Bài viết Đặc điểm giải phẫu bệnh tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN, HAMN, MACA) trình bày đánh giá đặc điểm giải phẫu bệnh của các tổn thương chế nhầy ruột thừa theo phân loại mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH TÂN SINH CHẾ NHẦY RUỘT THỪA
(LAMN, HAMN, MACA)
Lê Minh Huy 1 , Dương Huỳnh Trà My 2
TÓM TẮT 34
Đặt vấn đề: Quá trình diễn tiến và tiên lượng
của các tổn thương chế nhầy ruột thừa được
quyết định bởi phân nhóm mô học của chúng
Các tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN,
HAMN, carcinôm tuyến chế nhầy) có thể gây
thủng, dẫn đến sự tiến triển lan rộng vào khoang
phúc mạc, lắng đọng cả dịch nhầy và tế bào tân
sinh, gây ra một hội chứng lâm sàng được gọi là
giả nhầy phúc mạc (PMP); chiếm tỷ lệ hơn 90%
nguồn gốc PMP Do đó, việc phân loại các tổn
thương chế nhầy ruột thừa dựa vào đặc điểm hình
thái mô bệnh học và phân giai đoạn của các tổn
thương này được thảo luận trước, từ đó có các
hướng điều trị, theo dõi và tiên lượng bệnh khác
nhau Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về các tổn
thương chế nhầy ruột thừa về mặt Giải phẫu
bệnh, nhất là theo phân loại mới của Tổ chức Y
Tế Thế giới năm 2019 còn khá mới mẻ, không
chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực
tiễn, trong việc chẩn đoán, giúp ích cho việc điều
trị, tiên lượng và theo dõi bệnh nhân
Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm giải phẫu bệnh
của các tổn thương chế nhầy ruột thừa theo phân
loại mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019
1 Bộ môn Mô phôi - Giải phẫu bệnh Đại học Y
dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Khoa Giải phẫu bệnh BV Lê văn Thịnh
Chịu trách nhiệm chính: Lê Minh Huy
Email: leminhhuy@ump.edu.vn
Ngày nhận bài: 24.09.2022
Ngày phản biện khoa học: 03.10.2022
Ngày duyệt bài: 24.10.2022
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô
tả cắt ngang Thu thập các tiêu bản và đánh giá lại đặc điểm mô bệnh học, đưa ra chẩn đoán theo phân loại mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm
2019
Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 109
trường hợp tổn thương chế nhầy ruột thừa Tổn thương chế nhầy tân sinh chiếm tỉ lệ 85,3% (93/109) Trong các tổn thương chế nhầy do tân sinh: LAMN chiếm 69,9% (65/93); HAMN chiếm 10,8% (10/93); carcinôm tuyến chế nhầy ruột thừa chiếm 5,4% (5/93) Các đặc điểm về chất nhiễm sắc, tỉ lệ nhân/ bào tương, và tần suất hiện diện của hạt nhân khác biệt đáng kể giữa hai nhóm AMN và tổn thương răng cưa Các đặc điểm hình thái tế bào khác như sự sắp xếp tế bào
u, hình dạng tế bào u, phân bào và hoại tử tế bào
có khuynh hướng giống nhau giữa hai nhóm tổn thương Tổn thương nhóm AMN (LAMN, HAMN, MACA) có thể lan rộng tổn thương đến các lớp khác nhau của thành ruột, và cả bên ngoài ruột thừa, như phúc mạc và các cơ quan lân cận Ngược lại, các tổn thương tân sinh khác (tổn thương răng cưa) thường đặc trưng duy trì cấu trúc niêm mạc, không gây mất lớp cơ niêm
và mô đệm niêm mạc
Kết luận: Chẩn đoán các tổn thương chế
nhầy ruột thừa dựa trên các đặc điểm tế bào, cấu trúc sắp xếp và các đặc điểm tổn thương khác như mức độ lan rộng, đặc điểm chất nhầy…giúp giải quyết nhiều nhầm lẫn xung quanh chẩn đoán cho các tổn thương chế nhầy ruột thừa
Từ khóa: tân sinh chế nhầy ruột thừa,
LAMN, HAMN, PMP
Trang 2SUMMARY
APPENDICEAL MUCINOUS
NEOPLASM (LAMN, HAMN, MACA):
HISTOPATHOLOGICAL FEATURES
Background: The biological behavior of
appendiceal mucinous lesions is determined by
their histological subtype Appendiceal mucinous
neoplasms (LAMN, HAMN, mucinous
adenocarcinoma) can cause perforation, leading
to extensive progression into the peritoneal
cavity, deposition of both mucus and neoplastic
cells, causing a syndrome clinically known as
pseudomucinous peritoneal (PMP); accounts for
more than 90% of PMP origin Therefore, the
classification of appendiceal mucinous lesions
based on the morphological and
histopathological characteristics and the staging
of these lesions is discussed in advance, from
which there are directions for treatment,
monitoring and prognosis of the disease
difference In Vietnam, the study of appendiceal
mucinous lesions in terms of pathology,
especially according to the new classification of
the World Health Organization in 2019 is still
quite new, not only has scientific significance but
also has practical significance, in diagnosis, helps
in the treatment, prognosis and monitoring of
patients
Objectives: To evaluate the pathological
characteristics of appendiceal mucinous lesions
according to the new classification of the World
Health Organization in 2019
Methods: Retrospective Collect specimens
and re-evaluate histopathological characteristics,
make a diagnosis according to the new
classification of the World Health Organization
in 2019
Results: The study was conducted on 109
cases of mucosal lesions of the appendix
Neoplastic mucosal lesions accounted for 85.3%
(93/109) In neoplastic mucosal lesions: LAMN
accounted for 69.9% (65/93); HAMN accounted for 10.8% (10/93); appendiceal mucinous adenocarcinoma accounted for 5.4% (5/93) The chromatin characteristics, nucleus/cytoplasmic ratio, and frequency of nuclear presence were significantly different between the two groups of AMN and serrated lesions Other cytomorphological features such as tumor cell arrangement, tumor cell shape, mitosis and cell necrosis tended to be similar between the two groups of lesions Lesions of the AMN group (LAMN, HAMN, MACA) can extend to different layers of the intestinal wall and outside the appendix, such as the peritoneum and adjacent organs In contrast, other neoplastic lesions (serrated lesions) are typically characterized by maintenance of mucosal structure, without loss of mucosal muscle and stroma
Conclusion: Diagnosis of appendiceal mucinous lesions based on cellular characteristics, arrangement structure and other lesion characteristics such as extent of spread, mucus characteristics, etc., helps to resolve many confusions around the diagnosis for mucinous lesions of the appendix
Keywords: appendiceal mucinous injury,
LAMN, HAMN, PMP
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Các tổn thương chế nhầy ruột thừa thuộc nhóm bệnh hiếm gặp, hiện diện trong khoảng 0,2-0,7% tất cả mẫu bệnh phẩm phẫu thuật cắt ruột thừa và chiếm tỷ lệ 8% các u ở ruột thừa Các tổn thương chế nhầy ruột thừa được phân loại theo mô học là tổn thương biểu mô không tân sinh (bọc nhầy) hoặc tân sinh, và nhóm tân sinh được phân chia sâu hơn theo mô học [5], [6] Vào năm 2012, tại Hội nghị Thế giới, Hội Ung thư bề mặt phúc mạc Quốc tế (PSOGI) đã bàn luận về vấn đề
Trang 3này, và kết quả đưa ra một phân loại đồng
thuận (vào năm 2016) giúp giải quyết nhiều
nhầm lẫn xung quanh thuật ngữ chẩn đoán
cho các tổn thương chế nhầy ruột thừa tân
sinh [1], [6] Vào năm 2019, trong phiên bản
thứ năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã
cập nhật một số thay đổi trong chẩn đoán và
phân loại các tổn thương chế nhầy ruột thừa
so với phiên bản năm 2010 [2], [3] Các hệ
thống phân loại mô bệnh học hiện tại đối với
các tổn thương tân sinh bao gồm cả các biến
thể mô học của biểu mô tổn thương và hình
thái tổn thương trong thành ruột [3], [5]
Quá trình diễn tiến và tiên lượng của các
tổn thương chế nhầy ruột thừa được quyết
định bởi phân nhóm mô học của chúng [5]
Các tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN,
HAMN, carcinôm tuyến chế nhầy) có thể
gây thủng, dẫn đến sự tiến triển lan rộng vào
khoang phúc mạc, lắng đọng cả dịch nhầy và
tế bào tân sinh, gây ra một hội chứng lâm
sàng được gọi là giả nhầy phúc mạc (PMP);
chiếm tỷ lệ hơn 90% nguồn gốc PMP [6] Do
đó, việc phân loại các tổn thương chế nhầy
ruột thừa dựa vào đặc điểm hình thái mô
bệnh học và phân giai đoạn của các tổn
thương này được thảo luận trước, từ đó có
các hướng điều trị, theo dõi và tiên lượng
bệnh khác nhau Trên thế giới, trong vài năm
gần đây đã có các công trình nghiên cứu về
đặc điểm Giải phẫu bệnh của các tổn thương
này, nhưng phần lớn nghiên cứu là báo cáo
ca hay báo cáo vài ca, ít nghiên cứu có cỡ
mẫu lớn [1], [7] Tại Việt Nam, việc nghiên
cứu về các tổn thương chế nhầy ruột thừa về
mặt Giải phẫu bệnh, nhất là theo phân loại
mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019
còn khá mới mẻ, không chỉ có ý nghĩa khoa
học mà còn có ý nghĩa thực tiễn, trong việc
chẩn đoán, giúp ích cho việc điều trị, tiên
lượng và theo dõi bệnh nhân Nghiên cứu các
tổn thương chế nhầy ruột thừa với mục tiêu sau: Đánh giá đặc điểm giải phẫu bệnh của các tổn thương tân sinh (LAMN, HAMN, MACA) chế nhầy ruột thừa
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng
nghiên cứu bao gồm 109 trường hợp có kết quả Giải phẫu bệnh nằm trong nhóm tổn thương chế nhầy ruột thừa tại Bộ môn Mô phôi – Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/01/2017 đến 31/03/2021
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả
cắt ngang
- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện
- Tiêu chuẩn chọn mẫu: các trường hợp
có kết quả Giải phẫu bệnh nằm trong nhóm tổn thương chế nhầy ruột thừa, không trải qua hóa trị trước mổ, không có ung thư khác
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp không còn tiêu bản tế bào học
2.3 Phương pháp tiến hành
Đánh giá lại các đặc điểm mô bệnh học trên tiêu bản mô học theo phân loại mới của
Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019
Y Đức: được hội đồng y đức thông qua,
Số 686/HĐĐĐ-ĐHYD ngày 12 tháng 10 năm 2019
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tỉ lệ của các loại tổn thương
Nghiên cứu này cho thấy tổn thương chế nhầy do tân sinh chiếm tỉ lệ 85,3% (93/109) Trong đó, LAMN chiếm 69,9% (65/93); HAMN chiếm 10,8% (10/93); carcinôm tuyến chế nhầy ruột thừa chiếm 5,4% (5/93); còn lại là các tổn thuơng tân sinh khác như polyp tăng sản, tổn thương răng cưa (13/93)
Trang 4Biểu đồ 1: Biểu đồ phân bố tỉ lệ của các tổn thương chế nhầy ruột thừa
Tân sinh chế nhầy ruột thừa độ thấp
(LAMN): Trong nghiên cứu, tất cả các
trường hợp đều có biểu mô lót và có thể quan
sát tốt để đánh giá các đặc điểm quan trọng
cho chẩn đoán Gần như toàn bộ LAMN có
biểu mô chế nhầy đặc trưng, chiếm 98,5%
(64/65), và tỉ lệ của các dạng lần lượt là:
lượn sóng 87,7% (57/65), phân nhánh 29,2%
(19/65), phẳng 41,5% (27/65); chỉ có 1
trường hợp biểu mô có dạng răng cưa Đa số
các ca đều có hiện tượng xóa các lớp thành
ruột thừa 95,4% (62/65) Khoảng gần một
nửa trường hợp quan sát thấy sự xâm nhập
kiểu bờ đẩy 46,2% (30/65), còn lại không
thấy Các đặc điểm khác phần lớn trường
hợp có hiện tượng xơ hóa thành ruột 90,8%
(59/65), ít hơn là vôi hóa 36,9% (24/65) và
hyalin hóa 35,4% (23/65)
Về đặc điểm tế bào, đa số có cách sắp
xếp giả tầng 76,9% (50/65), ít gặp hơn là
kiểu một hàng, phân cực 23,1% (15/65) Tế
bào có nhân hình trụ chiếm tỉ lệ cao nhất
87,7% (57/65), kế tiếp là nhân tròn nhỏ
10,8% (7/65), chỉ có 1 trường hợp nhân lớn;
chất nhiễm sắc thường có dạng hạt mịn
73,8% (48/65); tỉ lệ N/C tăng trên 54 trường
hợp (83,1%); phần lớn hạt nhân không rõ 75,4% (49/65), còn lại có hạt nhân nhỏ Quan sát thấy phân bào điển hình trong 51 trường hợp (78,5%), còn lại không thấy, và không
có trường hợp nào có phân bào không điển hình Hiện tượng hoại tử tế bào tìm thấy trong 18 trường hợp (27,7%)
Trong hầu hết các ca, tổn thương giới hạn
ở ruột thừa và lan rộng đến các lớp của thành ruột, nhiều nhất là lớp cơ 33,8% (22/65), tiếp đến là mô liên kết dưới thanh mạc và/ hoặc thanh mạc 23,1% (15/65), có 3 trường hợp tổn thương lan sang manh tràng (4,6%), và
có 1 trường hợp tổn thương lan đến phúc mạc gây giả nhầy phúc mạc (PMP) với chất nhầy có tế bào biệt hóa rõ
Tân sinh chế nhầy ruột thừa độ cao (HAMN): Trong 10 trường hợp quan sát
được, lớp biểu mô lót có dạng biểu mô chế nhầy độ cao có 6 trường hợp (60%) (5 trường hợp dạng sàng, 1 trường hợp dạng vi nhú), còn lại 4 trường hợp có biểu mô chế nhầy độ thấp (40%) (cả 4 đều có dạng lượn sóng, 2 trường hợp dạng phẳng, 1 trường hợp dạng phân nhánh) Tất cả đều có hiện tượng xóa các lớp thành ruột thừa Phần lớn ghi nhận sự
Trang 5xâm nhập kiểu bờ đẩy (9/10), 1 trường hợp
không quan sát thấy sự xâm nhập Các ca
đều có hiện tượng xơ hóa (10/10), một nửa
có hyalin hóa (5/10), có 3 trường hợp kèm
theo vôi hóa (3/10) Đa số các ca (8/10) tổn
thương giới hạn ở ruột thừa và lan đến các
lớp sâu của thành ruột thừa như lớp mô liên
kết dưới thanh mạc và/ hoặc thanh mạc
(6/10), lớp cơ (2/10); có 1 trường hợp tổn
thương lan qua manh tràng; 1 trường hợp
HAMN gây giả nhầy phúc mạc với chất nhầy
không có tế bào u Có 6 trường hợp gây thoát
chất nhầy (chất nhầy thoát ra cả trong và
ngoài ruột thừa, bao gồm 1 trường hợp lan
đến manh tràng, nhưng không gây PMP), và
đều là chất nhầy không có tế bào u; 4 trường
hợp còn lại không có thoát chất nhầy
Nghiên cứu này cũng ghi nhận các đặc
điểm về tế bào của HAMN: sắp xếp chồng
chất (10/10); nhân tế bào hình trụ (5/10) hoặc
nhân lớn, đa dạng (5/10); nhân bọng chiếm
đa số (8/10), còn lại chất nhiễm sắc hạt mịn
(2/10); các ca đều tăng tỉ lệ nhân/ bào tương;
hạt nhân thường nhỏ (6/10) hay ít hơn là hạt
nhân lớn (2/10), hoặc không rõ (2/10) Phần
lớn có phân bào điển hình (9/10), có 1 trường
hợp hiện diện phân bào không điển hình Có
7 trường hợp quan sát thấy hiện tượng hoại
tử tế bào
Trong 10 trường hợp của mẫu nghiên
cứu, phần lớn (8/10) các ca tổn thương giới
hạn ở ruột thừa và lan đến các lớp sâu của
thành ruột thừa như lớp mô liên kết dưới
thanh mạc và/ hoặc thanh mạc (6/10), lớp cơ
(2/10); có 1 trường hợp tổn thương lan qua
manh tràng; 1 trường hợp HAMN gây giả
nhầy phúc mạc với chất nhầy không có tế
bào u Có 6 trường hợp gây thoát chất nhầy
(chất nhầy thoát ra cả trong và ngoài ruột
thừa, bao gồm 1 trường hợp lan đến manh
tràng, nhưng không gây PMP), và đều là chất
nhầy không có tế bào u; 4 trường hợp còn lại không có thoát chất nhầy
Trong nghiên cứu còn ghi nhận có 2 trường hợp tổn thương còn hiện diện ở rìa diện cắt (2/10), còn lại là không có (3/10) hoặc không xác định được (5/10) Có 2 trường hợp được khảo sát hạch vùng ghi nhận không di căn Một nửa số ca có kèm theo viêm cấp hoặc bán cấp (5/10), và nửa còn lại kèm theo viêm mạn tính (5/10)
Carcinôm tuyến chế nhầy ruột thừa (MACA): Trong 5 trường hợp carcinôm
tuyến chế nhầy ruột thừa được quan sát, đa
số (3/5) có biểu mô chế nhầy độ cao (dạng sàng hiện diện trong 2 trường hợp, dạng vi nhú hiện diện trong 3 trường hợp), 2 trường hợp còn lại lớp biểu mô có hiện diện thành phần tế bào nhẫn, các đám tế bào kém biệt hóa Tất cả các ca đều gây xóa các lớp thành ruột và biểu hiện sự xâm nhập kiểu thâm nhiễm; thường có xơ hóa (4/5), hylin hóa (3/5), vôi hóa (2/5) Cả 5 trường hợp quan sát tổn thương đều còn giới hạn ở ruột thừa, nhưng lan đến các lớp sâu của thành ruột: mô liên kết dưới thanh mạc và/ hoặc thanh mạc (3/5), lớp cơ (2/5) Tất cả đều thâm nhiễm và gây thoát chất nhầy có tế bào u (chất nhầy thoát ra cả trong và ngoài ruột thừa, nhưng không gây PMP), 4 trường hợp chất nhầy giàu tế bào u, 1 trường hợp chất nhầy nghèo
tế bào u Về độ mô học của tế bào trong chất nhầy, 3 trường hợp là carcinôm xâm nhập, 2 trường hợp có thành phần tế bào nhẫn
Về các tổn thương kèm theo ở ruột thừa,
đa số các tổn thương kèm theo là viêm ruột thừa mạn (42/75 trường hợp), trong khi các tổn thương ở nhóm tổn thương tân sinh khác chủ yếu là tình trạng viêm ruột thừa cấp/bán cấp (8/13 trường hợp) Tuy nhiên cũng có nhiều ca (20/75 trường hợp) các u nhóm AMN (LAMN, HAMN, MACA) kèm theo viêm ruột thừa cấp/bán cấp Sự phân bố các
Trang 6tổn thương kèm theo ở hai nhóm u khác biệt
có ý nghĩa thống kê (kiểm định χ2, p =
0,007)
Nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên
quan giữa có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm
LAMN, HAMN, MACA với đặc điểm về
chất nhầy (kiểm định χ2, p < 0,001) và với
độ mô học của tế bào u trong chất nhầy
(kiểm định χ2, p = 0,007) ở ruột thừa (chất
nhầy không nằm trong lòng ruột thừa), đặc
điểm chất nhầy ở phúc mạc (PMP) (kiểm
định χ2, p < 0,001), tổn thương kèm theo ở
ruột thừa (kiểm định χ2, p = 0,017) Hầu hết
LAMN và HAMN không có nhầy thoát ra
hoặc không có tế bào trong chất nhầy ở ruột
thừa (60/65 trường hợp và 10/10 trường
hợp), ngược lại tất cả các MACA đều có tế
bào vùng này, đa số chứa nhiều tế bào u (4/5
trường hợp) Tuy nhiên cũng có vài trường
hợp LAMN có tế bào trong chất nhầy ruột
thừa (5/65 trường hợp) nhưng các tế bào này
đều cho nghịch sản độ thấp Trong các
trường hợp MACA, 3 trường hợp có tế bào
carcinôm xâm nhập ở vùng chất nhầy và 2
trường hợp có tế bào nhẫn trong chất nhầy
IV BÀN LUẬN
Các kết quả này có một số nét tương
đồng với các nghiên cứu của thế giới:
LAMN là tổn thương chế nhầy thường gặp
nhất
LAMN có thể có nhiều dạng Hình thái
kinh điển là sự thay thế niêm mạc ruột thừa
bình thường bằng sự tăng sinh biểu mô chế
nhầy, phân nhánh mảnh Các khối u khác có
thể cho thấy dạng nhấp nhô như làn sóng hay
vỏ sò, với tế bào biểu mô hình trụ, nhân xếp
giả tầng, phát triển trên nền mô đệm sợi dưới
niêm mạc Một số trường hợp được đặc trưng
bởi một lớp biểu mô chế nhầy mỏng đi hay
phẳng dẹt Biểu mô tân sinh trong LAMN có
mô học độ thấp Tế bào biểu mô có nhân
nhỏ, đậm màu, hướng về đáy, tương đối đồng dạng Hạt nhân không rõ Bào tương tế bào thường chứa nhiều chất nhầy dẫn đến tỉ
lệ nhân/ bào tương thấp Hầu hết tế bào có đặc điểm gợi nhớ đến nghịch sản độ thấp quy ước ở đại-trực tràng, như nhân lớn nhẹ và tăng sắc; nhưng tế bào vẫn giữ được cực tính
và hoạt động phân bào ít hay không rõ ràng
Dù biểu mô có thể có cấu trúc phân nhánh, lượn sóng hay phẳng; thì tế bào nhìn chung thường sắp xếp một lớp [2], [5]
HAMN là tân sinh chế nhầy không có biểu hiện xâm lấn kiểu thâm nhiễm nhưng có nghịch sản độ cao được đặc trưng bởi những thay đổi như: tăng trưởng dạng sàng, tế bào mất phân cực với nhân xếp tầng hết chiều dày lớp biểu mô, nhân lớn, tăng sắc rõ rệt hoặc nhân bọng, có hạt nhân rõ và phân bào nhiều hay phân bào không điển hình Những thay đổi trong thành ruột thừa giống như trong LAMN, bao gồm xơ hóa dưới lớp biểu mô, một bờ viền đẩy rộng, xâm lấn kiểu bờ đẩy,
vỡ ruột thừa và gieo rắc phúc mạc [4], [5] Carcinôm tuyến ruột thừa là các tân sinh tuyến ác tính đặc trưng bởi sự xâm lấn kiểu thâm nhiễm Carcinôm tuyến chế nhầy là một loại trong số đó với các tuyến xâm lấn chứa tế bào không điển hình độ cao và chất nhầy ngoại bào chiếm > 50% thể tích khối u [5]
Về sự lan rộng của tổn thương, tổn thương nhóm AMN (LAMN, HAMN, MACA) có thể lan rộng tổn thương đến các lớp khác nhau của thành ruột, và cả bên ngoài ruột thừa, như phúc mạc và các cơ quan lân cận Ngược lại, các tổn thương tân sinh khác (tổn thương răng cưa) thường đặc trưng duy trì cấu trúc niêm mạc, không gây mất lớp cơ niêm và mô đệm niêm mạc Đây cũng là đặc điểm có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi Ngoài ra chúng tôi còn ghi nhận đặc điểm tổn thương kèm có sự khác biệt có ý
Trang 7nghĩa giữa hai nhóm, nhưng đặc điểm này
hiện trong các y văn chưa được đề cập một
cách cụ thể [5], [6]
V KẾT LUẬN
Chẩn đoán và phân loại các tổn thương
chế nhầy ruột thừa theo phân loại Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO), phiên bản thứ năm, vào
năm 2019 có một số thay đổi trong chẩn
đoán và phân loại các tổn thương chế nhầy
ruột thừa so với phiên bản năm 2010 Việc
chẩn đoán và phân loại chính xác, thống nhất
các tổn thương chế nhầy ruột thừa dựa vào
đặc điểm hình thái mô bệnh học giúp các bác
sĩ lâm sàng có các hướng điều trị, theo dõi và
tiên lượng cho từng bệnh nhân khác nhau
Chẩn đoán các tổn thương chế nhầy ruột
thừa dựa trên các đặc điểm tế bào, cấu trúc
sắp xếp và các đặc điểm tổn thương khác như
mức độ lan rộng, đặc điểm chất nhầy,… giúp
giải quyết nhiều nhầm lẫn xung quanh chẩn
đoán cho các tổn thương chế nhầy ruột thừa
LAMN là tổn thương chế nhầy thường
gặp nhất Tổn thương nhóm AMN (LAMN,
HAMN, MACA) có thể lan rộng tổn thương
đến các lớp khác nhau của thành ruột, và cả
bên ngoài ruột thừa, như phúc mạc và các cơ
quan lân cận Ngược lại, các tổn thương tân
sinh khác (tổn thương răng cưa) thường đặc
trưng duy trì cấu trúc niêm mạc, không gây
mất lớp cơ niêm và mô đệm niêm mạc
LỜI CẢM TẠ:
Bài báo được sự hỗ trợ kinh phí đề tài
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Đại học
Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Nhóm tác
giả trân trọng cảm ơn Đại học Y Dược Thành
phố Hồ Chí Minh đã cấp kinh phí thực hiện
đề tài theo Hợp đồng số
135/2022/HĐ-ĐHYD ngày 18/10/2022
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Carr N J., Bibeau F., Bradley R F., Dartigues P., Feakins R M., Geisinger K R., Gui X., Isaac S., Milione M., Misdraji J., Pai R K., Rodriguez-Justo M., Sobin L H., van Velthuysen M F.,Yantiss R K
(2017), "The histopathological classification, diagnosis and differential diagnosis of mucinous appendiceal neoplasms, appendiceal adenocarcinomas and pseudomyxoma peritonei", Histopathology,
71 (6), 847-858
2 Koç C., Akbulut S., Akatlı A N., Türkmen Şamdancı E., Tuncer A ,Yılmaz S (2020),
"Nomenclature of appendiceal mucinous lesions according to the 2019 WHO Classification of Tumors of the Digestive System", Turk J Gastroenterol, 31 (9), 649-657
3 Nagtegaal ID, Odze RD, Klimstra D, Paradis V, Rugge M, Schirmacher P, Washington KM, Carneiro F, Cree IA and the WHO Classification of Tumours Editorial Board WHO Classification of Tumours Editorial Board (2019), WHO
Classification of Tumours Digestive System Tumours, World Health Organization, Lyon (France): International Agency for Research
on Cancer,
4 Nutu O A., Marcacuzco Quinto A A., Manrique Municio A., Justo Alonso I., Calvo Pulido J., García-Conde M., Cambra Molero F ,Jiménez Romero L C
(2017), "Mucinous appendiceal neoplasms: Incidence, diagnosis and surgical treatment", Cir Esp, 95 (6), 321-327
5 Overman M J., Compton C C., Raghav
K ,Lambert L A (2020), "Appendiceal
mucinous lesions",
6 Svrcek Magali (2017), "Mucocele, Appendix", Springer International Publishing, Cham, 523-528
7 Yang J M., Zhang W H., Yang D D., Jiang H., Yu L ,Gao F (2019), "Giant
low-grade appendiceal mucinous neoplasm: A case report", World J Clin Cases, 7 (13), 1726-1731