1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm giải phẫu bệnh tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN, HAMN, MACA)

7 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm giải phẫu bệnh tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN, HAMN, MACA)
Tác giả Lê Minh Huy, Dương Huỳnh Trà My
Người hướng dẫn Khoa Giải Phẫu Bệnh BV Lê Văn Thịnh
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giải phẫu bệnh
Thể loại Báo cáo hội thảo khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 391,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đặc điểm giải phẫu bệnh tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN, HAMN, MACA) trình bày đánh giá đặc điểm giải phẫu bệnh của các tổn thương chế nhầy ruột thừa theo phân loại mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH TÂN SINH CHẾ NHẦY RUỘT THỪA

(LAMN, HAMN, MACA)

Lê Minh Huy 1 , Dương Huỳnh Trà My 2

TÓM TẮT 34

Đặt vấn đề: Quá trình diễn tiến và tiên lượng

của các tổn thương chế nhầy ruột thừa được

quyết định bởi phân nhóm mô học của chúng

Các tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN,

HAMN, carcinôm tuyến chế nhầy) có thể gây

thủng, dẫn đến sự tiến triển lan rộng vào khoang

phúc mạc, lắng đọng cả dịch nhầy và tế bào tân

sinh, gây ra một hội chứng lâm sàng được gọi là

giả nhầy phúc mạc (PMP); chiếm tỷ lệ hơn 90%

nguồn gốc PMP Do đó, việc phân loại các tổn

thương chế nhầy ruột thừa dựa vào đặc điểm hình

thái mô bệnh học và phân giai đoạn của các tổn

thương này được thảo luận trước, từ đó có các

hướng điều trị, theo dõi và tiên lượng bệnh khác

nhau Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về các tổn

thương chế nhầy ruột thừa về mặt Giải phẫu

bệnh, nhất là theo phân loại mới của Tổ chức Y

Tế Thế giới năm 2019 còn khá mới mẻ, không

chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực

tiễn, trong việc chẩn đoán, giúp ích cho việc điều

trị, tiên lượng và theo dõi bệnh nhân

Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm giải phẫu bệnh

của các tổn thương chế nhầy ruột thừa theo phân

loại mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019

1 Bộ môn Mô phôi - Giải phẫu bệnh Đại học Y

dược Thành phố Hồ Chí Minh

2 Khoa Giải phẫu bệnh BV Lê văn Thịnh

Chịu trách nhiệm chính: Lê Minh Huy

Email: leminhhuy@ump.edu.vn

Ngày nhận bài: 24.09.2022

Ngày phản biện khoa học: 03.10.2022

Ngày duyệt bài: 24.10.2022

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô

tả cắt ngang Thu thập các tiêu bản và đánh giá lại đặc điểm mô bệnh học, đưa ra chẩn đoán theo phân loại mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm

2019

Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 109

trường hợp tổn thương chế nhầy ruột thừa Tổn thương chế nhầy tân sinh chiếm tỉ lệ 85,3% (93/109) Trong các tổn thương chế nhầy do tân sinh: LAMN chiếm 69,9% (65/93); HAMN chiếm 10,8% (10/93); carcinôm tuyến chế nhầy ruột thừa chiếm 5,4% (5/93) Các đặc điểm về chất nhiễm sắc, tỉ lệ nhân/ bào tương, và tần suất hiện diện của hạt nhân khác biệt đáng kể giữa hai nhóm AMN và tổn thương răng cưa Các đặc điểm hình thái tế bào khác như sự sắp xếp tế bào

u, hình dạng tế bào u, phân bào và hoại tử tế bào

có khuynh hướng giống nhau giữa hai nhóm tổn thương Tổn thương nhóm AMN (LAMN, HAMN, MACA) có thể lan rộng tổn thương đến các lớp khác nhau của thành ruột, và cả bên ngoài ruột thừa, như phúc mạc và các cơ quan lân cận Ngược lại, các tổn thương tân sinh khác (tổn thương răng cưa) thường đặc trưng duy trì cấu trúc niêm mạc, không gây mất lớp cơ niêm

và mô đệm niêm mạc

Kết luận: Chẩn đoán các tổn thương chế

nhầy ruột thừa dựa trên các đặc điểm tế bào, cấu trúc sắp xếp và các đặc điểm tổn thương khác như mức độ lan rộng, đặc điểm chất nhầy…giúp giải quyết nhiều nhầm lẫn xung quanh chẩn đoán cho các tổn thương chế nhầy ruột thừa

Từ khóa: tân sinh chế nhầy ruột thừa,

LAMN, HAMN, PMP

Trang 2

SUMMARY

APPENDICEAL MUCINOUS

NEOPLASM (LAMN, HAMN, MACA):

HISTOPATHOLOGICAL FEATURES

Background: The biological behavior of

appendiceal mucinous lesions is determined by

their histological subtype Appendiceal mucinous

neoplasms (LAMN, HAMN, mucinous

adenocarcinoma) can cause perforation, leading

to extensive progression into the peritoneal

cavity, deposition of both mucus and neoplastic

cells, causing a syndrome clinically known as

pseudomucinous peritoneal (PMP); accounts for

more than 90% of PMP origin Therefore, the

classification of appendiceal mucinous lesions

based on the morphological and

histopathological characteristics and the staging

of these lesions is discussed in advance, from

which there are directions for treatment,

monitoring and prognosis of the disease

difference In Vietnam, the study of appendiceal

mucinous lesions in terms of pathology,

especially according to the new classification of

the World Health Organization in 2019 is still

quite new, not only has scientific significance but

also has practical significance, in diagnosis, helps

in the treatment, prognosis and monitoring of

patients

Objectives: To evaluate the pathological

characteristics of appendiceal mucinous lesions

according to the new classification of the World

Health Organization in 2019

Methods: Retrospective Collect specimens

and re-evaluate histopathological characteristics,

make a diagnosis according to the new

classification of the World Health Organization

in 2019

Results: The study was conducted on 109

cases of mucosal lesions of the appendix

Neoplastic mucosal lesions accounted for 85.3%

(93/109) In neoplastic mucosal lesions: LAMN

accounted for 69.9% (65/93); HAMN accounted for 10.8% (10/93); appendiceal mucinous adenocarcinoma accounted for 5.4% (5/93) The chromatin characteristics, nucleus/cytoplasmic ratio, and frequency of nuclear presence were significantly different between the two groups of AMN and serrated lesions Other cytomorphological features such as tumor cell arrangement, tumor cell shape, mitosis and cell necrosis tended to be similar between the two groups of lesions Lesions of the AMN group (LAMN, HAMN, MACA) can extend to different layers of the intestinal wall and outside the appendix, such as the peritoneum and adjacent organs In contrast, other neoplastic lesions (serrated lesions) are typically characterized by maintenance of mucosal structure, without loss of mucosal muscle and stroma

Conclusion: Diagnosis of appendiceal mucinous lesions based on cellular characteristics, arrangement structure and other lesion characteristics such as extent of spread, mucus characteristics, etc., helps to resolve many confusions around the diagnosis for mucinous lesions of the appendix

Keywords: appendiceal mucinous injury,

LAMN, HAMN, PMP

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Các tổn thương chế nhầy ruột thừa thuộc nhóm bệnh hiếm gặp, hiện diện trong khoảng 0,2-0,7% tất cả mẫu bệnh phẩm phẫu thuật cắt ruột thừa và chiếm tỷ lệ 8% các u ở ruột thừa Các tổn thương chế nhầy ruột thừa được phân loại theo mô học là tổn thương biểu mô không tân sinh (bọc nhầy) hoặc tân sinh, và nhóm tân sinh được phân chia sâu hơn theo mô học [5], [6] Vào năm 2012, tại Hội nghị Thế giới, Hội Ung thư bề mặt phúc mạc Quốc tế (PSOGI) đã bàn luận về vấn đề

Trang 3

này, và kết quả đưa ra một phân loại đồng

thuận (vào năm 2016) giúp giải quyết nhiều

nhầm lẫn xung quanh thuật ngữ chẩn đoán

cho các tổn thương chế nhầy ruột thừa tân

sinh [1], [6] Vào năm 2019, trong phiên bản

thứ năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã

cập nhật một số thay đổi trong chẩn đoán và

phân loại các tổn thương chế nhầy ruột thừa

so với phiên bản năm 2010 [2], [3] Các hệ

thống phân loại mô bệnh học hiện tại đối với

các tổn thương tân sinh bao gồm cả các biến

thể mô học của biểu mô tổn thương và hình

thái tổn thương trong thành ruột [3], [5]

Quá trình diễn tiến và tiên lượng của các

tổn thương chế nhầy ruột thừa được quyết

định bởi phân nhóm mô học của chúng [5]

Các tân sinh chế nhầy ruột thừa (LAMN,

HAMN, carcinôm tuyến chế nhầy) có thể

gây thủng, dẫn đến sự tiến triển lan rộng vào

khoang phúc mạc, lắng đọng cả dịch nhầy và

tế bào tân sinh, gây ra một hội chứng lâm

sàng được gọi là giả nhầy phúc mạc (PMP);

chiếm tỷ lệ hơn 90% nguồn gốc PMP [6] Do

đó, việc phân loại các tổn thương chế nhầy

ruột thừa dựa vào đặc điểm hình thái mô

bệnh học và phân giai đoạn của các tổn

thương này được thảo luận trước, từ đó có

các hướng điều trị, theo dõi và tiên lượng

bệnh khác nhau Trên thế giới, trong vài năm

gần đây đã có các công trình nghiên cứu về

đặc điểm Giải phẫu bệnh của các tổn thương

này, nhưng phần lớn nghiên cứu là báo cáo

ca hay báo cáo vài ca, ít nghiên cứu có cỡ

mẫu lớn [1], [7] Tại Việt Nam, việc nghiên

cứu về các tổn thương chế nhầy ruột thừa về

mặt Giải phẫu bệnh, nhất là theo phân loại

mới của Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019

còn khá mới mẻ, không chỉ có ý nghĩa khoa

học mà còn có ý nghĩa thực tiễn, trong việc

chẩn đoán, giúp ích cho việc điều trị, tiên

lượng và theo dõi bệnh nhân Nghiên cứu các

tổn thương chế nhầy ruột thừa với mục tiêu sau: Đánh giá đặc điểm giải phẫu bệnh của các tổn thương tân sinh (LAMN, HAMN, MACA) chế nhầy ruột thừa

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng

nghiên cứu bao gồm 109 trường hợp có kết quả Giải phẫu bệnh nằm trong nhóm tổn thương chế nhầy ruột thừa tại Bộ môn Mô phôi – Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/01/2017 đến 31/03/2021

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả

cắt ngang

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện

- Tiêu chuẩn chọn mẫu: các trường hợp

có kết quả Giải phẫu bệnh nằm trong nhóm tổn thương chế nhầy ruột thừa, không trải qua hóa trị trước mổ, không có ung thư khác

- Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp không còn tiêu bản tế bào học

2.3 Phương pháp tiến hành

Đánh giá lại các đặc điểm mô bệnh học trên tiêu bản mô học theo phân loại mới của

Tổ chức Y Tế Thế giới năm 2019

Y Đức: được hội đồng y đức thông qua,

Số 686/HĐĐĐ-ĐHYD ngày 12 tháng 10 năm 2019

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tỉ lệ của các loại tổn thương

Nghiên cứu này cho thấy tổn thương chế nhầy do tân sinh chiếm tỉ lệ 85,3% (93/109) Trong đó, LAMN chiếm 69,9% (65/93); HAMN chiếm 10,8% (10/93); carcinôm tuyến chế nhầy ruột thừa chiếm 5,4% (5/93); còn lại là các tổn thuơng tân sinh khác như polyp tăng sản, tổn thương răng cưa (13/93)

Trang 4

Biểu đồ 1: Biểu đồ phân bố tỉ lệ của các tổn thương chế nhầy ruột thừa

Tân sinh chế nhầy ruột thừa độ thấp

(LAMN): Trong nghiên cứu, tất cả các

trường hợp đều có biểu mô lót và có thể quan

sát tốt để đánh giá các đặc điểm quan trọng

cho chẩn đoán Gần như toàn bộ LAMN có

biểu mô chế nhầy đặc trưng, chiếm 98,5%

(64/65), và tỉ lệ của các dạng lần lượt là:

lượn sóng 87,7% (57/65), phân nhánh 29,2%

(19/65), phẳng 41,5% (27/65); chỉ có 1

trường hợp biểu mô có dạng răng cưa Đa số

các ca đều có hiện tượng xóa các lớp thành

ruột thừa 95,4% (62/65) Khoảng gần một

nửa trường hợp quan sát thấy sự xâm nhập

kiểu bờ đẩy 46,2% (30/65), còn lại không

thấy Các đặc điểm khác phần lớn trường

hợp có hiện tượng xơ hóa thành ruột 90,8%

(59/65), ít hơn là vôi hóa 36,9% (24/65) và

hyalin hóa 35,4% (23/65)

Về đặc điểm tế bào, đa số có cách sắp

xếp giả tầng 76,9% (50/65), ít gặp hơn là

kiểu một hàng, phân cực 23,1% (15/65) Tế

bào có nhân hình trụ chiếm tỉ lệ cao nhất

87,7% (57/65), kế tiếp là nhân tròn nhỏ

10,8% (7/65), chỉ có 1 trường hợp nhân lớn;

chất nhiễm sắc thường có dạng hạt mịn

73,8% (48/65); tỉ lệ N/C tăng trên 54 trường

hợp (83,1%); phần lớn hạt nhân không rõ 75,4% (49/65), còn lại có hạt nhân nhỏ Quan sát thấy phân bào điển hình trong 51 trường hợp (78,5%), còn lại không thấy, và không

có trường hợp nào có phân bào không điển hình Hiện tượng hoại tử tế bào tìm thấy trong 18 trường hợp (27,7%)

Trong hầu hết các ca, tổn thương giới hạn

ở ruột thừa và lan rộng đến các lớp của thành ruột, nhiều nhất là lớp cơ 33,8% (22/65), tiếp đến là mô liên kết dưới thanh mạc và/ hoặc thanh mạc 23,1% (15/65), có 3 trường hợp tổn thương lan sang manh tràng (4,6%), và

có 1 trường hợp tổn thương lan đến phúc mạc gây giả nhầy phúc mạc (PMP) với chất nhầy có tế bào biệt hóa rõ

Tân sinh chế nhầy ruột thừa độ cao (HAMN): Trong 10 trường hợp quan sát

được, lớp biểu mô lót có dạng biểu mô chế nhầy độ cao có 6 trường hợp (60%) (5 trường hợp dạng sàng, 1 trường hợp dạng vi nhú), còn lại 4 trường hợp có biểu mô chế nhầy độ thấp (40%) (cả 4 đều có dạng lượn sóng, 2 trường hợp dạng phẳng, 1 trường hợp dạng phân nhánh) Tất cả đều có hiện tượng xóa các lớp thành ruột thừa Phần lớn ghi nhận sự

Trang 5

xâm nhập kiểu bờ đẩy (9/10), 1 trường hợp

không quan sát thấy sự xâm nhập Các ca

đều có hiện tượng xơ hóa (10/10), một nửa

có hyalin hóa (5/10), có 3 trường hợp kèm

theo vôi hóa (3/10) Đa số các ca (8/10) tổn

thương giới hạn ở ruột thừa và lan đến các

lớp sâu của thành ruột thừa như lớp mô liên

kết dưới thanh mạc và/ hoặc thanh mạc

(6/10), lớp cơ (2/10); có 1 trường hợp tổn

thương lan qua manh tràng; 1 trường hợp

HAMN gây giả nhầy phúc mạc với chất nhầy

không có tế bào u Có 6 trường hợp gây thoát

chất nhầy (chất nhầy thoát ra cả trong và

ngoài ruột thừa, bao gồm 1 trường hợp lan

đến manh tràng, nhưng không gây PMP), và

đều là chất nhầy không có tế bào u; 4 trường

hợp còn lại không có thoát chất nhầy

Nghiên cứu này cũng ghi nhận các đặc

điểm về tế bào của HAMN: sắp xếp chồng

chất (10/10); nhân tế bào hình trụ (5/10) hoặc

nhân lớn, đa dạng (5/10); nhân bọng chiếm

đa số (8/10), còn lại chất nhiễm sắc hạt mịn

(2/10); các ca đều tăng tỉ lệ nhân/ bào tương;

hạt nhân thường nhỏ (6/10) hay ít hơn là hạt

nhân lớn (2/10), hoặc không rõ (2/10) Phần

lớn có phân bào điển hình (9/10), có 1 trường

hợp hiện diện phân bào không điển hình Có

7 trường hợp quan sát thấy hiện tượng hoại

tử tế bào

Trong 10 trường hợp của mẫu nghiên

cứu, phần lớn (8/10) các ca tổn thương giới

hạn ở ruột thừa và lan đến các lớp sâu của

thành ruột thừa như lớp mô liên kết dưới

thanh mạc và/ hoặc thanh mạc (6/10), lớp cơ

(2/10); có 1 trường hợp tổn thương lan qua

manh tràng; 1 trường hợp HAMN gây giả

nhầy phúc mạc với chất nhầy không có tế

bào u Có 6 trường hợp gây thoát chất nhầy

(chất nhầy thoát ra cả trong và ngoài ruột

thừa, bao gồm 1 trường hợp lan đến manh

tràng, nhưng không gây PMP), và đều là chất

nhầy không có tế bào u; 4 trường hợp còn lại không có thoát chất nhầy

Trong nghiên cứu còn ghi nhận có 2 trường hợp tổn thương còn hiện diện ở rìa diện cắt (2/10), còn lại là không có (3/10) hoặc không xác định được (5/10) Có 2 trường hợp được khảo sát hạch vùng ghi nhận không di căn Một nửa số ca có kèm theo viêm cấp hoặc bán cấp (5/10), và nửa còn lại kèm theo viêm mạn tính (5/10)

Carcinôm tuyến chế nhầy ruột thừa (MACA): Trong 5 trường hợp carcinôm

tuyến chế nhầy ruột thừa được quan sát, đa

số (3/5) có biểu mô chế nhầy độ cao (dạng sàng hiện diện trong 2 trường hợp, dạng vi nhú hiện diện trong 3 trường hợp), 2 trường hợp còn lại lớp biểu mô có hiện diện thành phần tế bào nhẫn, các đám tế bào kém biệt hóa Tất cả các ca đều gây xóa các lớp thành ruột và biểu hiện sự xâm nhập kiểu thâm nhiễm; thường có xơ hóa (4/5), hylin hóa (3/5), vôi hóa (2/5) Cả 5 trường hợp quan sát tổn thương đều còn giới hạn ở ruột thừa, nhưng lan đến các lớp sâu của thành ruột: mô liên kết dưới thanh mạc và/ hoặc thanh mạc (3/5), lớp cơ (2/5) Tất cả đều thâm nhiễm và gây thoát chất nhầy có tế bào u (chất nhầy thoát ra cả trong và ngoài ruột thừa, nhưng không gây PMP), 4 trường hợp chất nhầy giàu tế bào u, 1 trường hợp chất nhầy nghèo

tế bào u Về độ mô học của tế bào trong chất nhầy, 3 trường hợp là carcinôm xâm nhập, 2 trường hợp có thành phần tế bào nhẫn

Về các tổn thương kèm theo ở ruột thừa,

đa số các tổn thương kèm theo là viêm ruột thừa mạn (42/75 trường hợp), trong khi các tổn thương ở nhóm tổn thương tân sinh khác chủ yếu là tình trạng viêm ruột thừa cấp/bán cấp (8/13 trường hợp) Tuy nhiên cũng có nhiều ca (20/75 trường hợp) các u nhóm AMN (LAMN, HAMN, MACA) kèm theo viêm ruột thừa cấp/bán cấp Sự phân bố các

Trang 6

tổn thương kèm theo ở hai nhóm u khác biệt

có ý nghĩa thống kê (kiểm định χ2, p =

0,007)

Nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên

quan giữa có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

LAMN, HAMN, MACA với đặc điểm về

chất nhầy (kiểm định χ2, p < 0,001) và với

độ mô học của tế bào u trong chất nhầy

(kiểm định χ2, p = 0,007) ở ruột thừa (chất

nhầy không nằm trong lòng ruột thừa), đặc

điểm chất nhầy ở phúc mạc (PMP) (kiểm

định χ2, p < 0,001), tổn thương kèm theo ở

ruột thừa (kiểm định χ2, p = 0,017) Hầu hết

LAMN và HAMN không có nhầy thoát ra

hoặc không có tế bào trong chất nhầy ở ruột

thừa (60/65 trường hợp và 10/10 trường

hợp), ngược lại tất cả các MACA đều có tế

bào vùng này, đa số chứa nhiều tế bào u (4/5

trường hợp) Tuy nhiên cũng có vài trường

hợp LAMN có tế bào trong chất nhầy ruột

thừa (5/65 trường hợp) nhưng các tế bào này

đều cho nghịch sản độ thấp Trong các

trường hợp MACA, 3 trường hợp có tế bào

carcinôm xâm nhập ở vùng chất nhầy và 2

trường hợp có tế bào nhẫn trong chất nhầy

IV BÀN LUẬN

Các kết quả này có một số nét tương

đồng với các nghiên cứu của thế giới:

LAMN là tổn thương chế nhầy thường gặp

nhất

LAMN có thể có nhiều dạng Hình thái

kinh điển là sự thay thế niêm mạc ruột thừa

bình thường bằng sự tăng sinh biểu mô chế

nhầy, phân nhánh mảnh Các khối u khác có

thể cho thấy dạng nhấp nhô như làn sóng hay

vỏ sò, với tế bào biểu mô hình trụ, nhân xếp

giả tầng, phát triển trên nền mô đệm sợi dưới

niêm mạc Một số trường hợp được đặc trưng

bởi một lớp biểu mô chế nhầy mỏng đi hay

phẳng dẹt Biểu mô tân sinh trong LAMN có

mô học độ thấp Tế bào biểu mô có nhân

nhỏ, đậm màu, hướng về đáy, tương đối đồng dạng Hạt nhân không rõ Bào tương tế bào thường chứa nhiều chất nhầy dẫn đến tỉ

lệ nhân/ bào tương thấp Hầu hết tế bào có đặc điểm gợi nhớ đến nghịch sản độ thấp quy ước ở đại-trực tràng, như nhân lớn nhẹ và tăng sắc; nhưng tế bào vẫn giữ được cực tính

và hoạt động phân bào ít hay không rõ ràng

Dù biểu mô có thể có cấu trúc phân nhánh, lượn sóng hay phẳng; thì tế bào nhìn chung thường sắp xếp một lớp [2], [5]

HAMN là tân sinh chế nhầy không có biểu hiện xâm lấn kiểu thâm nhiễm nhưng có nghịch sản độ cao được đặc trưng bởi những thay đổi như: tăng trưởng dạng sàng, tế bào mất phân cực với nhân xếp tầng hết chiều dày lớp biểu mô, nhân lớn, tăng sắc rõ rệt hoặc nhân bọng, có hạt nhân rõ và phân bào nhiều hay phân bào không điển hình Những thay đổi trong thành ruột thừa giống như trong LAMN, bao gồm xơ hóa dưới lớp biểu mô, một bờ viền đẩy rộng, xâm lấn kiểu bờ đẩy,

vỡ ruột thừa và gieo rắc phúc mạc [4], [5] Carcinôm tuyến ruột thừa là các tân sinh tuyến ác tính đặc trưng bởi sự xâm lấn kiểu thâm nhiễm Carcinôm tuyến chế nhầy là một loại trong số đó với các tuyến xâm lấn chứa tế bào không điển hình độ cao và chất nhầy ngoại bào chiếm > 50% thể tích khối u [5]

Về sự lan rộng của tổn thương, tổn thương nhóm AMN (LAMN, HAMN, MACA) có thể lan rộng tổn thương đến các lớp khác nhau của thành ruột, và cả bên ngoài ruột thừa, như phúc mạc và các cơ quan lân cận Ngược lại, các tổn thương tân sinh khác (tổn thương răng cưa) thường đặc trưng duy trì cấu trúc niêm mạc, không gây mất lớp cơ niêm và mô đệm niêm mạc Đây cũng là đặc điểm có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi Ngoài ra chúng tôi còn ghi nhận đặc điểm tổn thương kèm có sự khác biệt có ý

Trang 7

nghĩa giữa hai nhóm, nhưng đặc điểm này

hiện trong các y văn chưa được đề cập một

cách cụ thể [5], [6]

V KẾT LUẬN

Chẩn đoán và phân loại các tổn thương

chế nhầy ruột thừa theo phân loại Tổ chức Y

tế Thế giới (WHO), phiên bản thứ năm, vào

năm 2019 có một số thay đổi trong chẩn

đoán và phân loại các tổn thương chế nhầy

ruột thừa so với phiên bản năm 2010 Việc

chẩn đoán và phân loại chính xác, thống nhất

các tổn thương chế nhầy ruột thừa dựa vào

đặc điểm hình thái mô bệnh học giúp các bác

sĩ lâm sàng có các hướng điều trị, theo dõi và

tiên lượng cho từng bệnh nhân khác nhau

Chẩn đoán các tổn thương chế nhầy ruột

thừa dựa trên các đặc điểm tế bào, cấu trúc

sắp xếp và các đặc điểm tổn thương khác như

mức độ lan rộng, đặc điểm chất nhầy,… giúp

giải quyết nhiều nhầm lẫn xung quanh chẩn

đoán cho các tổn thương chế nhầy ruột thừa

LAMN là tổn thương chế nhầy thường

gặp nhất Tổn thương nhóm AMN (LAMN,

HAMN, MACA) có thể lan rộng tổn thương

đến các lớp khác nhau của thành ruột, và cả

bên ngoài ruột thừa, như phúc mạc và các cơ

quan lân cận Ngược lại, các tổn thương tân

sinh khác (tổn thương răng cưa) thường đặc

trưng duy trì cấu trúc niêm mạc, không gây

mất lớp cơ niêm và mô đệm niêm mạc

LỜI CẢM TẠ:

Bài báo được sự hỗ trợ kinh phí đề tài

nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Đại học

Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Nhóm tác

giả trân trọng cảm ơn Đại học Y Dược Thành

phố Hồ Chí Minh đã cấp kinh phí thực hiện

đề tài theo Hợp đồng số

135/2022/HĐ-ĐHYD ngày 18/10/2022

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Carr N J., Bibeau F., Bradley R F., Dartigues P., Feakins R M., Geisinger K R., Gui X., Isaac S., Milione M., Misdraji J., Pai R K., Rodriguez-Justo M., Sobin L H., van Velthuysen M F.,Yantiss R K

(2017), "The histopathological classification, diagnosis and differential diagnosis of mucinous appendiceal neoplasms, appendiceal adenocarcinomas and pseudomyxoma peritonei", Histopathology,

71 (6), 847-858

2 Koç C., Akbulut S., Akatlı A N., Türkmen Şamdancı E., Tuncer A ,Yılmaz S (2020),

"Nomenclature of appendiceal mucinous lesions according to the 2019 WHO Classification of Tumors of the Digestive System", Turk J Gastroenterol, 31 (9), 649-657

3 Nagtegaal ID, Odze RD, Klimstra D, Paradis V, Rugge M, Schirmacher P, Washington KM, Carneiro F, Cree IA and the WHO Classification of Tumours Editorial Board WHO Classification of Tumours Editorial Board (2019), WHO

Classification of Tumours Digestive System Tumours, World Health Organization, Lyon (France): International Agency for Research

on Cancer,

4 Nutu O A., Marcacuzco Quinto A A., Manrique Municio A., Justo Alonso I., Calvo Pulido J., García-Conde M., Cambra Molero F ,Jiménez Romero L C

(2017), "Mucinous appendiceal neoplasms: Incidence, diagnosis and surgical treatment", Cir Esp, 95 (6), 321-327

5 Overman M J., Compton C C., Raghav

K ,Lambert L A (2020), "Appendiceal

mucinous lesions",

6 Svrcek Magali (2017), "Mucocele, Appendix", Springer International Publishing, Cham, 523-528

7 Yang J M., Zhang W H., Yang D D., Jiang H., Yu L ,Gao F (2019), "Giant

low-grade appendiceal mucinous neoplasm: A case report", World J Clin Cases, 7 (13), 1726-1731

Ngày đăng: 09/01/2023, 20:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm