Bài viết Nghiên cứu biểu hiện p16 trong ung thư cổ tử cung trình bày khảo sát sự biểu hiện kiểu hình miễn dịch của dấu ấn p16 ở các tuýp mô bệnh học ung thư cổ tử cung và mối liên quan giữa mức độ biểu hiện p16 với các đặc điểm giải phẫu bệnh của loại ung thư này.
Trang 1NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN P16 TRONG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Dương Thanh Tú 1 , Thái Anh Tú 2 , Trương Thị Ngọc Hân 3
TÓM TẮT 16
Mục tiêu: Khảo sát sự biểu hiện kiểu hình
miễn dịch của dấu ấn p16 ở các tuýp mô bệnh
học ung thư cổ tử cung và mối liên quan giữa
mức độ biểu hiện p16 với các đặc điểm giải phẫu
bệnh của loại ung thư này
Đối tượng, phương pháp: Phương pháp
nghiên cứu: Mô tả cắt ngang Đối tượng nghiên
cứu gồm 107 trường hợp được chẩn đoán ung thư
cổ tử cung tại Bệnh viện Ung Bướu TP Hồ Chí
Minh từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2021
Kết quả: Trong 107 trường hợp khảo sát, độ
tuổi mắc bệnh từ 24 đến 80 tuổi, tuổi trung bình
51,3 ± 11 tuổi Tỷ lệ carcinôm tế bào gai,
carcinôm tuyến, carcinôm gai tuyến, carcinôm
thần kinh nội tiết, loại khác lần lượt là 69,2%,
21,5%, 4,7%, 4,7%, 0% Tỷ lệ carcinôm tế bào
gai, carcinôm tuyến, carcinôm gai tuyến,
carcinôm thần kinh nội tiết biểu hiện dương tính
mạnh, lan tỏa với p16 lần lượt là 91,9%, 82,6%,
100%, 60% Kiểu hình miễn dịch p16 không liên
quan với độ tuổi, độ biệt hóa, tình trạng xâm
nhập mạch máu, mạch bạch huyết và di căn hạch
1 Bộ môn Mô phôi-Giải Phẫu Bệnh, Trường Đại
học Y Dược Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí
Minh
2 Khoa Giải Phẫu Bệnh, Bệnh viện Ung Bướu TP
HCM, Thành phố HCM
3 Khoa Giải Phẫu Bệnh, Bệnh viện Ung Bướu Đà
Nẵng, Thành phố Đà Nẵng
Chịu trách nhiệm chính: Trương Thị Ngọc Hân
Email: ngochanqnybhue@gmail.com
Ngày nhận bài: 28.08.2022
Ngày phản biện khoa học: 22.09.2022
Ngày duyệt bài 24.10.2022
Kết luận: p16 dương tính mạnh, lan tỏa
chiếm tỷ lệ cao trong ung thư cổ tử cung p16 nên được thực hiện ở tất cả các trường hợp carcinôm tế bào gai và các trường hợp cần thiết carcinôm tuyến cổ tử cung Carcinôm cổ tử cung nên được phân loại liên quan HPV (p16 dương mạnh, lan tỏa) hay không liên quan HPV (p16
âm tính hoặc dương yếu, khu trú) theo WHO
2020
Từ khoá: Ung thư cổ tử cung, biểu hiện p16
SUMMARY EXPRESSION OF P16 IN CERVICAL
CANCER
Objective: determine the expression of p16
protein in cervical carcinoma by immunohistochemistry and and to examine the correlation of p16 with clinicopathological features
Methods: a cross- sectional study with 107
cases of cervical cancer diagnosed at Pathology Department of Oncology Hospital at Ho Chi Minh city from 01/2021 to 12/2021
Results: In 107 cases, the age range was 24
to 80 (mean 51.3 ± 11) years Histological examination was revealed 69,2% squamous cell carcinoma, 21,5% adenocarcinoma, 4,7% adenosquamous cell carcinoma, 4,7% neuroendocrine carcinoma, 0% others With p16, there were 91,9%, 82,6%, 100%, 60% squamous cell carcinoma, adenocarcinoma, adenosquamous cell carcinoma, neuroendocrine carcinoma of overexpression The immunophenotype of p16 was not related to the age range, differentiation and lymphovascular space invasion, metastasis to lympho node
Trang 2Conclusions: p16 over expression is
common in cervical cancer Examination of p16
should be performed in all SCCs and selected
cases adenocarcinoma of the cervix Cervix
carcinoma should be classified into HPV-positive
(p16 block positive) and HPV-negative (p16
negative or ambiguity) according to WHO 2020
Keywords: Cervical cancer, p16 expression
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo ước tính được công bố bởi
GLOBOCAN, trên thế giới có khoảng
604.127 trường hợp ung thư cổ tử cung và
341.831 trường hợp tử vong do căn bệnh này
trong năm 2020 Hiện nay nhờ các chương
trình tiêm phòng vắc xin, sàng lọc ung thư, tỷ
lệ ung thư cổ tử cung đã giảm đáng kể nhưng
vẫn còn ở mức cao Hầu hết các carcinôm tế
bào gai ở cổ tử cung đều liên quan với HPV
Carcinôm tế bào gai liên quan đến HPV và
không liên quan HPV không thể được phân
biệt một cách đáng tin cậy dựa trên cơ sở
hình thái học đơn thuần Do đó, nhuộm miễn
dịch p16 và / hoặc xét nghiệm HPV được coi
là tiêu chí thiết yếu, bắt buộc để phân loại
Khác với carcinôm tế bào gai, carcinôm
tuyến liên quan đến HPV và không phụ
thuộc vào HPV ở cổ tử cung có thể được
phân biệt dựa trên hình thái đơn thuần P16
và / hoặc xét nghiệm HPV cần được thực
hiện khi các đặc điểm hình thái không cho
phép phân biệt chính xác P16 không chỉ là
dấu ấn đại diện của nhiễm HPV mà còn là
một gen ức chế khối u, điều chỉnh chu kỳ tế
bào bằng cách ức chế đặc biệt hoạt động của
cyclin D/CDK4/6 Biểu hiện P16 cho thấy
nhiễm HPV nguy cơ cao (HR-HPV) và tích
hợp bộ gen của virut với bộ gen của vật chủ
Theo WHO đánh giá biểu hiện p16 được
xem là một xét nghiệm đáng tin cậy để chỉ điểm cũng như đưa ra chiến lược điều trị phù hợp cho carcinôm cổ tử cung trong tương lai Carcinôm cổ tử cung liên quan HPV (có p16 dương tính mạnh, lan tỏa) tiên lượng tốt hơn carcinôm cổ tử cung không liên quan HPV (p16 âm hoặc dương tính yếu khu trú) [3]
Do đó chúng tôi chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu biểu hiện của p16 trong ung thư cổ tử cung” trên một bộ phận dân số Việt Nam với mục tiêu: (1) Khảo sát sự biểu hiện kiểu hình miễn dịch của dấu ấn p16 ở các tuýp mô bệnh học ung thư cổ tử cung và (2) mối liên quan giữa mức độ biểu hiện p16 với các đặc điểm giải phẫu bệnh của loại ung thư này
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
107 trường hợp được chẩn đoán ung thư
cổ tử cung tại bệnh viện Ung Bướu Hồ Chí Minh từ tháng 01/2021 đến 12/2021
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- U nguyên phát ở cổ tử cung
- Chẩn đoán xác định là ung thư cổ tử cung trên giải phẫu bệnh
- Có bệnh phẩm, khối nến, tiêu bản đủ tiêu chuẩn chẩn đoán phân loại mô bệnh học theo WHO năm 2020 và xếp độ mô học, khối vùi nến còn mô u đủ để thực hiện thêm hóa
mô miễn dịch (HMMD)/khảo sát thêm tiêu bản mô bệnh học
Tiêu chuẩn loại trừ
- Ca bệnh bị thất lạc thông tin lâm sàng
- Bệnh nhân ung thư đa cơ quan
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu
thuận tiện
Trang 3Các bước tiến hành: Thu thập thông tin:
Tuổi, vị trí tổn thương, kích thước tổn
thương từ phiếu gửi mẫu xét nghiệm khoa
Giải Phẫu Bệnh
Chuẩn bị mẫu mô: Bệnh phẩm sinh thiết
hoặc phẫu thuật được cố định trong formol
10% đệm trung tính, sau đó được xử lý mô,
vùi nến, nhuộm H&E và đọc bằng kính hiển
vi quang học Tất cả các mẫu nghiên cứu
được nhuộm hóa mô miễn dịch p16 bằng
máy nhuộm tự động BenchMark của
Ventana
Kháng thể được sử dụng
Kháng thể CIN tec® p16 Histology (clone
E6H4 của Roche) Mô chứng: mẫu mô
carcinôm tế bào gai cổ tử cung
Đánh giá biểu hiện p16 của ung thư biểu
mô cổ tử cung theo tiêu chuẩn LAST (Lower
Anogenital Squamous Terminology) và Sano
1998:
+ Âm tính (không biểu hiện)
+ Dương tính yếu, rải rác (<80% tế bào u
dương tính)
+ Dương tính mạnh, lan tỏa ở nhân và
bào tương (>80% tế bào u dương tính)
Tiêu chuẩn đánh giá dương tính liên quan
đến HPV là p16 phải bắt màu nhân, bào
tương lan tỏa ở hơn 80% tế bào khối u với
cường độ bắt màu mạnh [1], [7]
2.3 Xử lý số liệu: Dữ liệu thô được quản
lý và mã hóa bằng phần mềm Microsoft
Excel, phiên bản 16.52 Dữ liệu sau khi được
mã hóa được xử lý bằng phần mềm thống kê
SPSS 26
2.4 Vấn đề y đức: Nghiên cứu đã được
Hội đồng Đạo đức của Đại học Y Dược TP.HCM xét duyệt và thông qua số
69/HĐĐĐ-ĐHYD ngày 19/01/2022
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi gồm 107 trường hợp, trong đó 27 trường hợp là mẫu bấm sinh thiết cổ tử cung, 80 mẫu bệnh phẩm phẫu thuật Chúng tôi ghi nhận bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 24 tuổi, lớn nhất là 80 tuổi và tuổi trung bình là 51,3 ± 11 tuổi Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 40-59 tuổi (59,8%) Kích thước u trung bình 2,9 ± 1,1
cm, nhỏ nhất là 0,5cm, lớn nhất là 7cm Trong 107 trường hợp trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhóm carcinôm tế bào gai là cao nhất, chiếm 69,2%, tiếp đến là carcinôm tuyến chiếm 21,5%, carcinôm gai tuyến 4,7%, carcinôm thần kinh nội tiết chiếm 4,7%, loại khác 0% Mô bệnh học u có
8 trường hợp biệt hóa rõ, 63 trường hợp biệt hóa vừa và 31 trường hợp biệt hóa kém Trong 80 mẫu bệnh phẩm phẫu thuật có 10 trường hợp có di căn hạch, 70 trường hợp không có di căn hạch
3.2 Biểu hiện p16 ở các nhóm mô học
Trong 107 trường hợp nghiên cứu, p16
âm tính trong 3 trường hợp; dương tính yếu, khu trú trong 8 trường hợp; dương tính mạnh lan tỏa trong 96 trường hợp
Trang 4Hình 1 Các kiểu hình miễn dịch của p16 trong ung thư cổ tử cung
(từ trái qua phải: âm tính; dương tính yếu, khu trú; dương tính mạnh, lan tỏa)
Bảng 1 Biểu hiện p16 ở nhóm carcinôm tế bào gai
p16
Phép kiểm Fisher p = 0,313 > 0,05
Trong nhóm carcinôm tế bào gai có 1
trường hợp (1,4%) carcinôm tế bào gai sừng
hóa âm tính với p16; 4 trường hợp (5,4%)
carcinôm tế bào gai không sừng hóa và 1
trường hợp (1,4%) carcinôm tế bào gai sừng
hóa dương tính yếu, khu trú với p16 68
trường hợp còn lại (91,9%) gồm carcinôm tế
bào gai sừng hóa và tế bào gai không sừng
hóa dương tính mạnh, lan tỏa trên 80% với p16
Tỷ lệ carcinôm tế bào gai không sừng hóa (75,7%) gấp hơn 3 lần tỷ lệ carcinôm tế bào gai sừng hóa (24,3%) Sự khác biệt trong biểu hiện p16 ở nhóm carcinôm không sừng hóa và sừng hóa là không có ý nghĩa thống
kê (p = 0,313 > 0.05)
Bảng 2 Biểu hiện p16 trong nhóm carcinôm tuyến
Loại mô học Tuyến
thông thường
Tuyến ruột
Tuyến chế nhầy đa tầng
Tuyến tế bào sáng
Tuyến dạng dạ dày
Tuyến dạng nội mạc Tổng
p16
Dương yếu,
Dương mạnh,
Phép kiểm Fisher p = 0,011 < 0,05
Có 4,3% carcinôm tuyến âm tính với
p16; 8,7% dương tính yếu, khu trú; 87%
dương tính mạnh, lan tỏa Carcinôm tế bào
sáng có 1 trường hợp (4,3%) âm tính và 1 trường hợp (4,3%) dương tính mạnh, lan tỏa với p16 Các trường hợp carcinôm tuyến
Trang 5dạng dạ dày (4,3%) và tuyến dạng nội mạc
(4,3%) đều dương tính yếu, khu trú với p16
100% carcinôm tuyến thông thường,
carcinôm tuyến chế nhầy đa tầng, carcinôm
tuyến dạng ruột dương tính mạnh, lan tỏa với
p16 Biểu hiện p16 ở các phân nhóm mô học
carcinôm tuyến khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p = 0,011 < 0,05)
Biểu hiện p16 ở nhóm carcinôm gai
tuyến
100% trường hợp carcinôm gai tuyến dương tính mạnh, lan tỏa với p16
Biểu hiện p16 ở nhóm carcinôm thần kinh nội tiết
60% Carcinôm thần kinh nội tiết biểu hiện dương tính mạnh, lan tỏa với p16, 20% biểu hiện dương tính yếu, khu trú, 20% âm tính
Bảng 3 Phân bố kiểu hình miễn dịch p16 và tuổi, độ biệt hóa, tình trạng xâm nhập mạch máu, mạch lympho, di căn hạch
Đặc điểm mạnh, lan tỏa P16 biểu hiện
P16 dương tính yếu, khu trú hoặc âm tính
Giá trị p*
Nhóm tuổi
0,267
Độ mô học
0,369
Xâm nhập
mạch máu,
mạch lympho
0,581
Ghi chú: *Phép kiểm Fisher, độ tin cậy 95%, p<0,05 có ý nghĩa
Biểu hiện kiểu hình miễn dịch p16 không có mối liên quan với tuổi mắc bệnh, mức độ biệt hóa, tình trạng xâm nhập mạch máu, mạch lympho, di căn hạch, nhưng có liên quan với kích thước u
IV BÀN LUẬN
p16 là một protein được cho là nằm trong
nhân tế bào Sự hiện diện của p16 trong bào
tương có thể là kết quả từ một thay đổi trong
dịch mã hay đơn giản hơn là sự tạo sản phẩm
protein quá mức nên nó buộc phải chuyển
vào bào tương P16 biểu hiện mạnh, lan tỏa
trong cả nhân và bào tương của hầu hết HSIL
(tổn thương trong biểu mô gai độ cao) và ung
thư cổ tử cung xâm lấn cũng như vài tổn
thương của LSIL (tổn thương trong biểu mô gai độ thấp) và ngược lại thường không biểu hiện với tổn thương không u [4], [5] Tuy nhiên cũng có một tỷ lệ nhỏ ung thư cổ tử cung không biểu hiện hoặc biểu hiện yếu khu trú với p16, những trường hợp này được cho
là không liên quan HPV, mà có thể do các nguyên nhân khác, trong đó có hội chứng Peutz Jeghers HMMD dấu ấn p16 là một xét nghiệm gián tiếp hiệu quả đối với nhiễm
Trang 6HR-HPV Khoảng 95% carcinôm tuyến liên quan
HPV, 99% carcinôm tế bào gai liên quan
HPV biểu hiện dương tính mạnh, lan tỏa với
p16 (biểu hiện quá mức) do kết quả của sự
điều hòa protein E7 của HPV với RB1 Các
trường hợp âm tính p16 hiếm gặp, có thể
phát sinh từ sự bất hoạt metyl hóa p16 có thể
không biểu hiện khi sử dụng các khối mô cũ
hoặc được bảo quản kém HR-HPV mRNA
lai tại chỗ (mRNA), nhận biết 18 loại
HR-HPV, độ nhạy xấp xỉ p16 nhưng đặc hiệu
hơn; xét nghiệm này vẫn chưa được phổ biến
rộng rãi [3]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 18
trường hợp carcinôm tế bào gai sừng hóa có
2 trường hợp âm tính hoặc dương tính yếu,
khu trú với p16 (chiếm 11.1%), trong 56
trường hợp carcinôm tế bào gai không sừng
hóa có 4 trường hợp dương tính yếu, khu trú
với p16 (chiếm 7,1%) Tỷ lệ biểu hiện yếu,
khu trú hoặc không biểu hiện dấu ấn p16 ở
nhóm carcinôm tế bào gai sừng hóa cao hơn
nhóm carcinôm tế bào gai không sừng hóa
tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở 2 nhóm này trong nghiên cứu của
chúng tôi (p>0,05 theo kiểm định Fisher)
Theo WHO 2020, cacinôm tế bào gai không
sừng hóa và dạng đáy thường biểu hiện kiểu
hình miễn dịch liên quan HPV, carcinôm tế
bào gai không liên quan HPV thường là loại
sừng hóa [3] Tỷ lệ carcinôm tế bào gai âm
tính với p16 trong nghiên cứu chúng tôi là
1,4%, dương tính yếu, khu trú với p16 là
6,8%, dương tính mạnh, lan tỏa là 91,9%
Theo nghiên cứu của Kalyani và cộng sự
89,3% carcinôm tế bào gai dương tính mạnh,
lan tỏa với p16, 6,6% dương yếu, khu trú,
4% âm tính [6] Tỷ lệ này cũng khá tương
đồng với nghiên cứu của chúng tôi và nghiên
cứu của Sarwath và cộng sự Trong nghiên
cứu của Sarwath và cộng sự 90,1% carcinôm
tế bào gai dương tính mạnh, lan tỏa với p16
[8]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm
carcinôm tuyến, tỷ lệ dương tính mạnh, lan
tỏa với p16 là 87%, dương tính yếu, khu trú
là 8,7% và âm tính là 4,3% Trong nhóm dương tính mạnh lan tỏa, chủ yếu là carcinôm tuyến tuýp thông thường (73,9%), chỉ có 1 trường hợp carcinôm tuyến tuýp tế bào sáng dương tính mạnh, lan tỏa với p16 (chiếm 4,3%) Các trường hợp âm tính và dương tính yếu, khu trú với p16 gồm carcinôm tuyến dạng dạ dày, carcinôm tuyến
tế bào sáng và carcinôm tuyến dạng nội mạc
Có sự khác biệt về biểu hiện dấu ấn p16 trong các nhóm carcinôm tuyến trong nghiên cứu của chúng tôi (p<0,05 theo kiểm định Fisher) Nghiên cứu của Sarwath và cộng sự 76,9% carcinôm tuyến biểu hiện mạnh p16; 23,1% biểu hiện yếu, khu trú; không biểu hiện p16 [8] Tỷ lệ carcinôm tuyến biểu hiện mạnh, lan tỏa p16 trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Sarwath và cộng sự Carcinôm tế bào sáng thuộc nhóm không liên quan HPV theo WHO, tuy nhiên vẫn có thể biểu hiện dương tính mạnh, lan tỏa với p16 Các loại carcinôm tuyến khác trong nhóm không liên quan HPV theo phân loại WHO 2020 như carcinôm tuyến dạng dạ dày, carcinôm tuyến dạng nội mạc tử cung, carcinôm tuyến dạng trung thận hầu hết âm tính hoặc dương tính yếu, khu trú với dấu ấn p16 [3]
Về phân bố kiểu hình miễn dịch p16 và tuổi, độ biệt hóa, tình trạng di căn hạch, trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là độ tuổi tiền mãn kinh,
tỷ lệ mất biểu hiện hoặc biểu hiện yếu, khu trú với p16 cũng cao hơn các nhóm tuổi còn lại, tuy nhiên sự khác biệt về biểu hiện p16 giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống
kê Tương tự với độ biệt hóa và tình trạng xâm nhập mạch máu, mạch lympho, di căn hạch, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê về kiểu hình miễn dịch p16 ở các nhóm độ
mô học và tình trạng có di căn hạch, điều này khá tương đồng với nghiên cứu của Kalyani
R và cộng sự (2020), Fu HC và cộng sự (2018) [2], [6] Trong nghiên cứu của chúng
Trang 7tôi, tỷ lệ p16 mất biểu hiện, dương tính yếu,
khu trú ở nhóm u có kích thước trên 4 cm
cao hơn nhóm u có kích thước nhỏ hơn 4cm
và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
(p<0,05 theo phép kiểm Fisher), khác so với
nghiên cứu của Kalyani R và cộng sự (2020),
Fu HC và cộng sự (2018), Sarwath và cộng
sự, điều này có thể do sự khác biệt về dịch tễ
học
Theo WHO 2020, các nghiên cứu của
Kalyani R và cộng sự (2020), Fu HC và cộng
sự (2018) thì ung thư cổ tử cung với p16 biểu
hiện mạnh, lan tỏa thì tiên lượng sống còn và
sống còn không bệnh tốt [2], [3], [6] Nghiên
cứu của chúng tôi còn hạn chế là nghiên cứu
trong thời gian ngắn, chưa theo dõi tiên
lượng bệnh, các yếu tố thời gian sống còn
toàn bộ, thời gian sống còn không bệnh, mức
độ đáp ứng điều trị,…
V KẾT LUẬN
p16 là dấu ấn HMMD có độ nhạy, độ đặc
hiệu cao, là phương pháp gián tiếp, có thể đại
diện để phân loại ung thư cổ tử cung liên
quan hay không liên quan HPV khi phòng
xét nghiệm chưa đủ điều kiện làm các xét
nghiệm như lai tại chỗ, PCR p16 dương tính
mạnh, lan tỏa chiếm tỷ lệ cao trong ung thư
cổ tử cung p16 nên được thực hiện ở tất cả
các trường hợp carcinôm tế bào gai và các
trường hợp cần thiết carcinôm tuyến cổ tử
cung Carcinôm cổ tử cung nên được phân
loại liên quan HPV (p16 dương mạnh, lan
tỏa) hay không liên quan HPV (p16 âm tính
hoặc dương yếu, khu trú) theo WHO 2020
LỜI CẢM TẠ:
Bài báo được sự hỗ trợ kinh phí đề tài
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Đại học
Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Nhóm tác
giả trân trọng cảm ơn Đại học Y Dược Thành
phố Hồ Chí Minh đã cấp kinh phí thực hiện
đề tài theo Hợp đồng số 06/2022/HĐ-ĐHYD
ngày 18/4/2022
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Standardization Project, Biomarkers in
HPV-Associated Lower Anogenital Squamous Lesions, 2012
2 Fu HC, Chuang IC, Yang YC, Chuang PC,et al, Low P16 INK4A Expression Associated with High Expression of Cancer Stem Cell Markers Predicts Poor Prognosis
in Cervical Cancer after Radiotherapy Int J Mol Sci, 2018 Aug 27;19(9):2541
3 Herrington S WHO Classification of
Tumours Female Genital Tumours, International Agency for Research on Cancer, 2020: 335-389
4 Ishikawa M., Nakayama K., Nakamura
K et al P16INK4A expression might be associated with a favorable prognosis for cervical adenocarcinoma via dysregulation of
the RB pathway, 2021 Sci Rep 11, 18236
5 Jedpiyawongse A, Homcha-em P, Karalak
overexpression of p16 protein associated with cervical cancer in Thailand Asian Pac J Cancer Prev, 2008 Oct-Dec;9(4):625-30 PMID: 19256750
6 Kalyani R, Raghuveer CV, & Sheela SR
Expression of P16 biomarker in squamous cell carcinoma of uterine cervix and its association with clinico-pathological parameters: A cross-sectional study Biomedical Research and Therapy, 2020; 7(9), 3954-3961
7 Sano T., Oyama T., Kashiwabara K., Fukuda T., Nakajima T Expression status
of p16 protein is associated with human papillomavirus oncogenic potential in cervical and genital lesions Am J Pathol
1998, 153 (6): 8-1741
8 Sarwath, H., Bansal, D., Husain, N.E et
al Introduction of p16INK4a as a surrogate biomarker for HPV in women with invasive cervical cancer in Sudan Infect Agents
Cancer, 2017;12(50)