ĐỀ CƯƠNG SƠ BỘ Đề án môn học GVHD GS TS Hoàng Việt Đề án môn học GVHD GS TS Hoàng Việt MỤC LỤC 1Lời mở đầu 4Phần I Một số vấn đề cơ sở lý luận chung về tạo việc làm tăng thu nhập cho[.]
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Phần I Một số vấn đề cơ sở lý luận chung về tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn Việt Nam 4
1.1 Các khái niệm 4
1.1.1 Lao động 4
1.1.2 Lao động nông thôn 4
1.1.3 Việc làm 5
1.1.4 Tạo việc làm 5
1.1.5 Khái niệm thu nhập 5
1.2 Ý nghĩa của việc tạo việc làm tăng thu nhập cho lao đông nông thôn Việt Nam 6
1.3 Sự cần thiết 7
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm 9
1.4.1 Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, địa phương 9
1.4.2 Nhân tố điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ 11
1.4.3 Nhân tố bản thân người lao động 11
1.4.4 Hệ thống thông tin thị trường 11
Phần II Một vài nét về thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nông thôn Việt Nam 12 2.1 Thực trạng việc làm và cơ cấu lao động nông thôn 12
2.2 Thu nhập của lao động nông thôn Việt Nam 19
Phần III Một số giải pháp tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn Việt Nam 23 3.1 Định hướng 23
3.2 Một số giải pháp tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn 23
3.2.1 Đào tạo, phát triển dạy nghề, nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động nông thôn 23
3.2.2 Đổi mới cơ cấu ngành trong nông thôn 28
3.2.3 Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất 29
3.2.4 Phát triển ngành công nghiệp chế biến hàng nông sản, nâng cao giá trị hàng nông sản và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp trong nông thôn 30
3.2.5 Phát triển hệ thống chợ tăng cường lưu thông, mua bán trao đổi hàng hóa tại nông thôn 34
Kết Luận 37
Danh mục tài liệu tham khảo38
Trang 3Lơì m đ u ở ầ
Hiện nay, lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và cácngành công nghiệp địa phương thường thấp Dẫn đến thu nhập của người dânnông thôn thấp Lao động nông thôn vẫn còn sống chủ yếu bằng nghề nôngnghiệp nhưng họ lại thiếu đất để sản xuất, đất sản xuất nông nghiệp giảm dodân số tăng và quá trình đô thị hóa
Lực lượng lao động ở nông thôn rất lớn nhưng lại thiếu việc làm, thấtnghiệp và bán thất nghiệp vẫn thường xuyên xảy ra Hàng tiêu dùng khanhiếm, giá cả đắt đỏ, người dân nông thôn khó có thể mua những thứ cần thiếtphù hợp với thu nhập của họ
Diện tích đất nông nghiệp thu hẹp, cơ hội sống được bằng nghề nôngtrên ruộng đất cũ ngày càng ít đi, người nông dân phải chuyển sang tìm việctrong các khu công nghiệp, nhà máy Một trong những nguyên nhân đầu tiêncản trở quá trình lao động nông thôn chuyển việc là trình độ học vấn và kỹnăng nghề thấp
Bên cạnh những yếu tố chủ quan từ phía người lao động nói trên, mộtnguyên nhân khiến lao động nông thôn khó tìm việc còn xuất phát từ nhữngyếu tố khách quan khác
Theo các chuyên gia về lao động và việc làm của Viện Khoa học laođộng và xã hội, mặc dù trong thập kỷ qua, nền kinh tế nước ta phát triểnnhanh, đầu tư tăng trưởng mạnh nhưng trên thực tế, khả năng tạo việc làmcòn tương đối hạn chế
Các nhóm chính sách hỗ trợ về đào tạo và dạy nghề gắn với giải quyếtviệc làm cho nhóm lao động dễ bị tổn thương còn chưa hiệu quả; hệ thốngthông tin tư vấn giới thiệu việc làm còn thiếu, chưa phát triển đến các vùngnông thôn; đặc biệt thiếu cơ sở đào tạo ở các vùng nông thôn khó khăn (số cơsở hiện có chỉ đáp ứng được khoảng 10% so với nhu cầu ở những vùng khókhăn)
Bên cạnh đó, việc giải quyết việc làm và chuyển đổi sinh kế cho bộphận lao động đặc thù (trong đó có dân cư nông thôn có đất phải chuyến đổi
Trang 4mục đích sử dụng) còn chưa thực sự hiệu quả dẫn đến một bộ phận người laođộng không tìm được việc làm mới, hoặc có việc làm nhưng không ổn định,thu nhập bấp bênh.
Từ thực tế này, việc xây dựng một chiến lược về phát triển, tạo việclàm là thực sự cần thiết Chiến lược này cần gắn kết với các chính sách pháttriển kinh tế và đầu tư lớn với mục tiêu chủ yếu nhằm tạo thêm nhiều việc làmtrong các ngành có năng suất lao động cao, thúc đẩy chuyển dịch từ lao độngnông nghiệp sang công nghiệp và từ khu vực kinh tế phi chính thức sang khuvực chính thức; phát triển việc làm phi nông nghiệp ở các vùng nông thôn vàhỗ trợ lao động nông thôn học nghề mới
Mỗi vấn đề nghiên cứu được đưa ra thì có rất nhiều các vấn đề khácliên quan chằng chịt, đan xen với nó dưới nhiều góc độ khác nhau Vì vậytrong đề án này, em đi sâu nghiên cứu về vấn đề tạo việc làm cho lao độngnông thôn dựa trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làmvà tình hình thiếu việc làm và thất nghiệp ở khu vực nông thôn và mức thunhập của lao động nông thôn Việt Nam, để từ đó đánh giá và đưa ra những
giải pháp khắc phục Do đó em quyết định chọn tên đề tài: “Tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn Việt Nam”.
Để đạt được hiệu quả trong việc nghiên cứu, ngoài phần lời mở đầu vàkết luận, phần nội dung của đề tài được trình bày gồm:
Phần I: Một số vấn đề cơ sở lý luận chung về tạo việc làm tăng thunhập cho lao động nông thôn Việt Nam
Phần II: Một vài nét về thực trạng việc làm và thu nhập của lao độngnông thôn Việt Nam
Phần III: Định hướng và một số giải pháp tạo việc làm tăng thu nhậpcho lao động nông thôn Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Hoàng Việt đã tận tình giúp đỡ emhoàn thành đề án này
Trang 5Mặc dù đã cố gắng hoàn thành tốt bài đề án, nhưng do kiến thức vàkinh nghiệm thực tế còn hạn chế, bài đề án của em còn nhiều thiếu sót Em rấtmong nhận được những lời nhận xét góp ý của các thầy, các cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6Phần I Một số vấn đề cơ sở lý luận chung về tạo việc làm tăng thu nhập
cho lao động nông thôn Việt Nam
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Lao động
Lao động chính là việc sử dụng sức lao động của các đối tượng laođộng Sức lao động là toàn bộ trí lực và sức lực của con nguời được sử dụngtrong quá trình lao động Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt độngnhiều nhất để tạo ra sản phẩm
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình sản xuất,lao động giữ vai trò quan trọng làm môi giới cho sự trao đổi
Nếu coi sản xuất là một hệ thống bao gồm ba bộ phận tạo thành (cácnguồn lực, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hoá) thì sức lao động là mộttrong các nguồn lực khởi đầu của một quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩmhàng hoá
Như vậy, lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tốquyết định sự phát triển của đất nước Con người vừa là mục tiêu vừa là độnglực cho sự phát triển kinh tế – xã hội
1.1.2 Lao động nông thôn
Lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ởnông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật và có khả nănglao động
Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận lao động nông thôn baogồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việclàm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất mùa vụ của công việc ở nông thôn màlực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độtuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động thamgia sản xuất với những công việc phù hợp với mình
Trang 7Từ khái niệm lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rấtdồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ởnông thôn.
1.1.3 Việc làm
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung người lao động được coilà có việc làm và được xã hội thừa nhận là người làm việc trong thành phầnkinh tế quốc doanh, khu vực nhà nước và khu vực kinh tế tập thể Trong cơchế đó nhà nước bố trí việc làm cho người lao động
Hiện nay, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, quan niệm về việc làm đã thay đổi một cách căn bản Theo điều
13 chương 3 Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêurõ: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đềuđược thừa nhận là việc làm"
Với quan niệm về việc làm như trên sẽ làm cho nội dung của việc làmđược mở rộng và tạo ra khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng sức lao động,giải quyết việc làm cho nhiều người
1.1.4 Tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất,số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiếtkhác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động
Như vậy, muốn tạo việc làm cần ba yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất, sứclao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác kết hợp tư liệu sản xuất và sứclao động Ba yếu tố này lại chịu tác động của nhiều yếu tố khác
1.1.5 Khái niệm thu nhập
Thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: Thù lao cần thiết (tiền lương,tiền công, các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương) và phần có được từthặng dư từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 81.2 Ý nghĩa của việc tạo việc làm tăng thu nhập cho lao đông nông thôn Việt Nam
Con người là mục tiêu là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội và làyếu tố tạo ra lợi ích xã hội
Nông thôn có một vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hộicủa mỗi quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam lại là một nước nông nghiệp Tạoviệc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn có ý nghĩa to lớn trong pháttriển kinh tế xã hội bền vững và lâu dài
Việt Nam có hơn 70,4% người lao động xuất thân từ nông thôn, vềtrình độ chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế Vì vậy tạo việc làm cho lao độngnông thôn là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triểnkinh tế – xã hội, từ đó làm giảm lao động dư thừa và thời gian nhàn rỗi, đồngthời từng bước nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
Tạo việc làm cho lao động nông thôn thể hiện vai trò của xã hội đối vớingười lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất và tinh thần củangười lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và hạn chế được những phát sinh tiêucực cho xã hội do thiếu việc làm gây ra
Thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, cản trởquá trình vận động và phát triển kinh tế đất nước Nhà nước từ lâu đã có chủtrương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển dần lao độngnông thôn làm trong nông nghiệp sang ngành dịch vụ và các ngành phi nôngnghiệp Do chịu nhiều ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân vì thế mà quá trìnhchuyển đổi này diễn ra một cách chậm chạp Vì thế, tạo việc làm tăng thunhập có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Tạo việc làm cho lao động nông thôn có tác động làm tăng dân trí chongười dân Thông qua các chính sách đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, nó
sẽ tạo ra một khả năng tiếp thu những thành tựu và ứng dụng khoa học kỹthuật, nâng cao nhận thức của người lao động, tạo ra mức thu nhập ổn địnhcho người lao động góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập giữa lao độngnông thôn và lao động thành thị
Trang 9Tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nông thôn sẽ tạo điều kiện chongười lao động có việc làm, một mặt nhằm phát huy tiềm năng lao động,nguồn lực to lớn ở nước ta hiện nay cho sự phát triển kinh tế – xã hội, mặtkhác là hướng cơ bản để xóa đói giảm nghèo có hiệu quả, là cơ sở để cải thiệnvà nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần quan trọng giữ vững an ninhchính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh mẽ thực hiện sự nghiệpcông nghiệp, hóa hiện đại hóa đất nước.
1.3 Sự cần thiết
Trong công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta đã có nhữngbước phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 6,8%; năm 2009 đạt
%, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được cải thiện
Thu nhập bình quân đầu người ngày càng được cải thiện, nhu cầu đờisống của nhân dân nông thôn ngày có xu hướng tăng lên nhưng dưới tác độngcủa cơ chế thị trường và chính sách kinh tế mới, hiện nay đang xuất hiệnnhiều hiện tượng xã hội phức tạp
Tại nhiều làng quê, vấn đề dư thừa lao động trở nên báo động Tìnhtrạng thanh niên ở vùng nông thôn không có việc làm thường xuyên chơi bờilêu lổng, dẫn đến sa ngã vào các tệ nạn xã hội, nhiều thanh niên rời bỏ làngquê lên thành phố tìm việc làm thuê nhưng cũng gặp nhiều khó khăn nhất làvấn đề trình độ tay nghề, và cũng có nhiều trường hợp sa ngã vào các tệ nạnxã hội
Nhiều làng nghề truyền thống bị mai một đẩy nhiều lao động nông thônđến tình cảnh thất nghiệp Không có việc làm hoặc một việc làm bấp bênh,năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất kém dẫn đến thu nhập không ổnđịnh khiến cho việc đầu tư tái sản xuất ở khu vực nông thôn gặp nhiều khókhăn
Theo xu thế, cơ cấu kinh tế nước ta chuyển dịch theo xu hướng tăng tỷtrọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng các ngành nôngnghiệp Do đó, lao động nông thôn là một trong những nhóm đối tượng yếuthế sẽ gặp khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm ổn định
Trang 10Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, hiện nay chúng ta càng nhận thức rõ vai trò quyết định của nguồn nhânlực nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao vốn là yếu tố vật chất quantrọng đối với sự phát triển lực lượng sản xuất.
Là một quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo song tìnhhình sức khoẻ của người lao động nông thôn còn hạn chế nhất là về cân nặngvà chiều cao Điều này chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sinh hoạt, ăn uốnghàng ngày hay nói đúng hơn là bị chi phối bởi mức thu nhập
Sức khoẻ và thể trạng của người Việt Nam nói chung là nhỏ bé, hạnchế nhiều về thể lực, cho dù có bù lại ưu thế về sự chăm chỉ, siêng năng, dẻodai thì thể lực như vậy cũng khó trụ vững được trong những dây chuyền sảnxuất đòi hỏi cường độ làm việc cao
Điều đáng chú ý là cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn cho đến nayvẫn dựa chủ yếu vào nông nghiệp và lâm nghiệp, xu hướng này ít thay đổi sovới các năm trước Mức sống của lao động nông thôn hiện nay là rất thấp sovới mặt bằng chung và cần được nâng lên Vậy vấn đề đặt ra là phải tăng thunhập cho lao động nông thôn
Trong nhiều năm, kinh tế nông nghiệp giữ được nhịp độ tăng trưởngcao và ổn định nhưng áp lực về việc làm có xu hướng gia tăng và nổi lên nhưmột vấn đề bức xúc Bởi lẽ đến nay vẫn còn 80% dân số và hơn 70% lựclượng lao động của cả nước ở khu vực nông thôn, đặc biệt có đến 90% số hộnghèo đang sinh sống ở nông thôn Vì vậy, vấn đề phát triển đất nước phảigắn liền với việc phát triển một vùng nông thôn rộng lớn
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nông thôn mới thì tạo việc làm cho laođộng nông thôn cũng trở nên cần thiết Muốn xây dựng nông thôn mới thìphải giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong nó, trong đó vấn đề giải quyếtviệc làm là một mối quan tâm lớn
Như vậy muốn đất nước phát triển, tăng trưởng bền vững, một trongnhững vấn đề cơ bản là phải tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nôngthôn
Trang 111.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm
1.4.1 Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, địa phương
Việc làm được tạo ra như thế nào, chủ yếu cho đối tượng nào, với sốlượng dự tính bao nhiêu,… phụ thuộc vào cơ chế, chính sách kinh tế xã hộicủa mỗi quốc gia trong từng thời kỳ cụ thể
Bộ Luật Lao Động quy định về chính sách việc làm của nước ta nhưsau:
Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinhtế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, chovay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác
để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vịvà cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạoviệc làm cho nhiều người lao động
Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sửdụng lao động là người dân tộc thiểu số
Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho cáctổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài, bao gồm cả người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyếtviệc làm cho người lao động
Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư pháttriển kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trìnhgiải quyết việc làm; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước vàcác nguồn khác, phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập chươngtrình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùngcấp quyết định
Trang 12Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổchức xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệmtham gia thực hiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm.
Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao độngnào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm Người cần tìm việc làm cóquyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức dịch vụ việclàm để tìm việc tuỳ theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sứckhoẻ của mình
Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chứcdịch vụ việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phùhợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật
Tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập theo quy định của pháp luậtcó nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu, cung ứng và giúp tuyển lao động, thu thập vàcung ứng thông tin về thị trường lao động Việc đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài chỉ được tiến hành sau khi có giấy phép của cơ quanNhà nước có thẩm quyền
Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người laođộng đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ một năm trở lên bị mấtviệc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục
sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làmmới, phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứmỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai thánglương
Các doanh nghiệp phải lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm theoquy định của Chính phủ để kịp thời trợ cấp cho người lao động trong doanhnghiệp bị mất việc làm
Chính phủ có chính sách và biện pháp tổ chức dạy nghề, đào tạo lại,hướng dẫn sản xuất kinh doanh, cho vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ quốc giagiải quyết việc làm, tạo điều kiện để người lao động tìm việc làm hoặc tự tạo
Trang 13việc làm; hỗ trợ về tài chính cho những địa phương và ngành có nhiều ngườithiếu việc làm hoặc mất việc làm do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ.
1.4.2 Nhân tố điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ
Nhân tố điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ là các tiền đề vật chất đểtiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất nào Điều kiện tư nhiên do thiênnhiên ưu đãi, vốn do tích lũy mà có hoặc được tạo ra từ các nguồn khác vàcông nghệ thì do tự sáng chế hoặc áp dụng theo những công nghệ đã có sẵn.Nhân tố này cùng với sức lao động tạo nên năng lực sản xuất của một quốcgia
1.4.3 Nhân tố bản thân người lao động
Nhân tố bản thân người lao động bao gồm: thể lực, trí lực, kinh nghiệmquản lý, sản xuất của người lao động Người lao động có được những thứ nàylại phù thuộc vào điều kiện sống, quá trình đào tạo và tích lũy kinh nghiệmcủa bản thân, sự kế thừa những tài sản đó từ các thế hệ trước
1.4.4 Hệ thống thông tin thị trường
Hệ thống thông tin thị trường lao động: được thực hiện bởi chính phủvà các tổ chức kinh tế, các cá nhân có nhu cầu tuyển dụng lao động thông quacác phương tiện thông tin đại chúng chư báo chí, truyền hình, đài phát thanh,
… Các thông tin bao gồm: học nghề ở đâu? Nghề gì? Khi nào? Tìm việc ởđâu? Đang cần tuyển cho vị trí nào? Yêu cầu ra sao?
Trang 14Phần II Một vài nét về thực trạng việc làm và thu nhập của lao động
nông thôn Việt Nam
2.1 Thực trạng việc làm và cơ cấu lao động nông thôn
Trong những năm đổi mới vừa qua, Việt nam đã đạt dược những thànhtựu kinh tế to lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp
Tuy vậy, nông thôn Việt Nam hiện đang chiếm hơn 70% lao động xãhội và thách thức lớn nhất trong khu vực này là tình trạng thất nghiệp, thiếuviệc làm của người lao động đang rất lớn và có thể gia tăng
Tỷ lệ thiếu việc làm chung cả nước là một con số khá cao, năm 2008 là5,10%, năm 2009 là 5,61%, năm 2010 là 3,57% Tỷ lệ thất nghiệp cũng đangở con số đáng chú ý, năm 2008 2,88%, năm 2009 là 2,90%, năm 2010 là2,38%
Hai vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có diện tích đấtnông nghiệp lớn nhất nước ta và cũng có tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thấtnghiệp lớn nhất trên cả nước
Năm 2008, khu vực nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệthất nghiệp là 2, 35%, tỷ lệ thiếu việc làm là 7,11% trong khi đó trung bìnhtrung cả nước các tỷ lệ này lần lượt là 1,53% và 6,10% Khu vực nông thôn ởđồng bằng sông Hồng có tỷ lệ thất nghiệp là 1,29%, tỷ lệ thiếu việc làm là8,23%
Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năm 2008, tỷ lệ thấtnghiệp và thiếu việc làm tăng cao, đặc biệt khu vực nông thôn ở đồng bằngsông Cửu Long tỷ lệ thiếu việc làm lên đến con số 10,49%
Năm 2010, khi nền kinh tế đã phục hồi dần, tỷ lệ thất nghiệp và thiếuviệc làm chung cả nước đã được cải thiện nhưng không đáng kể Nhìn chung
tỷ lệ này giảm là do tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở hai vùng đồng bằngsông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long giảm nhanh, còn các vùng còn lại lạităng nhẹ
Trang 15Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động chung và ở nông thôn trong độ tuổi lao động phân theo vùng năm 2010.
Đơn vị: %
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Bắc Trung Bộ &
duyên hải miền
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Bắc Trung Bộ &
duyên hải miền
Trang 16(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Bảng 3: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động chung và ở nông thôn trong độ tuổi lao động phân theo vùng năm 2008.
Đơn vị: %
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Bắc Trung Bộ &
duyên hải miền
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Như vậy, nhìn chung tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm năm 2009tăng cao so với năm 2008 (tăng 21,85%), đến năm 2010 con số này có xuhướng giảm nhưng không đáng kể (giảm 0,69%), hơn thế việc làm bấp bênh,không mang tính ổn định Dấu hiệu bất ổn đó càng ngày càng thể hiện rõ vàonăm 2011
Trang 17Hiện nay, khoảng 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm doanh số, phảicắt giảm lao động, khiến thị trường lao động năm 2011 được nhận định đangcó dấu hiệu bất ổn.
Thứ nhất, các doanh nghiệp hoạt động cầm chừng:
Thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy, hiện có hơn20% trong tổng số hơn 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cả nước bị phásản; 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động giảm doanh số, phải cắtgiảm lao động; số còn lại hoạt động rất khó khăn
Khó khăn được nhìn thấy rất rõ ở ngành dệt may, khi áp lực tăng lươngtối thiểu từ ngày 1/10 sẽ khiến quỹ lương tăng thêm 30-40%, giá điện tăng15%, chi phí vận tải tăng 20%, nước xử lý tăng 30%, khiến tổng chi phí đầuvào tăng hơn 20%
Trong khi đó, đơn hàng xuất khẩu vụ xuân - hè (từ tháng 11/2011 đến4/2012) đang giảm sút nghiêm trọng (từ 50 đến 60%); giá đơn hàng cũnggiảm đáng kể (từ 5 đến 10% đối với hàng gia công).
Các doanh nghiệp xây dựng cũng trong tình cảnh khó trăm bề, bởi giánguyên liệu tăng quá cao (nguyên liệu chiếm đến 60% tổng chi phí), dẫn đến
đa số các công trình như cao ốc, chung cư phải hoãn hoặc dừng thi công.Thậm chí, nhiều nhà đầu tư đã hủy hợp đồng, khiến hàng nghìn lao động mấtviệc làm
Đối với ngành gỗ, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này đã giảm quy
mô hoạt động khoảng 30% so với cùng kỳ năm ngoái Trong khi đó, chi phítài chính như: lãi vay ngân hàng, chi phí nguyên liệu tăng khoảng 25%
Cộng với việc tăng lương cho công nhân, tổng chi phí đã tăng khoảng30%, nhưng đơn giá xuất khẩu chỉ tăng 5%, khiến nhiều doanh nghiệp phảingừng hoạt động để tránh lỗ
Thứ hai, nhu cầu tuyển dụng không tăng:
Trang 18Hàng loạt khó khăn khiến doanh nghiệp các ngành thâm dụng lao độngnhư dệt may, gỗ, xây dựng… chỉ hoạt động cầm chừng đã phản ánh rõ sự bấtổn về việc làm.
Phần lớn doanh nghiệp đều tăng nhu cầu tuyển dụng để phục vụ mùatăng ca, hoàn thành đơn hàng, chỉ tiêu những tháng cuối năm
Tuy nhiên, sự ổn định việc làm và thu nhập trong một số khu vực chỉmang tính chất tạm thời, bởi doanh nghiệp đang phải đối mặt với rất nhiều rủi
ro, như chi phí sản xuất tăng quá cao, sức ép “vốn chết” trong hàng tồn khovà khó khăn về đơn hàng
Nhiều doanh nghiệp đăng nhu cầu tuyển dụng, nhưng chủ yếu để bùlượng lao động luân chuyển giữa các doanh nghiệp, các khu vực, còn nhu cầuthực tế không tăng
Bên cạnh đó, chúng ta cũng có một kết quả không lạc quan đối với laođộng tại các làng nghề truyền thống Cụ thể, tính đến tháng 8/2011, lượngviệc làm và thu nhập của lao động khu vực này đã giảm 60 - 70% so với năm
2010 Doanh thu của các doanh nghiệp làng nghề xuất khẩu hàng thủ công mỹnghệ phía Nam đã giảm 50% Nhiều xưởng nghề của doanh nghiệp phía Bắcđã tạm dừng sản xuất để tránh tồn kho quá cao
Do tác động của hai yêu tố là chính sách tiền tệ và chi phí tăng, doanhnghiệp phải chịu tác động kép là đầu ra giảm và chi phí đầu vào tăng, khiếnlợi nhuận giảm, dẫn tới việc sẽ phải giảm cầu lao động trong thời gian tới.Cùng với đó, người lao động có thể sẽ phải chịu cú sốc kép là giá cả sinh hoạttăng, trong khi thời gian làm việc lại giảm, thậm chí mất việc làm, giảm thunhập thực tế
Cơ cấu lao động nông thôn theo vùng:
Tại thời điểm 01/07/2009, lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở lên củacả nước là 47743.6 nghìn người Trong đó khu vực nông thôn có 35119.6nghìn lao động chiếm 58% lực lượng lao động toàn quốc
Trang 19So với năm 2008, lực lượng lao động ở khu vực nông thôn tăng 1,2%với quy mô tăng thêm là 665900 người Lực lượng lao động nông thôn hiệnnay chiếm tỷ trọng lớn (73.56%) trong lực lượng lao động cả nước.
Do đó, để thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn thì việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng theo ngànhnghề tạo ra nhiều việc làm để thu hút lao động ở nông thôn đang là vấn đề lớncần được giải quyết
Bảng 4: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo thành thị, nông thôn.
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Ngoài ra, theo điều tra ta có phân bố lực lượng lao động nông thôn theo
8 vùng lãnh thổ như sau:
- Vùng Đồng bằng Sông Hồng: lao động nông thôn là 8053.9 nghìnngười, chiếm 22.93% lực lượng lao động nông thôn cả nước
- Vùng Trung Du miền núi phía Bắc: lao động nông thôn là 5401.1nghìn người chiếm 15.38% lực lượng lao động nông thôn cả nước
- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ: lao động nôngthôn là 8310.3 nghìn người chiếm 23.66% lực lượng lao động nông thôn củacả nước
Trang 20- Vùng Tây Nguyên: lao động nông thôn là 2146.3 nghìn người, chiếm6.11% lực lượng lao động nông thôn của cả nước.
- Vùng Đông Nam Bộ: lao động nông thôn là 3504.7 nghìn người,chiếm 9.98% lực lượng lao động nông thôn của cả nước
- Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: lao động nông thôn là 7702.8nghìn người, chiếm 21.93% lực lượng lao động nông thôn của cả nước
Sự phân bố lực lượng lao động ở khu vực nông thôn giữa các vùngtrong cả nước là không hợp lý so với tiềm năng của các vùng
Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long là hai vùngcó tổng số lao động cao nhất cả nước, nguồn lao động dồi dào và đó cũng làhai vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất trong cả nước, và tỷ lệ thất nghiệp,thiếu việc làm cũng cao nhất Vì vậy cần chuyển dịch cơ cấu sản xuất nôngnghiệp ở 2 vùng này và chuyển dich cơ cấu ngành ở 2 vùng này theo hướnghợp lý để tận dụng hiệu quả nguồn lực lao động
Mặt khác, Tây nguyên là vùng có tỷ trọng lao động thấp nhất so với cácvùng trên nhưng lại có ưu thế về quy mô đất đai và các điều kiện tự nhiênkhác nhưng lại thiếu lao động đặc biệt là lao động có trình độ chuyên môn kỹthuật cao
Do đó để tránh tình trạng lãng phí trong việc sử dụng lao động thì cầnphải có sự bố trí sắp xếp lại lao động giữa các vùng trong cả nước
Về cơ cấu lao động nông thôn theo ngành:
Cơ cấu lao động theo ngành ở nước ta chuyển dịch còn chậm, lao độngvẫn chủ yếu tập trung trong nông nghiệp Lao động hoạt động trong lĩnh vựcphi nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ thấp
Năm 2009, lao động nông nghiệp cả nước chiếm 51.92% tổng lao độngnhưng giá trị GDP được tạo ra từ ngành này lại thấp nhất, chiếm dưới 20%.Ngược lại, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và ngành dịch vụ là48.08% nhưng tạo được giá trị GDP trên 80%
Các con số trên đây cho thấy năng suất lao động trong ngành nôngnghiệp là rất thấp và có thể thấy hầu như lao động nông nghiệp đều tập trungở khu vực nông thôn