dùng để đánh giá và điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức, được thực hiện bằng lương tâm, tình cảm và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức” Quan niệm này ít nhiều đã nói lên được đạo đức công vụ là gì và chức năng cơ bản của nó

Trang 19

Tạp chí Triết học, số 3-2021 có bài “Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ

của một bộ phận cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục” [3] của tác giả Lê Thị Nam An Trong đó tác giả đã góp phần làm

sáng tỏ một số khái niệm, như: công vụ, đạo đức công vụ, sự lệch chuẩn đạo đức công vụ Theo tác giả “đạo đức công vụ là hệ thống giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực dùng để điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của công chức Thể hiện lương tâm, trách nhiệm, nghĩa vụ của họ trong thực thi công vụ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, của xã hội và của nhà nước” Có thể nói đây là một trong những quan niệm khá toàn diện về đạo đức công vụ với những điểm hợp lý nhất định của nó

Trong cuốn sách “Đạo đức trong nền công vụ” [36], nhóm tác giả Tô

Tử Hạ, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo đã tập trung làm rõ những vấn

đề đạo đức trong nền công vụ của một số quốc gia Đông Nam Á: Brunei Darussalam, Campuchia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippin, Singapore, Thái Lan Các tiêu chuẩn đạo đức trong nền công vụ, các sáng kiến khuyến khích đạo đức, chính sách thu hút nhân tài vào nền công vụ, tăng cường kỷ luật và đạo đức trong nền công vụ, sáng kiến nâng cao ĐĐCV hay luật đạo đức trong nền công vụ được luận giải chi tiết, cụ thể, gắn với điều kiện thực tiễn, nền hành chính công cũng như văn hoá chính trị, truyền thống của các quốc gia đó Cuốn sách cũng đề cập đến phương pháp đánh giá ĐĐCV trong các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), quy chế đạo đức trong nền cộng hoà Czech Ngoài các biện pháp nâng cao ĐĐCV ở Việt Nam, các tác giả còn cung cấp những kinh nghiệm chống tham nhũng trong nền công vụ của một số quốc gia như Campuchia, Lào, Brunei, của Ngân hàng thế giới, của các nước Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Những nội dung nhóm tác giả đề cập trong cuốn sách này cho phép nghiên cứu sinh có cơ sở đối chiếu, so sánh để luận giải vấn đề ĐĐCV của đội ngũ công chức nói chung

và đội ngũ công chức ngành Kiểm sát nói riêng ở nước ta hiện nay

Trang 20

Hội thảo Khoa học của Học viện Hành chính với chủ đề “Đạo đức công

chức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” [42] thực hiện tháng 12/2013

đã tập trung luận giải những nội dung cơ bản xoay quanh vấn đề ĐĐCV, những giá trị cốt lõi, nguyên tắc trong các quy tắc đạo đức và ứng xử của công chức, những tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức công chức, những vấn đề cần quan tâm về đạo đức công chức trong giai đoạn hiện nay và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công chức trong thực thi công vụ trong nền kinh tế thị trường Vấn đề ĐĐCV được các nhà khoa học xem xét ở

cả hai khía cạnh: đạo đức của cá nhân từng công chức trong đời sống xã hội và đạo đức khi thực thi công vụ của nhà nước do chính công chức đó thực hiện Các bài tham luận tại Hội thảo cũng đã luận giải mối quan hệ giữa ĐĐCV và pháp luật, giữa phòng chống tham nhũng và xây dựng ĐĐCV ở Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu từ Hội thảo này cho phép nghiên cứu sinh có cách nhìn đa diện, từ góc độ quản lý nhà nước, khoa học hành chính đối với vấn đề ĐĐCV ở nước ta hiện nay

Các công trình khoa học kể trên đã đề cập về vấn đề ĐĐCV, xem đó là phạm trù phản ánh các quan hệ giữa người với người trong công việc và gắn liền với hoạt động của những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước như một lĩnh vực đặc thù của đạo đức xã hội, biểu hiện qua hành vi của cán bộ, công chức trong thực thi công quyền hoặc phục vụ xã hội Những chuẩn mực ĐĐCV cũng được đề cập, gắn liền với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ, công chức trong một nền hành chính vì dân đang từng bước được xây dựng và củng cố

Khi nghiên cứu vấn đề đạo đức và ĐĐCV, đạo đức công chức, các nhà khoa học đều ít nhiều nhấn mạnh mối quan hệ giữa cơ chế thị trường và đạo đức, ở cả hai chiều tích cực và tiêu cực Các nhà khoa học cũng chỉ ra sự biến đổi mạnh mẽ của các giá trị đạo đức, các chuẩn mực đạo đức dưới tác động nhiều chiều của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, của quá trình đổi mới, phát

Trang 21

triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Quá trình đổi mới, trong đó có đổi mới hệ thống chính trị, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc định hình những chuẩn mực đạo đức xã hội và luật hoá các quan hệ đạo đức Những kết quả nghiên cứu về đạo đức, giá trị đạo đức, vai trò, chức năng của đạo đức

và ĐĐCV, công chức sẽ giúp tác giả luận án nhìn nhận một cách sâu sắc, đa chiều về đạo đức, đời sống đạo đức và những tác động phức tạp của đời sống đến đạo đức xã hội, đạo đức công dân, ĐĐCV Đây là cơ sở khoa học để nghiên cứu sinh tiếp cận và luận giải vấn đề ĐĐCV của công chức ngành Kiểm sát nước ta hiện nay

Từ các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinh nhận thấy, hướng nghiên cứu ở góc độ triết học vấn đề ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó Điều này vừa cho phép nghiên cứu sinh có thể

kế thừa một cách khoa học các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, vừa

có thể tiếp tục làm sâu sắc thêm những vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa có điều kiện đề cập đến một cách có hệ thống, nhất là vấn đề

ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Những công trình nghiên cứu về thực trạng đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

Nhóm tác giả Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo và các cộng sự trong công

trình khoa học “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng, chống suy thoái

tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” [74] đã dày công nghiên

cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng và nguyên nhân chủ yếu của suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên hiện nay Đồng thời,

Trang 22

nhóm nghiên cứu cũng chỉ rõ những tác động của công tác xây dựng Đảng, của

hệ thống pháp luật, quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội, hoạt động của Mặt trận

Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, báo chí, dư luận xã hội cũng như hội nhập quốc tế đối với vấn đề suy thoái và phòng chống suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay Diễn biến của mức độ suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là đáng lo ngại, trong đó không ít biểu hiện liên quan trực tiếp đến công tác khiếu nại, tố cáo, đến hoạt động của các cơ quan tư pháp

Kết quả nghiên cứu, điều tra của nhóm tác giả cho thấy, các vụ tố cáo

“tập trung vào những việc cán bộ lạm dụng chức quyền, tham nhũng, thoái hoá, biến chất, bao che, dung túng cho cấp dưới làm sai chính sách, mất dân chủ, trù dập người tố cáo, vi phạm pháp luật, làm giàu bất chính, trong đó có cả cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp vi phạm phẩm chất, đạo đức, tiêu cực trong điều tra, xét xử hoặc bảo kê cho các hoạt động mang tính chất tội phạm” [74, tr 118 - 119] Điều này cho thấy, tình trạng vi phạm ĐĐCV của đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ kiểm sát diễn ra rất phức tạp Các tác giả cũng luận giải những nguyên nhân khách quan và chủ quan của tình hình đó và chỉ rõ tính cấp thiết của việc đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay Kết quả nghiên cứu này giúp tác giả luận án mở rộng kiến thức thực tiễn cũng như có thêm vốn kinh nghiệm, phương pháp và kỹ năng khảo sát, đánh giá thực trạng ĐĐCV nói chung và ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát nói riêng

Năm 2011, Nhà xuất bản Tư pháp cho ra mắt bạn đọc cuốn “Đạo đức

nghề luật”[43] Cuốn sách gồm 8 chương, trong đó chương 4 bàn về “Đạo đức

nghề nghiệp của Kiểm sát viên” với 2 tiết, tiết 1 bàn về “Đặc điểm nghề nghiệp của kiểm sát viên” [43, tr 161 - 167] và tiết 2 bàn đến “Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của kiểm sát viên” [43, tr 167 - 183] Đây là những tư liệu tham khảo

Trang 23

có giá trị nhất định trong quá trình thực hiện chương 2, chương 3 của bản luận

án này

Trong bài “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cán bộ, công chức, viên

chức ngành tư pháp và yêu cầu đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” [76] trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số chuyên đề: Ngành tư pháp

với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo lời Bác dạy) năm 2013, tác giả Trần Văn Quảng cho rằng cần đẩy mạnh chế độ công vụ, công chức, mà trước hết cần “đổi mới lề lối làm việc, đổi mới cách thức thực thi công vụ” Tuy nhiên, tác giả cho rằng, trên thực tế, mới chỉ đặt ra vấn đề rà soát, sửa đổi, bổ sung thể chế mà thường chưa quan quan tâm đến việc củng cố đội ngũ cán bộ áp dụng các thể chế này” [76, tr.54]

Trong bài “Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận công chức

Việt Nam hiện nay” [70] (Tạp chí Thông tin khoa học lý luận chính trị, số 8 –

2017), tác giả Trần Sỹ Phán đã chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế

về mặt đạo đức công vụ của đội ngũ công chức nước ta hiện nay Theo tác giả, mặt tích cực vẫn là chính, là xu thế chủ đạo nhưng không được xem thường những biến đổi tiêu cực, “sự lệch chuẩn” đạo đức công vụ trong một bộ phận công chức nước ta hiện nay, trong đó có cả công chức ngành Kiểm sát

Trong bài viết “Công tác tiếp dân trong ngành Kiểm sát nhân dân qua

03 năm thực hiện Luật tiếp dân năm 2013” [97] của tác giả Nguyễn Kim Sáu

và Phạm Quốc Huy đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 03 (tháng 2/2018) đã nêu một số kết quả đạt được, những thiếu sót, tồn tại cũng như rút ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện tốt Luật này, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân trong ngành Kiểm sát nhân dân thời gian tới

Hai tác giả Tào Thị Quyên và Trần Thị Hương trong bài viết “Vận dụng

tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp ở Việt Nam hiện nay” [78] trên Tạp chí Kiểm sát, số 10/2018 đã chỉ ra một bộ phận tư

Trang 24

pháp hiện nay “phai nhạt lý tưởng, tha hoá lối sống, tham nhũng, quan liêu, tư lợi, vi phạm đạo đức nghề nghiệp” [78, tr.7]

Tác giả Lê Văn Đông với bài “Giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái

về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm” [33], đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 14-

2018 đã chỉ ra: “Có trường hợp đạo đức nghề nghiệp chưa được đề cao và coi trọng, còn có cán bộ, đảng viê sách nhiều gợi ý đòi, nhận hối lộ; lợi dụng chức

vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ để chiếm đoạt tài sản của công dân

đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự; có một số trường hợp vi phạm quy chế nghiệp vụ, quy chế hoạt động bị xử lý kỉ luật” [33,tr.5] Từ đó tác giả khẳng định tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm công tác đấu trang phòng, chống tội phạm bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về sự thiếu đồng

bộ của hệ thống pháp luật

Tác giả Đoàn Nam Đàn với bài “Tăng cường giáo dục đạo đức công vụ

cho công chức hiện nay” [31] đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14,

tháng 7-2020, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác giáo dục đạo đức công vụ thì thực tiễn hiện nay cho thấy tình trạng vi phạm quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp còn diễn ra khá phổ biến; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng Một bộ phận công chức quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của Nhân dân; vẫn còn hiện tượng cố ý làm trái các quy định của pháp luật trong thực thi công vụ; bảo thủ, trì trệ, thiếu năng động, sáng tạo; ngại tìm tòi, đổi mới; chất lượng và hiệu quả làm việc còn thấp; một số công chức chưa gương mẫu về đạo đức và lối sống sinh hoạt, tiêu dùng, giải trí xa hoa, lãng phí

Trong bài viết “Ngành kiểm sát nhân dân đẩy mạnh học tập và làm theo

tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” [101] của tác giả Phạm Vũ

Trang 25

Thắng, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 12/2020 có đánh giá cán bộ, đảng viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai; trong công tác tuyên truyền, quán triệt, tổ chức cuộc vận động và trong xây dựng chuẩn mực đạo đức và hoàn thiện quy định liên quan đến ĐĐCV

Như vậy, các công trình khoa học kể trên ít nhiều đã đề cập đến thực trạng đạo đức, ĐĐCV, đạo đức công chức và thực trạng xây dựng đạo đức công chức, ĐĐCV ở nước ta hiện nay, ở cả góc độ định tính và định lượng Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy khía cạnh thực tiễn của vấn đề đạo đức, ĐĐCV, đạo đức công chức cũng như vấn đề xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng Nhiều công trình nghiên cứu đã thực hiện những khảo sát thực tiễn công phu, khoa học, với những con

số thống kê, điều tra xã hội học, những khái quát có tính lý luận từ thực trạng đạo đức, ĐĐCV, đạo đức công chức và xây dựng đạo đức cách mạng nói chung

và đạo đức công chức, ĐĐCV nói riêng Những thách thức, mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình xây dựng đạo đức, đạo đức mới, đạo đức cách mạng, những tác động nhiều chiều của quan hệ lợi ích, của cơ chế thị trường, cũng như xu hướng vận động phức tạp của đời sống đạo đức nói chung và của cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng cũng đã được luận giải ở nhiều góc độ khác nhau

Các công trình khoa học kể trên cũng phân tích ở một mức độ nhất định nguyên nhân của thực trạng đạo đức, đạo đức công chức, ĐĐCV ở nước ta, nhất là nguyên nhân của sự suy thoái đạo đức xã hội nói chung và đạo đức công chức, đạo đức của người cán bộ, đảng viên nói riêng Ngoài nguyên nhân là sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, của tiến trình hiện đại hoá và xu thế toàn cầu hoá, những nguyên nhân chủ quan về vai trò lãnh đạo, tổ chức quản lý,

về cơ chế, chính sách, sự hạn chế của hệ thống pháp luật và những yếu kém về giáo dục và rèn luyện đạo đức cũng được nhiều nhà khoa học tập trung phân tích, luận giải

Trang 26

Cuốn sách “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề và giải pháp”

[96], nhóm tác giả Nguyễn Duy Quý, Hoàng Chí Bảo và các cộng sự “đặc biệt chú ý đến đặc điểm khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi nền kinh tế thị trường còn ở trình độ sơ khai, các quan hệ xã hội phức tạp, đan xen, những tàn dư của lối sống tiểu nông cùng lối sống thực dụng là mảnh đất cho sự xuất hiện những hành vi ứng xử thiếu đạo đức, không chỉ trong đời sống, sản xuất, kinh doanh mà cả trong đời sống văn hoá, chính trị ở nước ta hiện nay Những kết quả nghiên cứu đó, một mặt cho thấy bức tranh chung của tình hình đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công chức, công

vụ, v.v ở nước ta hiện nay, mặt khác, cung cấp những tư liệu, tài liệu quý tạo

cơ sở thực tiễn cho những phân tích, đối sánh về ĐĐCV của công chức nói chung và công chức ngành Kiểm sát nói riêng mà tác giả luận án quan tâm, nghiên cứu

1.2.2 Những công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

Trong thời gian gần đây, vấn đề văn hoá, đạo đức, nhân cách, lối sống là một lĩnh vực được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm Điều đó phần nào cho thấy tính cấp bách cả về lý luận và thực tiễn của vấn đề đạo đức, nhân cách người Việt Nam nói chung và đạo đức, nhân cách người cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong bộ máy hành chính nói riêng Cũng như việc phải tìm ra giải pháp khả thi để phát huy mặt tích cực, ngăn chặn, đẩy lùi mặt tiêu cực trong đời sống đạo đức của xã hội nói chung, của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng

Trong số các công trình đã được công bố, có thể kể đến các công trình

khoa học tiêu biểu của các tác giả như: “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay -

vấn đề và giải pháp” (2006) của tác giả Nguyễn Duy Quý, Hoàng Chí Bảo

(chủ biên); “Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng yêu

cầu của cải cách tư pháp” (2010) của nhóm tác giả Phạm Mạnh Hùng và

Trang 27

Phạm Thị Trang; “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng, chống suy

thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” (2011) của nhóm

tác giả Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo và các cộng sự; “Thực hiện tốt chính

sách cán bộ - giải pháp động lực góp phần đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” (2012) của tác giả Hoàng Chí Bảo; “Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong việc tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống” (2012) của tác giả Cao Văn

Thống; “Xây dựng ĐĐCV theo chuẩn mực đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh” (2014) của tác giả Nguyễn Duy Hạnh; “Đạo đức công vụ và một số giải pháp

cơ bản nhằm nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân

dân” của tác giả Trần Sỹ Phán, v.v

Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ sự cần thiết và tính cấp bách của việc bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao đạo đức mới, đạo đức cách mạng cho mỗi cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội Đạo đức của công chức góp phần khai thác tiềm năng của con người trong nền công vụ Trong xã hội hiện đại, ĐĐCV có vai trò xã hội to lớn, không chỉ là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội,

mà còn có ý nghĩa quyết định về mặt tinh thần trong việc thực thi nhiệm vụ, chức trách của công chức, viên chức trong bộ máy hành chính, góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền chính trị trong sạch, vì dân Các kết quả nghiên cứu đều có điểm chung thống nhất về những giá trị đạo đức căn bản cần khai thác và phát huy trong giai đoạn hiện nay, nhấn mạnh tính tất yếu của sự cần thiết phải xây dựng, nâng cao đạo đức cách mạng, hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển toàn diện con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai

Trong công trình khoa học“Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - vấn đề

và giải pháp” [96] nhóm tác giả Nguyễn Duy Quý, Hoàng Chí Bảo và các

cộng sự đã chỉ ra các phương hướng xây dựng đạo đức xã hội, đó là phải phê phán tàn dư của quá khứ, tập trung xây dựng chiến lược con người, giải quyết tốt các vấn đề xã hội trong kinh tế thị trường Các giải pháp đó là: xây dựng và

Trang 28

chỉnh đốn Đảng, cải cách tiền lương, dân chủ hoá đời sống, chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục - đào tạo, y tế, tập trung xây dựng pháp luật và giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, xây dựng và củng cố gia đình, vận động thực hiện lối sống tiết kiệm, lành mạnh, nhân ái

Nhóm tác giả Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo và các cộng sự cũng chỉ rõ những giải pháp phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên Đó là các nhóm giải pháp trong công tác xây dựng Đảng [74, tr 237], nhóm giải pháp trong lĩnh vực quản lý nhà nước [74, tr 269], nhóm giải pháp phát huy vai trò của nhân dân và xã hội [74, tr 283], nhóm giải pháp hạn chế tác động từ bên ngoài đến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên [74, tr 296] Việc đề cập các giải pháp một cách toàn diện cho thấy, trách nhiệm phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, của bộ máy quản lý nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội và của mỗi cán bộ, đảng viên, trong đó, trách nhiệm của Đảng cầm quyền có ý nghĩa quyết định

Tác giả Nguyễn Duy Hạnh cũng cho rằng, vấn đề nâng cao chất lượng ĐĐCV của cán bộ, công chức hiện nay phải gắn với việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Muốn vậy phải nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, phấn đấu làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; xây dựng chuẩn mực ĐĐCV mới theo

tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh, cụ thể hoá thành những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức bắt buộc mỗi cán bộ, công chức phải tuân thủ; đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với các trường hợp vi

Trang 29

phạm pháp luật, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ [38, tr 27]

Tác giả Trần Sỹ Phán cho rằng, để nâng cao ĐĐCV cho đội ngũ công chức nước ta hiện nay, giải pháp đầu tiên là phải phát huy hơn nữa vai trò của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc nâng cao ĐĐCV cho đội ngũ công chức; cần đổi mới công tác đánh giá công chức dựa trên một hệ giá trị chuẩn mực làm tiêu chí, tránh đánh giá tuỳ tiện, cảm tính; cần phát huy tính tích cực, chủ động, tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ công chức trong thực thi công vụ [68, tr 53 - 54]

Tác giả Huỳnh Văn Thới trong bài “Xác lập triết lý văn hóa công vụ

trong cải cách hành chính nhà nước” [104] đăng ở Tạp chí Lý luận chính trị, số

5 - 2016 cho rằng để góp phần nâng cao ĐĐCV cần phải xác lập triết lý văn hóa công vụ Tác giả bài viết cho rằng “nội dung văn hóa công vụ sẽ tạo ra sự thay đổi thái độ, hành vi công vụ, là một yếu tố quan trọng để kiến thức, kỹ năng thực thi công vụ được thể hiện đầy đủ trong hoạt động công vụ” [104, tr 102]

Trong bài “Đạo đức công vụ và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao

đạo đức công vụ cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân hiện nay” [71] trên

Tạp chí Lý luận chính trị Công an nhân dân (2017), ở một mức độ nhất định, tác giả Trần Sỹ Phán cũng góp phần làm sáng tỏ những khái niệm ĐĐCV, nâng cao ĐĐCV, v.v Đây là những gợi mở quý báu giúp nghiên cứu sinh có thêm tư liệu trong quá trình thực hiện luận án của mình

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14, tháng 7-2020 với bài “Tăng cường

giáo dục đạo đức công vụ cho công chức hiện nay” [31] của tác giả Đoàn

Nam Đàn Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng đội ngũ công chức vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới, theo tác giả cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về đạo

đức công vụ; tăng cường giáo dục và đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức

công vụ

Trang 30

Tác giả Bùi Thị Phương Liên trong bài “Nâng cao đạo đức công vụ

đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước” [50] đăng trên Tạp chí Lý luận chính

trị số 10-2020 đã đưa ra 6 giải pháp để nâng cao đạo đức công vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong tình hình mới

Theo tác giả Lê Thị Nam An trong bài “Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ

của một bộ phận cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc

động tiêu cực của các nhân tố đến ĐĐCV của đội ngũ cán bộ, công chức cần

nâng cao chất lượng việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức công vụ

Ở góc độ khoa học quản lý, nhóm tác giả Phạm Mạnh Hùng và Phạm Thị Trang cho rằng, cần “xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát trong

sạch, trung thành với Đảng, tận tụy với công vụ, có đức tính “Công minh,

chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và

quyền hạn của mỗi chức danh cán bộ kiểm sát Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ

tổ quốc” [111, tr 106]

Trong bài “Chuẩn mực đạo đức của người cán bộ kiểm sát” đăng trên

Cổng thông tin điện tử VKSND ngày 11/12/2014, tác giả Nguyễn Thị Bạch Tuyết khẳng định “để xây dựng được vị thế của Ngành, từng cán bộ, kiểm sát viên phải tự mình trau dồi kiến thức, năng lực của mình sao cho đủ đức, đủ tài,

đủ bản lĩnh và trách nhiệm để đảm đương nhiệm vụ và được nhân dân tôn trọng, tin yêu” [143]

Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác kiểm sát năm 2015, đăng trên Tạp chí Kiếm sát, số tết Ất Mùi (tháng 2/2015) Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Ngành Kiểm sát và mỗi cán

Trang 31

bộ kiểm sát phải là tấm gương trong chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực sự trở thành chỗ dựa của công lý” [106, tr.8] Tổng Bí thư nhấn mạnh 6 giải pháp để xây dựng hệ thống Viện kiểm sát thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu và kỳ vọng của Đảng, của nhân dân trong đó phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy của Bác Hồ

đối với người cán bộ kiểm sát: công minh, chính trực khách quan, thận trọng,

khiêm tốn “Người cán bộ kiểm sát phải có cái tâm trong sáng, tinh thông

nghiệp vụ, nhìn nhận, đánh giá sự việc một cách chính xác, khách quan; phải rèn luyện cho mình phương pháp làm việc khoa học, cẩn trọng, khiêm tốn Có cẩn trọng, khiêm tốn mới đủ tỉnh táo đề nhận thức chân lý đúng đắn và mới có được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân” [106, tr.8]

Tác giả Trần Quốc Vượng có bài viết “Cán bộ kiểm sát cần nêu cao

tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp để vượt qua mọi cám dỗ” [128]

đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 16 (tháng 8/2015) Tác giả có đề cập đến

“ngành Kiểm sát là nơi đào tạo con người có chất lượng, có bản lĩnh, có lương tâm” [128, tr.5] Công tác kiểm sát là công tác mang đậm ý nghĩa sâu sắc về chính trị và pháp lý Tuy nhiên, trong quá trình công tác – “đặc biệt trong một lĩnh vực nhạy cảm, tiếp xúc với mặt trái của xã hội, cám dỗ là rất lớn nếu chúng ta không vững vàng, không có ngưỡng thì chúng ta sẽ sai đường, lạc lối, vì sai đường, lạc lối chính là gắn tới sinh mạng chính trị của mỗi con người” [128, tr.7]

Bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

trong tổ chức và rút kinh nghiệm sau phiên tòa” [14] của tác giả Nguyễn Cao

Cường đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 6 (tháng 3/2017) đã nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình vào các hoạt động trước và trong khi diễn ra phiên tòa hình sự, xây dựng trình tự, nội dung của các cuộc họp rút kinh nghiệm sau mỗi phiên tòa

Trang 32

Tạp chí Kiểm sát, số 10/2018, trong bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí

Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp ở Việt Nam hiện nay” [78] tác

giả Tào Thị Quyên và Trần Thị Hương đã khẳng định để tiếp tục vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp hiện nay cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó cụ thể hoá các yêu cầu thành “các chuẩn mực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên và các chức danh tư pháp khác Tiếp tục triển khai các cuộc thi đua trong cán bộ tư pháp học tập và làm theo tấm gương thượng tôn pháp luật, đạo đức trong sáng của Hồ Chủ tịch” [78, tr.7]

Trong bài “Xây dựng hình ảnh chuẩn mực đạo đức của người cán bộ

kiểm sát” [144] của tác giả Phương Thảo đăng trên trang Thông tin điện tử

VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, ngày 22/10/2018 có khẳng định lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ kiểm sát phải “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” là “kim chỉ nam”, là mục đích mà người cán bộ kiểm sát phải tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu trong suốt cả cuộc đời Theo tác giả để vận dụng 5 đức tính của cán bộ kiểm sát nhân dân mà Bác đã dạy, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó có giải pháp về xây dựng các quy định về đạo đức công vụ, phong cách lãnh đạo; các tiêu chí về đạo đức công

vụ phải cụ thể, rõ ràng và khả thi, xây dựng quy định kèm theo các chế tài cụ thể để xử lý khi có vi phạm [144]

Bài viết “Thấm nhuần và tiếp tục kiên trì rèn luyện thực hiện lời dạy

của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ kiểm sát” [107] của tác giả Lê

Minh Trí đăng trong Tạp chí Kiểm sát, số 14 (tháng 7/2019) đã đề cập đến việc xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và cải cách tư pháp hiện nay Muốn vậy, toàn thể công chức, đảng viên trong toàn ngành cần vận dụng tốt hơn lời dạy của Bác Hồ đối với cán bộ kiểm sát, đó là: công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn

Trang 33

Từ cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực tiễn, các công trình khoa học

đã kiến nghị, đề xuất các giải pháp thực tiễn trong việc xây dựng, nâng cao đạo đức cách mạng, đạo đức công chức, ĐĐCV ở nước ta hiện nay Nhiều tác giả đã đề cập đến những giải pháp cụ thể, ở góc độ động thái của chủ thể hành động nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong xây dựng đạo đức

xã hội Các công trình nghiên cứu, ở những góc độ, phạm vi và mức độ khác nhau, đã chỉ rõ những định hướng lớn trong việc xây dựng và nâng cao đạo đức xã hội, đạo đức cách mạng, đồng thời đề xuất nhiều hệ giải pháp xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng, đặc biệt trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng Các nhóm giải pháp thường tập trung vào vấn đề nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, trong đó có chính sách cán bộ, cải thiện chế độ đãi ngộ công chức, viên chức, v.v

Nhìn chung, các công trình khoa học đã đề xuất và luận giải nhiều giải pháp và nhóm giải pháp khác nhau nhằm nâng cao đạo đức của cán bộ, đảng viên, và công chức Các giải pháp đó đều tập trung vào những vấn đề nóng bỏng, bức thiết của đời sống đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp ở nước ta hiện nay Các giải pháp chính ở khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hoá giáo dục, v.v được quan tâm nhiều hơn cả Kết quả nghiên cứu này đã gợi mở cho nghiên cứu sinh những vấn đề về cách thức và giải pháp nâng cao đạo đức cách mạng, ĐĐCV cho đội ngũ công chức nói chung cũng như đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay

Tuy đã có những nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao ĐĐCV cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay nhưng chưa có một công trình nào

đề cập trực tiếp đến giải pháp nâng cao ĐĐCV cho đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay Đây cũng là một trong những nhiệm vụ mà đề tài nghiên cứu của chúng tôi cần phải giải quyết

Trang 34

1.3 Giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1 Giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án

Một là, các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài

mà luận án nêu ở trên đã trực tiếp hay gián tiếp đề cập tới các vấn đề lý luận

cơ bản về công vụ, công chức, ĐĐCV nói chung và ĐĐCV công chức ngành Kiểm sát nói riêng Tuy chưa thật toàn diện và có tính hệ thống so với hướng nghiên cứu của đề tài luận án, song đây là những nguồn tài liệu quý báu cho tác giả tham khảo viết luận án của mình

Hai là, một số công trình khoa học mà tác giả nêu ở trên đã ít nhiều đề

cập đến thực trạng ĐĐCV của đội ngũ công chức ở nước ta nói chung và ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát nói riêng Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu của các công trình trên mới đề cập ở những khía cạnh, nội dung riêng lẻ của ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát nhưng chưa có tính hệ thống, thiếu đồng bộ và chưa mang tính toàn diện của cả ngành Nhưng đây cũng là những tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả trong quá trình đánh giá thực trạng của đề tài luận án

Ba là, một số công trình khoa học tác giả thống kê ở trên có đề cập đến

giải pháp nâng cao ĐĐCV của đội ngũ công chức ở Việt Nam nói chung và ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát nói riêng Các giải pháp tập trung vào việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, xây dựng các chuẩn mực ĐĐCV, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; phát huy tính tích cực, tự giác của cán bộ công chức, v.v Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao ĐĐCV của đội ngũ

Trang 35

công chức ở Việt Nam nói chung, còn giải pháp nhằm nâng cao ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát còn rất ít và chưa thành hệ thống

Tổng quan các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến

đề tài luận án cho thấy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát một cách có hệ thống

và toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Đạo đức học, ngành Triết học

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án; trên

cơ sở khái quát các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án, tác giả xác định vấn đề cần được nghiên cứu trong luận án “Đạo đức công vụ của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay” bao gồm những nội dung sau:

Một là, hệ thống hóa và tiếp tục làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về

công chức, công vụ, ĐĐCV, ĐĐCV ngành Kiểm sát và một số nội dung cơ bản của nó; những nhân tố tác động đến ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam

Hai là, trên cơ sở làm sáng tỏ những nội dung lý luận có liên quan đến

ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát, luận án đi vào phân tích thực trạng, làm sáng tỏ những kết quả đạt được và hạn chế trong việc thực thi ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ

ra nguyên nhân của thực trạng ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát

ở Việt Nam hiện nay

Ba là, trên cơ sở đánh giá thực trạng ĐĐCV của đội ngũ công chức

ngành Kiểm sát ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ĐĐCV của đội ngũ công chức ngành Kiểm sát hướng tới xây dựng

đội ngũ công chức ngành Kiểm sát Việt Nam công minh, chính trực, khách

quan, thận trọng, khiêm tốn

Trang 36

Chương 2 ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH KIỂM SÁT

Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1 Khái niệm công chức, công vụ, đạo đức và đạo đức công vụ

2.1.1 Khái niệm công chức, công vụ

2.1.1.1 Khái niệm công chức

Công chức là một bộ phận quan trọng cấu thành quyền lực công cũng như nền công vụ Trên thế giới, chế độ công chức đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm Nội hàm khái niệm công chức không ngừng được bổ sung, hoàn thiện theo hướng ngày càng phù hợp với đòi hỏi khách quan của quá trình xây dựng nền công vụ hiện đại và trình độ phát triển kinh tế - xã hội Song đây là khái niệm mang tính lịch sử phụ thuộc vào thể chế chính trị và trong từng giai đoạn phát triển của mỗi một quốc gia Cho nên, không có một định nghĩa chung về công chức cho tất cả các nước trên thế giới

Khác với công chức ở nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, khái niệm công chức được hiểu rộng hơn Công chức Việt Nam không chỉ có những người làm việc trong các cơ quan nhà nước ở cả ba bộ phận lập pháp, hành pháp và tư pháp từ cấp Trung ương tới địa phương mà còn gồm những người hoạt động trong tổ chức chính trị (Đảng Cộng sản Việt Nam), các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam) và các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân

Theo Luật Cán bộ, Công chức (2008) công chức được xác định là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội

Trang 37

nhân dân Việt Nam hay Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Khái niệm công chức có nội hàm rộng Trong khuôn khổ phạm vi của luận án, tác giả sử dụng khái niệm công chức theo Luật sửa đổi, bổ sung

Luật Cán bộ - công chức và viên chức năm 2019 Theo đó, công chức là

công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn

vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Như vậy, công chức không chỉ là người hưởng lương trong cơ quan hành pháp mà cả trong cơ quan lập pháp, tư pháp, cả cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang Dù chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng hoạt động của đội ngũ công chức này đều hướng tới mục đích chung là phục vụ lợi ích của nhân dân, xã hội, dân tộc

2.1.1.2 Khái niệm công vụ

Nói đến công vụ là nói đến hoạt động của nhà nước, với nhiều yếu tố hợp thành như thể chế công vụ, đội ngũ công chức, các cơ quan, tổ chức, đơn

vị của nhà nước, v.v Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và

Trang 38

pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội

Hoạt động công vụ được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và gắn với quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước Như vậy, công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội Với ý nghĩa như vậy, bất cứ nhà nước nào cũng phải xây dựng một nền công

vụ hiệu lực, hiệu quả và nhấn mạnh đến trách nhiệm công vụ Nền công vụ của mỗi quốc gia luôn phải tương thích với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước hiện hành Các quốc gia có thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước khác nhau thì quan niệm về hoạt động công vụ cũng có những điểm khác nhau

Ở Việt Nam, với đặc thù riêng, các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội tạo thành một hệ thống chính trị thống nhất do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, giữa các cơ quan này luôn có sự liên thông trong

sử dụng nguồn nhân lực Do đó, công vụ không chỉ thuần túy là hoạt động của công chức nhân danh quyền lực công mà còn được hiểu là các hoạt động trong phạm vi rộng hơn Khẳng định tính đặc thù này, Điều 2 Luật Cán bộ - công chức năm 2008 quy định: Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan Theo đó, công vụ được hiểu là một loại công việc do cán bộ, công chức thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ

Dù xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng điểm chung của hoạt

động công vụ là gắn với nhà nước, với quyền lực công Công vụ thể hiện ý chí

và đáp ứng lợi ích của nhân dân và của nhà nước Xuất phát từ chỗ công vụ là phương tiện thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, nó là định

Trang 39

chế tổ chức – pháp lý trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước và phải phục

vụ ý chí của nhà nước và của nhân dân Công chức khi thực thi công vụ chính

là phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi tham gia hoạt động công vụ, công chức phải tuân theo các nghĩa vụ, có trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn được giao

Để đạt được điều đó, bên cạnh năng lực, trình độ, người công chức còn phải hội tụ đủ các phẩm chất đạo đức, tài năng và thường xuyên rèn luyện để có phẩm chất đạo đức tốt, trách nhiệm cao trong thực thi công vụ

Từ các quan niệm và cách hiểu trên, tác giả cho rằng: Công vụ là hoạt

động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức, viên chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội

Đặc điểm chung của hoạt động công vụ là:

- Mục đích trên hết của công vụ là phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân

và xã hội

- Nội dung hoạt động công vụ bao gồm các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong lãnh đạo, quản lý và tham gia quản lý mọi mặt của đời sống xã hội Đồng thời,

tổ chức cung ứng và phục vụ nhu cầu chung của xã hội, của nhân dân không vì mục đích lợi nhuận

- Chủ thể thực hiện công vụ là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

- Hoạt động công vụ không chỉ thuần túy mang tính quyền lực nhà nước

mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước ủy quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân Các hoạt động này đều do cán bộ, công chức nhân danh nhà nước tiến hành, bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước và các hoạt động của các tổ chức được nhà nước ủy quyền

Trang 40

- Công vụ được tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được nhà nước giao và tuân theo pháp luật

- Hoạt động công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp

2.1.2 Khái niệm đạo đức và đạo đức công vụ

2.1.2.1 Khái niệm đạo đức

Khái niệm “đạo đức” xuất hiện tương đối sớm Trong triết học Trung Hoa, khái niệm đạo đức đã xuất hiện trong một loại văn tự được khắc hoặc đúc trên các nhạc khí bằng đồng như chuông, vạc (hay còn gọi là chung, đỉnh) đời nhà Chu (khoảng 1046 T.C.N- 256 T.C.N) mà người ta thường gọi là kim văn, minh văn hay chung đỉnh văn

Ở phương Tây, Xôcrát (469-399 T.C.N) được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho Đạo đức học, còn Aristốt (384-322 T.C.N) đã có những bài giảng về đạo đức học, về sau các bài giảng này được tập hợp lại và in thành cuốn “Đạo đức học” Cuốn sách này vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay [1]

Tuy có lịch sử phát triển tương đối dài nhưng cho đến nay vẫn chưa có

sự thống nhất cao độ khi định nghĩa về “đạo đức” Một số ý kiến cho rằng, đạo đức là “một hình thái ý thức xã hội” [4]; một số ý kiến khác lại coi đạo đức là một “hiện tượng xã hội” [102] với hàm ý trong cấu trúc đạo đức có cả ý thức đạo đức lẫn thực tiễn đạo đức (hành vi đạo đức, quan hệ đạo đức) Các cách hiểu, các quan niệm này đều có điểm hợp lý nhất định và là những tài liệu tham khảo quý giá đối với tác giả luận án trong quá trình thực hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Tác giả luận án cho rằng, nói đến đạo đức trước hết phải coi nó là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội về mặt (lĩnh vực) đạo đức Nhưng xuất phát từ bản chất, đặc trưng, chức năng cơ bản của đạo đức (chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức) cho nên khi nói đến “đạo đức” chúng ta phải nói đến quá trình hiện thực hóa “ý thức

Ngày đăng: 10/01/2023, 06:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristot, Đạo đức học của Nocomaque, Trung tâm học liệu, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn 1974, dịch giả: Đức Hinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học của Nocomaque
Tác giả: Aristot
Nhà XB: Trung tâm học liệu
Năm: 1974
7. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2009
8. Trần Văn Bính (2013), “Biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội nước ta trước tác động của nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Cộng sản, (Số 853) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội nước ta trước tác động của nền kinh tế thị trường
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2013
9. Bộ Tư pháp (2012), Quyết định số 2659/QĐ-BTP ngày 03/10/2012 về việc ban hành “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2659/QĐ-BTP ngày 03/10/2012 về việc ban hành “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp”
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
11. Ngô Thành Can (2018) (chủ biên), Đạo đức công chức trong thực thi công vụ, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức công chức trong thực thi công vụ
Tác giả: Ngô Thành Can
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2018
12. Vũ Hoàng Công (2016), “Trách nhiệm công vụ”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm công vụ
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: Tạp chí Lý luận chính trị
Năm: 2016
13. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), BCH Trung ương, Nghị quyết số 49- NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49- NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, BCH Trung ương
Năm: 2005
129. Bùi Mạnh Cường, “10 kết quả nổi bật của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2017”, Kiemsat.vn, ngày 01/012018. https://kiemsat.vn/10-ket-qua-noi-bat-cua-nganh-kiem-sat-nhan-dan-nam-2017-48592.html Link
132. Quang Vũ – Xuân Tùng, “Ngành Kiểm sát phải xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động tư pháp”, Thông tấn xã Việt Nam/Vietnam +, ngày 31/12/2021. https://www.vietnamplus.vn/nganh-kiem-sat-phai-xu-ly-nghiem-cac-vi-pham-trong-hoat-dong-tu-phap/766117.vnp Link
133. Cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao , “Ngành kiểm sát tiếp tục đạt và vượt nhiều chỉ tiêu trong Nghị quyết của Quốc hội”, ngày 23/10/2021. https://vksndtc.gov.vn/tin-hoat-dong-vksnd-toi-cao/nam-2021-nganh-kiem-sat-tiep-tuc-dat-va-vuot-nhieu-d2-t9691.html Link
135. Minh Chiến , “ 60 trường hợp bị oan liên quan trách nhiệm của viện kiểm sát”, Người lao động, ngày 26/10/2020. https://nld.com.vn/phap-luat/60-truong-hop-bi-oan-lien-quan-den-trach-nhiem-cua-vien-kiem-sat-20201026105828444.htm Link
140. Báo Bảo vệ pháp luật, “2 tập thể ngành Kiểm sát nhân dân được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” thời kỳ đổi mới”, ngày 09/01/2021.https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/nhan-to-dien-hinh/2-tap-the-nganh-kiem-sat-nhan-dan-duoc-phong-tang-danh-hieu-anh-hung-lao-dong-thoi-ky-doi-moi-100075.html Link
141. Báo Bảo vệ pháp luật, “Thủ tướng tặng bằng khen cho 2 tập thể, 4 cá nhân thuộc ngành Kiểm sát trong phòng, chống tham nhũng”, ngày 15/01/2021. https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/nhan-to-dien-hinh/thu-tuong-tang-bang-khen-cho-2-tap-the-4-ca-nhan-thuoc-nganh-kiem-sat-trong-phong-chong-tham-nhung-100349.html Link
142. Báo Bảo vệ pháp luật, “Viện trưởng VKSND tối cao tặng Bằng khen cho nhiều tập thể, cá nhân”, ngày 22/11/2021. https://baovephapluat.vn/cai- cach-tu-phap/nhan-to-dien-hinh/vien-truong-vksnd-toi-cao-tang-bang-khen-cho-nhieu-tap-the-ca-nhan-115239.html Link
143. Nguyễn Thị Bạch Tuyết, “ Chuẩn mực đạo đức của Người cán bộ kiểm sát, Cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao”, ngày 11/12/2014.https://www.vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/chuan-muc-dao-duc-cua-nguoi-can-bo-kiem-sat-d10-t3510.html?Page=7#new-related Link
145. Tăng Ngọc Tuấn, “Kết quả kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của VKSND và phương hướng, giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới”, Kiemsat online, ngày 14/7/2022. https://kiemsat.vn/ket-qua-kien-toan-to-chuc-bo-may-can-bo-cua-vksnd-va-phuong-huong-giai-phap-hoan-thien-trong-thoi-gian-toi-63961.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w