1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tụ mủ dưới màng cứng, biến chứng nặng của viêm xoang: Nhân một ca lâm sàng và nhìn lại y văn

8 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tụ mủ dưới màng cứng, biến chứng nặng của viêm xoang: Nhân một ca lâm sàng và nhìn lại y văn
Tác giả Lê Văn Ngân, Nguyễn Đức Anh
Trường học Bệnh viện E
Chuyên ngành Chuyên ngành Phẫu thuật Thần kinh
Thể loại Báo cáo ca bệnh và tổng quan nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 655,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Tụ mủ dưới màng cứng, biến chứng nặng của viêm xoang báo cáo một trường hợp tụ mủ dưới màng cứng thứ phát sau viêm xoang sàng, BN đã điều trị viêm xoang trước đó nhưng không đỡ, bệnh diễn biến nặng, giảm tri giác GCS 10đ, CHT cho thấy tụ mủ dưới màng cứng bán cầu bên phải, đè đẩy đường giữa 12mm. BN đã được phẫu thuật lấy mủ, giải tỏa não và điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ.

Trang 1

TỤ MỦ DƯỚI MÀNG CỨNG, BIẾN CHỨNG NẶNG CỦA VIÊM XOANG:

NHÂN MỘT CA LÂM SÀNG VÀ NHÌN LẠI Y VĂN

Lê Văn Ngân 1 , Nguyễn Đức Anh 1

TÓM TẮT 87

Tụ mủ dưới màng cứng là tình trạng nhiễm

trùng nặng của hệ thần kinh trung ương, tỷ lệ tử

vong rất cao nếu không phát hiện sớm và điều trị

đúng Chúng tôi báo cáo một trường hợp tụ mủ

dưới màng cứng thứ phát sau viêm xoang sàng,

BN đã điều trị viêm xoang trước đó nhưng không

đỡ, bệnh diễn biến nặng, giảm tri giác GCS 10đ,

CHT cho thấy tụ mủ dưới màng cứng bán cầu

bên phải, đè đẩy đường giữa 12mm BN đã được

phẫu thuật lấy mủ, giải tỏa não và điều trị kháng

sinh theo kháng sinh đồ Mục đích: Dựa trên kết

quả điều trị, nhìn lại y văn để tìm phương pháp

điều trị phù hợp cho bệnh lý tụ mủ dưới màng

cứng và đánh giá tiên lượng

SUMMARY

SUBDURAL EMPYEMA, A SEVERE

COMPLICATION OF SINUSITIS: A

CASE REPORT AND REVIEW OF

LITERATURES

Subdural empyema is a serious infection of

the central nervous system, with a very high

morbidity and mortality rate if not detected early

and treated properly We report a case of

1

Khoa PTTK, Bệnh viện E

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Đức Anh

Email: bsanhnd@gmail.com

Ngày nhận bài: 2.10.2022

Ngày phản biện khoa học: 20.10.2022

subdural empyema accumulated secondary to ethmoid sinusitis, the sinusitis had been treated several days before but did not improve, the disease progressed, the patient got unconsciousness, GCS 10 points, MRI revealed a subdural empyema, the midline had shifted 12mm The patient underwent abscess evacuation surgery and treated based on antibiotic map

Objective: Based on treatment results, reviewing

the literatures to determine appropriate treatment for subdural empyema and investigating the prognosis

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tụ mủ dưới màng cứng (subdural empyema) chiếm khoảng 15-20% các nhiễm trùng của hệ thần kinh trung ương [1], là tình trạng mủ nằm giữa màng cứng và màng nhện, có thể ở tủy sống nhưng chủ yếu gặp ở não [1] Cùng với sự ra đời của kháng sinh từ những năm 1944, tỷ lệ tử vong do tụ mủ dưới màng cứng từ 100% đã giảm xuống đến 10-20% [2], tuy nhiên tỷ lệ di chứng sau điều trị vẫn còn cao, từ 80 – 90% [1]

Tụ mủ dưới màng cứng ngày càng ít gặp

do việc sử dụng kháng sinh ngày rộng rãi Hiện chưa có các nghiên cứu tổng quan hệ thống hay phân tích gộp về tụ mủ dưới màng cứng, mà chỉ có các báo cáo ca bệnh và loạt

ca bệnh trong nhiều năm [1] [3] [4]

Trang 2

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

Nguyên nhân hay gặp nhất của tụ mủ

dưới màng cứng là sau các viêm mũi xoang,

viêm tai giữa (80%), hoặc sau chấn thương

sọ não/phẫu thuật sọ não (20%) [5] [4] [6]

Bệnh thường phổ biến hơn ở nam giới với tỷ

lệ nam, nữ tương ứng là 62% và 38%, và

thường thấy ở người trẻ [6]

Tác nhân vi sinh vật gây tụ mủ dưới

màng cứng bao gồm cả vi khuẩn gram dương

lẫn gram âm, liên quan đến đường vào: Sau

viêm xoang hoặc viêm tai giữa thường gặp

các chủng phế cầu, sau chấn thương có thể

gặp tụ cầu (với hình thái tổn thương đa cơ

quan), sau phẫu thuật sọ não có thể gặp trực

khuẩn mủ xanh, tụ cầu da Samonella có thể

gặp ở người bệnh suy giảm miễn dịch Hiếm

gặp hơn là tụ mủ dưới màng cứng do lao [5]

[3] [7]

Về mặt lâm sàng, các dấu hiệu của tụ mủ

dưới màng cứng không điển hình, đó là sự

kết hợp giữa hội chứng nhiễm trùng và tăng

áp lực nội sọ Cụ thể thường gặp nhất là sốt,

đau đầu và giảm tri giác Kèm theo có thể có

dấu hiệu màng não ở trẻ em, và hoặc các

biểu hiện thần kinh khu trú do tổn thương

vùng vỏ não bị viêm hay bán cầu đại não bị

khối mủ chèn ép [2]

Về hình ảnh học: Chụp cắt lớp vi tính có

tiêm thuốc cản quang, cộng hưởng từ có tiêm

thuốc đối quang từ là các lựa chọn tốt nhất

Có thể thấy hình ảnh điển hình là hình thấu

kính lõm 1 mặt hoặc hình lưỡi liềm giảm tỷ

trọng trên CLVT hoặc tăng tín hiệu trên T2,

tăng khuếch tán trên xung Diffusion [2] [8]

II CA LÂM SÀNG

Đây là một bệnh nhân nam 24 tuổi, vào viện vì sốt và giảm tri giác Trước đó 3 tuần

BN cũng có biểu hiện sốt và đau đầu, khám ở một bệnh viện khác được chẩn đoán viêm xoang hàm phải, điều trị kháng sinh 1 tuần Sau ra viện khoảng 10 ngày BN sốt trở lại, kèm theo giảm tri giác, lơ mơ, lú lẫn, BN nhập viện E trong tình trạng lơ mơ, GCS 12đ, sốt cao 39o, cứng gáy, có dấu hiệu của viêm màng não BN được lấy DNT ở lưng xét nghiệm Glucose 6,05, Protein 0,13g/l và điều trị theo hướng viêm màng não nhưng đáp ứng rất kém Sau 1 ngày điều trị, tri giác

BN giảm, GCS 10đ, thở máy hỗ trợ, đồng tử hai bên đều 2mm, có phản xạ ánh sáng, có dấu hiệu thần kinh khư trú Phim CLVT cho thấy khối dịch dưới màng cứng bán cầu phải

có hình lưỡi liềm, giảm tỷ trọng so với nhu

mô não, rất giống với máu tụ mạn tính Nhưng CHT lại cho thấy khối dịch dưới màng cứng bán cầu phải, tăng tín hiệu trên T2w, giảm trên T2 FLAIR, hạn chế khuếch tán trên DWI, có hiệu ứng khối, đường giữa

bị đẩy lệch sang trái 12mm, màng não bán cầu phải ngấm thuốc mạnh Hình ảnh này cho thấy tổn thương viêm trong khối dịch bán cầu phải Kèm theo đó, CHT cũng cho thấy ổ viêm của xoang sàng sau phải thông lên trán và ổ mủ trong não Do vậy, chứng tôi nhanh chóng xác định đây là tụ mủ và tiến hành mổ cấp cứu ngay cho BN

Trang 3

Hình 1: CHT trước mổ cho thấy ổ dịch dưới màng cứng bán cầu phải

(A), (B) phim T1Gd cho thấy màng cứng

ngấm thuốc mạnh, (C) phim T2 FLAIR khối

dịch giảm tín hiệu, (D) phim ADC tăng tín

hiệu, (E) (F) phim T2w đứng dọc cho thấy

đường thông của viêm xoang sàng sau lên

não

Về phẫu thuật, BN đã được mở xương sọ

thái dương đỉnh phải rộng rãi với kích thước

10*10cm, sau khi mở màng cứng, tổ chức

mủ màu xanh vàng, thể tích khoảng 100ml trào ra, tổ chức mủ được gửi cấy vi khuẩn Sau khi lấy hết tổ chức mủ và bơm rửa bề măt vỏ não bằng dung dịch NaCl 0.9%, 1 ống dẫn lưu được đăt ở dưới màng cứng ra ngoài, mảnh xương không ghép lại để giải tỏa não Tuy nhiên, kết quả nuôi cấy mủ không tìm thấy vi khuẩn hay nấm Xét nghiệm đờm có nấm Candida Tropicalis

Trang 4

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

Hình 2: Hình ảnh trong mổ sau mở màng cứng và dịch mủ sau hút

Sau mổ 2 ngày tri giác BN cải thiện hơn,

GCS 12đ, cấy mủ ổ mổ không thấy vi khuẩn

hay nấm, cấy máu, nước tiểu, dịch não tủy

cũng đều âm tính, duy chỉ có đờm có

Candida Tropicalis Tuy nhiên tình trạng

nhiễm trùng vẫn còn rất nặng dù đang được

điều trị kháng sinh mạnh liều cao, BN sốt

cao liên tục 38.5 oC, và nhiều cơn co giật cục

bộ toàn thể hóa Bệnh tiến triển nặng, dẫn

đến nhiễm khuẩn huyết với biểu hiện nhiễm

trùng ở nhiều nơi như viêm phổi, viêm da

toàn thân Cấy máu sau 1 tuần thì dương tính với nấm Candida Tropicalis Nội soi kiểm tra mũi họng cũng thấy tình trạng viêm phù nề họng miệng, có chảy dịch mủ qua khe cuốn mũi BN tiếp tục được điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ kháng nấm nhóm… Sau gần 2 tháng tình trạng nhiễm trùng của BN mới dần ổn định, BN tỉnh táo, không sốt, có thể tự thở qua mở khí quản, nhưng cấy máu vẫn còn dương tính với nấm Candida Tropicalis

Hình 3: (A) Hình ảnh viêm da và (B) viêm, phù nề, dịch mủ chảy qua khe cuốn mũi khi soi mũi họng

Trang 5

Hình 4: CLVT sau mổ 2 ngày cho thấy não đỡ phù, hiệu ứng khối giảm

nhưng còn phần mủ sau ổ mắt phải

Hình 5: CHT Sau mổ 2 tháng cho thấy không còn tổ chức mủ

dưới màng cứng, không còn viêm xoang sàng

Trang 6

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

III BÀN LUẬN

Tụ mủ dưới màng cứng là bệnh lý nhiễm

trùng nặng của hệ TK trung ương, ít gặp hơn

rất nhiều so với áp xe não Đây là một tối cấp

cứu trong ngoại khoa Do vậy cần nhanh

chóng chẩn đoán và điều trị đúng Với

trường hợp này, ngay sau khi được chẩn

đoán xác định tụ mủ dưới màng cứng, chúng

tôi đã tiến hành mở sọ giải tỏa não, xử lý ổ

mủ và đặt 1 dẫn lưu dưới màng cứng cho

bệnh nhân Nhờ vậy mà tổn thương não sau

mổ ổn định và không tiến triển nặng thêm dù

ổ nhiễm trùng nguyên phát vẫn chưa được xử

lý triệt để

Việc lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật tụ mủ

DMC, như khoan sọ 1 lỗ dẫn lưu mủ hay mở

volet sọ lấy mủ hay mở sọ lấy mủ kèm giải

tỏa não, hiện vẫn còn nhiều tranh cãi Khoan

sọ dẫn lưu đơn thuần có thể được áp dụng

trong trường hợp tụ mủ mới phát sinh, khi

mà tổ chức mủ còn lỏng lẻo hơn [3] Xu

hướng hiện nay cho rằng mở volet sọ để lấy

bỏ tổ chức cũng như dẫn lưu dịch mủ có

nhiều ưu thế hơn: tỷ lệ tử vong trong mở sọ

(có giải tỏa) là 8.4%, đặt lại xương là 11.5%,

còn khoan sọ dẫn lưu đơn thuần là 23.3%

[6] Ngoài ra khoan sọ dẫn lưu hay đặt lại

xương sau phẫu thuật có nguy cơ cần phải

phẫu thuật các lần sau nếu tụ mủ tái phát, và

cũng khiến cho kết cục lâm sàng của bệnh

nhân tệ hơn [9] Báo cáo của Madhugiri và cs

năm 2011 sau khi tổng kết 231 bệnh nhân có

áp xe nội sọ cho thấy: 65 BN tụ mủ DMC

vùng trên lều, 27 BN tụ mủ DMC dưới lều

có tỷ lệ tử vong tương ứng là 10.8% và 3.7%

[10] Tỷ lệ tử vong thấp hơn ở nhóm tụ mủ

DMC dưới lều cho thấy tầm quan trọng của

việc phẫu thuật sớm, kiểm soát được tình

trạng giãn não thất cùng với một phác đồ

kháng sinh phù hợp [10]

Nguồn gốc của ổ mủ dưới màng cứng có thể từ ổ viêm của các xoang cạnh mũi (chiếm

tỷ lệ từ 40%-80%) [4] [11] [12] [13], đặc biệt

là viêm tai xoang chũm (chiếm 10-20%), hoặc sau chấn thương sọ não, sau phẫu thuật

sọ não, sau phẫu thuật nội soi mũi xoang, cắt polyp trong xoang, các phẫu thuật qua xoang sàng, hoặc máu tụ dưới màng cứng nhiễm khuẩn, hoặc hiếm gặp hơn là nhiễm trùng thứ phát từ nơi khác mà thường gặp nhất là phổi [4] [6] Cấy mủ dưới màng cứng là cách tốt nhất để xác định tác nhân gây bệnh và có phác đồ điều trị đúng Tuy nhiên, trong trường hợp này cấy mủ cho kết quả âm tính với cả vi khuẩn Gram, Gram dương và nấm

Y văn cũng ghi nhận tỷ lệ âm tính giả chiếm

tỷ lệ 7-53% Điều này có thể giải thích được

là do việc sử dụng kháng sinh thường xuyên trước khi lấy mủ nuôi cấy [14]

Trên CHT, do có đường thông từ ổ viêm

ở xoang hàm và xoang sàng phải lên trán trần

ổ mắt bên phải nên nguyên nhân có thể nghĩ đến nhiều nhất là thứ phát sau viêm xoang cạnh mũi Mặc dù tình trạng viêm xoang này

đã được chẩn đoán và điều trị với kháng sinh trước đó 2 tuần, nhưng bệnh không giảm, tiến triển thành tụ mủ dưới màng cứng rất nhanh và gây ảnh hưởng đến tri giác khi bệnh nhân nhập viện Câu hỏi đặt ra là: liệu phác đồ điều trị viêm xoang đã thực sự phù hợp hay chưa, và có cần thiết phải phẫu thuật

mở xoang không?

Về tác nhân gây tụ mủ, có khoảng 18% trường hợp không xác định được tác nhân vi sinh vật [6] Do tụ mủ có liên quan đến viêm xoang sàng nên tác nhân vi sinh được định hướng đến là những tác nhân gây bệnh phổ biến của các xoang quanh mũi, như phế cầu,

tụ cầu… Mặc dù cấy đờm có nấm Candida Tropicalis, nhưng tỷ lệ dương tính giả rất cao nên BN đã được điều trị bao vây bằng các

Trang 7

kháng sinh phổ rộng, gồm imipenem,

levofloxacin và linezolide Tuy nhiên, tình

trạng nhiễm trùng của BN không thuyên

giảm, thậm chí tiến triển với nhiều nốt mụn

mủ dưới da, giống như viêm da do tụ cầu,

viêm phổi Kết quả cấy máu sau mổ 1 tuần

mới phát hiện nấm Candida tropicalis trong

máu Như vậy, nhiều khả năng đây là tác

nhân gây bệnh chính của viêm xoang sàng,

viêm phổi và tụ mủ trên não, dù cấy mủ trên

não không tìm thấy nấm và nó cũng giải

thích cho việc BN đã được điều trị viêm

xoang trước đó 2 tuần nhưng không đỡ, thậm

chí tình trạng viêm còn nặng hơn, dẫn đến tụ

mủ trong não

Nấm Candida tropicalis là tác nhân

gây bệnh ở người phổ biến thứ 2 trong họ

Candida (chỉ sau C albican) [15] Bình

thường, C tropicalis là vi nấm cộng sinh trên

da, mũi miệng, đường hô hấp và tiêu hóa trên

của người, chỉ gây bệnh khi đối tượng bị suy

giảm miễn dịch như bệnh nhân HIV, ung thư,

dùng corticoid kéo dài… [16] Tỷ lệ tử vong

của các bệnh nhiễm trùng xâm nhập và lan

tỏa do C Tropicalis gây ra rất cao, dao động

từ 40% đến 70% [17] C tropicalis khi vào

trong máu sẽ gây nhiễm trùng hệ thống rất

dai dẳng và làm kéo dài thời gian nằm hồi

sức cũng như thời gian nằm viện điều trị nói

chung của bệnh nhân [16] Điều này rất phù

hợp với bệnh cảnh bệnh nhân của chúng tôi

với tình trạng tổn thương não do viêm não,

động kinh dai dẳng, thời gian nằm hồi sức

thở máy kéo dài (2 tháng), cấy máu nhiều lần

vẫn cho kết quả dương tính với C tropicalis

dù đã được điều trị theo kháng sinh đồ

(Amphotericin B, Fluconazon) Đây là một

trường hợp tụ mủ dưới màng cứng khá hiếm

gặp do nguyên nhân nhiễm nấm hệ thống có

thể phối hợp với các vi khuẩn khác Hiện nay

chưa có báo cáo nào về tụ mủ dưới màng

cứng với tác nhân C tropicalis như bệnh nhân này, do đó chúng tôi quyết định điều trị với phác đồ như nhiễm nấm máu cho kết quả khả quan Sau 2 tháng điều trị, dù cấy máu vẫn còn nấm, nhưng tình trạng nhiễm trùng

đã giảm đáng kể, CHT nền sọ cũng cho thấy tình trạng viêm xoang sàng đã giảm, điều trị viêm có đáp ứng khá tốt với thuốc kháng nấm, BN không cần thiết phải can thiệp ngoại khoa viêm xoang Mặc dù có một số cách để điều trị các loại nhiễm trùng C Tropicalis khác nhau, nhưng cách tốt nhất để cải thiện kết quả điều trị là cải thiện hệ thống miễn dịch của vật chủ [16]

IV KẾT LUẬN

Tụ mủ DMC do nấm Candida tropicalis

là bệnh lý rất hiếm gặp, tiên lượng nặng, nguy cơ tử vong rất cao, cần được phát hiện sớm và điều trị tích cực Thành công trong điều trị ca bệnh giúp ủng hộ phương pháp

mở sọ giải tỏa não và dẫn lưu dịch mủ trong bệnh lý tụ mủ dưới màng cứng nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ tử vong cũng như tỷ lệ di chứng ở những bệnh nhân này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 French H, Schaefer N, Keijzers G, Barison

D, Olson S, "Intracranial Subdural Empyema: A 10-Year Case Series," Ochsner

J, vol 14, no 2, p 188, 2014

2 Tunkel AR, "Subdural Empyema, Epidural

Abscess, and Suppurative Intracranial Thrombophlebitis," in Principles and Practice

of Infectious Diseases (Eighth Edition)., W.B Saunders

3 Çayli SR, Önal Ça, Koçak A, Onmusş SH, Tekiner A, "An unusual presentation of

neurotuberculosis: subdural empyema: Case report," J Neurosurg, vol 94, no 6, pp

988-991, 2001

Trang 8

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 521 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

4 Dill SR, Cobbs CG, McDonald CK,

"Subdural Empyema: Analysis of 32 Cases

and Review," Clin Infect Dis, vol 20, no 2,

pp 372-386, 1995

5 Greenlee JE, "Subdural Empyema, "Curr

Treat Options Neurol, vol 5, no 1, pp

13-22, 2003

6 Nathoo N, Nadvi SS, van Dellen JR,

Gouws E, "Intracranial subdural empyemas

in the era of computed tomography: a review

of 699 cases," Neurosurgery, vol 44, no 3,

pp 529-535, 1999

7 "Subdural Empyema: Background,

Pathophysiology, Epidemiology," 12

September 2022 [Online] Available:

https://emedicine.medscape.com/article/1168

415-overview [Accessed 29 September

2022]

8 Roos KL, "Subdural Empyema," in

Encyclopedia of the Neurological Sciences

(Second Edition), Academic Press, 2014, pp

335-336

9 Mat Nayan SA, Mohd Haspani MS, Abd

Latiff AZ, Abdullah JM, Abdullah S,

"Two surgical methods used in 90 patients

with intracranial subdural empyema," Journal

of Clinical Neuroscience, vol 16, no 12, pp

1567-1571, 2009

10 Madhugiri VS, Sastri BVS, Srikantha U,

et al, "Focal intradural brain infections in

children: an analysis of management and

outcome," Pediatr Neurosurg, vol 47, no 2,

pp 113-124, 2011

11 Coonrod JD, Dans PE, "Subdural empyema," Am J Med, vol 53, no 1, pp

85-91, 1972

12 Silverberg AL, DiNubile MJ, "Subdural

empyema and cranial epidural abscess," Med Clin North Am, vol 69, no 2, pp 361-374,

1985

13 Kaufman DM, Miller MH, Steigbigel NH,

"Subdural empyema: analysis of 17 recent cases and review of the literature," Medicine (Baltimore), vol 54, no 6, pp 485-498,

1975

14 Osborn MK, Steinberg JP, "Subdural

empyema and other suppurative complications of paranasal sinusitis," Lancet Infect Dis, vol 7, no 1, pp 62-67, 2007

15 Kothavade RJ, Kura MM, Valand AG, Panthaki MH, "Candida tropicalis: its

prevalence, pathogenicity and increasing resistance to fluconazole," Journal of Medical Microbiology, vol 59, no 8, pp 873-880, 2010

16 Kontoyiannis, "Risk Factors for Candida

tropicalis fungemia in patients with cancer," Clin Infect Dis, vol 33, no 10, pp

1676-1681, 2001

17 Chai LY; Denning DW; Warn P, "Candida

tropicalis in human disease," Crit Rev Microbiol, vol 26, no 4, pp 282-298, 2010

Ngày đăng: 09/01/2023, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm