1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm mô bệnh học và vị trí nguyên phát của các khối u di căn gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

7 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm mô bệnh học và vị trí nguyên phát của các khối u di căn gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Tác giả Nguyễn Văn Phỳ Thắng, Trịnh Tuấn Dũng, Ngụ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Duy Hoàng, Lờ Thị Thanh Xuõn, Nguyễn Quang Thi, Ngụ Khỏnh Hũa, Nguyễn Thị Ngọc Anh
Trường học Học viện Quân y - Hanoi, Vietnam
Chuyên ngành Y học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 404,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết mô tả đặc điểm mô bệnh học và khảo sát vị trí nguyên phát của các khối u di căn gan tại Bệnh viện trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 217 bệnh nhân được chẩn đoán khối u di căn gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 01 năm 2015 đến 06 năm 2021.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC VÀ VỊ TRÍ NGUYÊN PHÁT CỦA CÁC KHỐI U

DI CĂN GAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108

Nguyễn Văn Phú Thắng 1 , Trịnh Tuấn Dũng 2 , Ngô Thị Minh Hạnh 1 , Nguyễn Duy Hoàng 1 , Lê Thị Thanh Xuân 1 , Nguyễn Quang Thi 1 ,

Ngô Khánh Hòa 1 , Nguyễn Thị Ngọc Anh 1 TÓM TẮT 27

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm mô bệnh học và

khảo sát vị trí nguyên phát của các khối u di căn

gan tại Bệnh viện trung ương Quân đội 108 Đối

tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt

ngang 217 bệnh nhân được chẩn đoán khối u di

căn gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

từ 01 năm 2015 đến 06 năm 2021 Kết quả: Tuổi

trung bình của bệnh nhân là 58,9 ± 11,1 tuổi; tỷ

lệ nam/nữ là 2,2/1 U gặp ở cả hai thùy gan với tỷ

lệ 50,2%, phần lớn u có trên 2 ổ (56,7%) với kích

thước nhỏ hơn hoặc bằng 6 cm (79,3%) Ung thư

biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ chủ yếu (82,9%) Các

khối u nguyên phát phần lớn gặp ở hệ tiêu hóa

(73,3%), sau đó là hệ sinh dục (9,2%) Kết luận:

Khối u di căn gan gặp nhiều hơn ở nam giới, trên

60 tuổi, hai thùy gan, đa ổ, type mô bệnh học

thường gặp là ung thư biểu mô tuyến, nguồn gốc

u chủ yếu từ các cơ quan khác trong hệ tiêu hóa

Từ khóa: Di căn, gan, đặc điểm mô bệnh

học, vị trí, u nguyên phát

SUMMARY

HISTOPATHOLOGICAL

CHARACTERISTICS AND PRIMARY

1

Bệnh viện trung ương Quân đội 108

2

Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Văn Phú Thắng

Email: phuthangk39hvqy@gmail.com

Ngày nhận bải: 30.09.2022

Ngày phản biện 05.11.2022

Ngày duyệt bài 11.11.2022

TUMOR LOCATIONS OF LIVER METASTASES AT THE 108 MILITARY

CENTRAL HOSPITAL

Objectives: To describe histopathological characteristics and investigate the primary location of liver metastases at the 108 Military Central Hospital Subjects and methods: A descriptive study on 217 patients were diagnosed with liver metastases at the 108 Military Central Hospital from January 2015 to June 2021 Results: The mean age of the patients was 58.9 ± 11.1 years; the ratio of men:women was 2.2:1 Tumors were found in both lobes of the liver with the highest rate (50.2%), most of them had more than 2 tumors (56.7%) with size ≤ 6 cm (79.3%) Adenocarcinoma accounted for the majority (82.9%) Primary tumors were mostly found in the digestive system (73.3%), then the genitourinary system (9.2%) Conclusion: Liver metastases were more common in men, over 60 years old, the most common histopathological type is adenocarcinoma, the primary tumors were mainly from other organs of the digestive system

Keywords: Metastases, liver, histopathological features, location, primary tumor

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư gan là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở các trường hợp tử vong liên quan đến ung thư, thuộc loại ung thư ác tính nhất [5] Trên thực tế, các khối u ác tính thứ phát ở gan (di căn gan)

Trang 2

phổ biến hơn các khối u nguyên phát, chiếm

khoảng 70% các khối u gan Gan là vị trí di

căn phổ biến của nhiều loại ung thư, chỉ

đứng sau các hạch bạch huyết [4] Các khối u

di căn gan có thể xuất hiện ở những bệnh

nhân đã được chẩn đoán một loại u nguyên

phát trước đó nhưng cũng có thể chưa rõ

khối u nguyên phát Tiên lượng của nhiều

bệnh nhân bị di căn gan có thể kém, với tỷ lệ

sống sót sau 5 năm gần như bằng 0% nếu

khối di căn vẫn không được điều trị [8] Việc

hiểu rõ tần suất xuất hiện của các khối u khác

nhau trong di căn gan là rất quan trọng đối

với việc lên kế hoạch điều trị; đặc biệt ở

nhóm bệnh nhân có khối u nguyên phát

không xác định, các số liệu về các loại u di

căn gan có thể được sử dụng để dự đoán vị

trí khối u nguyên phát [3]

Ở Việt Nam, các nghiên cứu hiện có về

di căn gan tập trung vào các phân nhóm ung

thư cụ thể, chủ yếu là đại trực tràng [2] Tuy

nhiên, có những loại ung thư khác di căn gan

đã được biết đến, bao gồm ung thư tuyến tụy,

ung thư phổi, ung thư vú và tuyến tiền liệt…

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên

cứu cho thấy cơ cấu các loại ung thư di căn

gan [3], [5], [6] Ở Việt Nam, dữ liệu về vấn

đề này còn hạn chế, trong khi chẩn đoán và

điều trị các khối u di căn gan lại thường gặp

trong thực hành lâm sàng, không ít trường

hợp gây khó khăn cho cả bác sỹ lâm sàng và

bác sỹ giải phẫu bệnh trong việc tìm u

nguyên phát Xuất phát từ thực tiễn đó,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục

tiêu: “Mô tả đặc điểm mô bệnh học và khảo

sát vị trí nguyên phát của các khối u di căn

gan tại Bệnh viện trung ương Quân đội 108”

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

217 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư

di căn gan tại Khoa Giải phẫu bệnh- Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 06 năm 2021

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

Bệnh nhân được sinh thiết hoặc phẫu thuật cắt một phần gan có chứa khối u, có kết quả chẩn đoán ung thư di căn gan dựa trên phối hợp các đặc điểm lâm sàng, bệnh sử đã được chẩn đoán và điều trị khối u ác tính, có/ không nhuộm hóa mô miễn dịch (HMMD) xác định nguồn gốc u

Có kết quả xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (chụp cắt lớp vi tính hoặc siêu âm ổ bụng) đánh giá gan

Hồ sơ, tiêu bản và khối nến được lưu trữ đầy đủ

* Tiêu chuẩn loại trừ:

Các trường hợp khối u ác tính nguyên phát tại gan

Thiếu thông tin về các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (chụp cắt lớp vi tính hoặc siêu

âm ổ bụng)

2.2 Phương pháp

* Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu

* Cỡ mẫu nghiên cứu: Chọn mẫu thuận tiện, tất các các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn đều được chọn vào nghiên cứu

* Cách tiến hành nghiên cứu:

Ghi nhận thông tin qua hồ sơ bệnh án: Tuổi, giới; các thông tin về vị trí, số lượng, kích thước u được ghi nhận từ kết quả chụp cắt lớp vi tính (hoặc siêu âm) ổ bụng

Xử lý các mẫu bệnh phẩm: Các trường hợp sinh thiết, bệnh phẩm được chuyển toàn

bộ để làm xét nghiệm mô bệnh học Các trường hợp phẫu thuật, bệnh phẩm được phẫu tích u, mô tả các đặc điểm u và cắt thành các mảnh có kích thước khoảng 2x1x0,3cm Các mảnh cắt u được cố định

Trang 3

trong formol trung tính và chuyển đúc trong

parafin

Cắt và nhuộm tiêu bản: Tất cả các khối

nến được cắt mảnh có độ dày từ 3 - 5µm và

tiến hành nhuộm thường quy theo phương

pháp Hematoxylin-Eosin (HE)

Nhuộm HMMD: Các tiêu bản cắt nhuộm

HMMD từ chính khối nến đã được cắt

nhuộm HE trước đó trên máy BenchMark

ULTRA của Ventana (Hoa Kỳ) với các dấu

ấn cụ thể được xác định cho từng trường

hợp

* Biến số nghiên cứu:

Tuổi: tuổi được chia thành 4 nhóm (dưới

40 tuổi, 40 đến 49 tuổi, 50 đến 59 tuổi và lớn hơn hoặc bằng 60 tuổi)

Giới tính: nam, nữ

Type mô bệnh học: tuyến, vảy, ung thư biểu mô thần kinh nội tiết, u mô đệm đường tiêu hóa (GIST), melanoma, sarcoma,…

Vị trí u nguyên phát: đầu - mặt - cổ, hệ tiêu hóa, phổi, hệ sinh dục, hệ tiết niệu, các

vị trí khác và u chưa rõ nguyên phát

* Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng

chương trình phần mềm SPSS Version 26.0

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới tính

Giới Tuổi

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân trên 60 tuổi (48,8%), trung bình 58,9 ± 11,1 tuổi, cao nhất

83 tuổi, thấp nhất 29 tuổi Tỷ lệ mắc của nam nhiều hơn nữ (2,2/1) Ở nam giới, tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm lớn hơn hoặc bằng 60 tuổi (57%) trong khi ở nữ giới, độ tuổi 50 - 59 tuổi chiếm

tỷ lệ cao nhất (41,2%) Sự phân bố giữa các nhóm tuổi giữa nam và nữ khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

Bảng 2 Phân bố bệnh nhân theo vị trí, số lượng và kích thước ổ di căn

Vị trí

Số lượng ổ di căn

Trang 4

Kích thước (cm)

Nhận xét: U gặp ở cả hai thùy gan với tỷ lệ cao nhất (50,2%), phần lớn u có trên 2 ổ

(56,7%) với kích thước ≤ 6 cm (79,3%), trung bình là 4,2 ± 2,8cm

Bảng 3 Type mô bệnh học các khối u di căn gan

UTBM

Không phải

UTBM

Nhận xét: Ung thư biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ chủ yếu (82,9%), tiếp đến là ung thư biểu

mô vảy (6,9%), các type mô bệnh học khác ít gặp hơn (0,5 - 1,8%)

Bảng 4 Vị trí của u nguyên phát

Vị trí của u nguyên phát Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Đầu - mặt - cổ

Hệ tiêu hóa

Trang 5

Phổi 13 6,0

Hệ sinh dục

Hệ tiết niệu

Nhận xét: Các khối u nguyên phát chủ yếu gặp ở hệ tiêu hóa (73,3%), sau đó là hệ sinh

dục (9,2%), đầu - mặt - cổ (6,2%); có 3 trường hợp không rõ u nguyên phát

IV BÀN LUẬN

Tuổi và giới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần

lớn bệnh nhân có u di căn gan thuộc nhóm

trên 60 tuổi (48,8%), trung bình 58,9 ± 11,1

tuổi, chỉ có 7,4% bệnh nhân dưới 40 tuổi Tỷ

lệ mắc của nam nhiều hơn nữ (2,2/1) Ở nam

giới, tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm lớn hơn hoặc

bằng 60 tuổi (57%) trong khi ở nữ giới, độ

tuổi 50 - 59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất

(41,2%) Sự phân bố giữa các nhóm tuổi giữa

nam và nữ khác nhau có ý nghĩa thống kê

Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả của

một số tác giả khác trên thế giới Nghiên cứu

của Horn S R và CS trên 128108 bệnh

nhân di căn gan cho thấy tuổi trên 60 chiếm

tỷ lệ khá cao (71,6%), nam giới gặp nhiều

hơn nữ giới (52,9%) [6] De Ridder, J và

CS cũng ghi nhận tuổi trung bình là 67 tuổi

với nhóm bệnh nhân sinh thiết và 63 tuổi với

nhóm bệnh nhân được phẫu thuật, nam giới

chiếm 53% [3]

Vị trí, số lượng và kích thước ổ di căn

Chụp cắt lớp vi tính kết hợp sử dụng thuốc cản quang là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị cao trong chẩn đoán các khối u ở gan Chụp cắt lớp vi tính có thể phát hiện vị trí, số lượng, kích thước và tỷ trọng của khối u Bảng 2 cho thấy phần lớn các khối

u di căn gặp ở cả hai thùy (50,2%), số lượng trên 2 ổ (56,7%), kích thước nhỏ hơn 3 cm (44,7%) U gặp ở thùy phải đơn thuần chiếm 37,8% trong khi thùy trái đơn thuần chỉ 12% Như vậy, có thể thấy khối u xuất hiện ở thùy gan phải với tỷ lệ cao (88%) Kết quả của chúng tôi tương đồng với kết quả của các tác giả khác Nghiên cứu của Bùi Đức Hải (2013) cũng cho thấy u ở gan phải đơn thuần là 51,9% và cả hai thùy gan là 31,4%; kích thước u dưới 3 cm chiếm 66,7% và 44,5% có

từ 3 u trở lên [1] Tác giả Nguyễn Việt Long thực hiện nghiên cứu trên 61 bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn gan cho thấy u gặp thùy phải 50,8%, hai thùy 47,5%, chỉ 1,6% u

ở thùy trái; 50,8% từ 3 u trở lên và 34,4% u

có kích thước nhỏ hơn 3 cm [2]

Trang 6

Type mô bệnh học các khối u di căn gan

Type mô bệnh học của các u di căn gan

gặp chủ yếu là ung thư biểu mô (95,7%),

trong đó ung thư biểu mô tuyến chiếm

82,9%, ung thư biểu mô vảy 6,9% Trong các

khối u không phải biểu mô, u mô đệm đường

tiêu hóa là khối u có tỷ lệ cao nhất (1,8%)

Kết quả nghiên cứu của De Ridder, J và

CS (2016) cũng cho thấy ung thư biểu mô là

type mô học hay gặp nhất (92,4%), tiếp đến

là melanoma (2,4%); có 33 bệnh nhân (0,1%)

không xác định được type Nhóm nghiên cứu

cũng chỉ ra ung thư biểu mô tuyến chiếm

phần lớn (74,9%), sau đó là ung thư biểu mô

tế bào nhỏ (5,9%) [3] Các nghiên cứu về

type mô học của các khối u di căn gan còn

hạn chế, tuy nhiên ung thư biểu mô tuyến là

loại ung thư hay gặp nhất trên lâm sàng, đặc

biệt là ở ống tiêu hóa, có lẽ vì thế mà tỷ lệ

bắt gặp type mô học này cũng nhiều hơn các

type mô học khác

Vị trí của u nguyên phát

Chúng tôi xác định được khối u nguyên

phát ở hệ tiêu hóa với 73,3%, tỷ lệ này cách

biệt so với các cơ quan khác; trong đó tỷ lệ u

từ đại trực tràng là 47,9% Kết quả của chúng

tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của

De Ridder, J và CS (2016), ung thư biểu mô

tuyến di căn gan từ đại trực tràng chiếm tỷ lệ

cao nhất (34,6%), sau đó đến ung thư biểu

mô tuyến tụy (7,6%) [3] Tác giả Horn, S R

và CS (2020) ghi nhận vị trí u nguyên phát

hay gặp nhất là phổi (27,1%), u từ đại trực

tràng đứng thứ hai (23,1%) [6]

Golubnitschaja, O và CS (2016) lại cho

thấy u nguyên phát phần lớn là u vú (21%),

tiếp đến là u đại trực tràng (15%) [5] Như

vậy, các nghiên cứu ở các địa điểm khác

nhau, trong những khoảng thời gian khác nhau đều ghi nhận khối u nguyên phát từ đại trực tràng chiếm tỷ lệ cao so với u ở các vị trí khác Ung thư đại trực tràng di căn theo 3 con đường chính: lan tràn tại chỗ, theo đường máu và đường bạch huyết Trong đó

di căn theo đường máu và đường bạch huyết đóng vai trò quan trọng Di căn theo đường máu chủ yếu là qua đường tĩnh mạch Hệ thống tĩnh mạch của toàn bộ đại tràng và phần trên của trực tràng được dẫn về tĩnh mạch mạc treo tràng dưới rồi cùng đổ vào tĩnh mạch cửa Vì vậy, gan là cơ quan đầu tiên mà các tế bào ung thư di căn tới theo đường tĩnh mạch Cấu trúc hệ thống xoang tĩnh mạch trong gan không có hàng rào ngăn cản các tế bào ung thư xâm nhập, tạo điều kiện cho các tế bào u xuyên qua và cư trú lại

ở gan Hơn nữa, vi môi trường ở gan rất phù hợp cho các tế bào u phát triển [2] Những điều kiện trên dẫn đến ung thư đại trực tràng

di căn gan chiếm tỷ lệ rất cao

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 217 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư di căn gan tại Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Trung ương Quân đội

108 từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 06 năm

2021, chúng tôi thu được kết quả:

Tuổi trung bình của bệnh nhân là 58,9 ± 11,1 tuổi; tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1

U gặp ở cả hai thùy gan với tỷ lệ 50,2%, phần lớn u có trên 2 ổ (56,7%) với kích thước nhỏ hơn hoặc bằng 6 cm (79,3%) Ung thư biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ chủ yếu (82,9%) Các khối u nguyên phát phần lớn gặp ở hệ tiêu hóa (73,3%), sau đó là hệ sinh dục (9,2%)

Trang 7

Như vậy, khối u di căn gan gặp nhiều

hơn ở nam giới, trên 60 tuổi, ở cả hai thùy

gan, thường đa ổ, nguyên nhân chủ yếu là

ung thư biểu mô tuyến từ các cơ quan khác

trong hệ tiêu hóa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hải Bùi Đức, Mai Hồng Bàng, Nghiên cứu

hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán

ung thư gan thứ phát, Tạp chí Y học thực

hành, 2013, số 7, trang 161 – 162

2 Long Nguyễn Việt, Nghiên cứu kết quả

bước đầu điều trị di căn gan trong ung thư

đại trực tràng bằng đốt nhiệt sóng cao tần kết

hợp hóa chất toàn thân, Luận án tiến sỹ, Đại

học Y Hà Nội, 2018

3 De Ridder, J., de Wilt, J H., Simmer, F.,

Overbeek, L., Lemmens, V., & Nagtegaal,

Incidence and origin of histologically

confirmed liver metastases: an explorative

patients Oncotarget, 2016, 7(34), 55368–

55376

4 Disibio, G., & French, S W Metastatic

patterns of cancers: results from a large

autopsy study Archives of pathology

&laboratory medicine, 2008, 132(6),

931-939

5 Golubnitschaja, O., & Sridhar, K C Liver

metastatic disease: new concepts and biomarker panels to improve individual outcomes Clinical & experimental metastasis, 2016, 33(8), 743–755

6 Horn, S R., Stoltzfus, K C., Lehrer, E J., Dawson, L A., Tchelebi, L., Gusani, N J., Sharma, N K., Chen, H., Trifiletti, D M.,

& Zaorsky, N G Epidemiology of liver

metastases Cancer epidemiology, 2020, 67,

101760

7 Rashidian, N., Alseidi, A., & Kirks, R C

Cancers Metastatic to the Liver The Surgical clinics of North America, 2020, 100(3), 551–

563

8 Tsilimigras, D I., Brodt, P., Clavien, P A., Muschel, R J., D'Angelica, M I., Endo, I., Parks, R W., Doyle, M., de Santibañes, E.,

& Pawlik, T M Liver metastases Nature

reviews Disease primers, 2021, 7(1), 27

Ngày đăng: 09/01/2023, 20:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm