1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phù não ác tính sau mổ tạo hình hộp sọ: Ca lâm sàng và tổng hợp một số ca lâm sàng đã báo cáo trên thế giới

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phù não ác tính sau mổ tạo hình hộp sọ: Ca lâm sàng và tổng hợp một số ca lâm sàng đã báo cáo trên thế giới
Tác giả Vũ Ngọc Anh, Dương Trung Kiên
Trường học Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Chuyên ngành Y học thần kinh
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 553,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Phù não ác tính sau mổ tạo hình hộp sọ: Ca lâm sàng và tổng hợp một số ca lâm sàng đã báo cáo trên thế giới báo cáo 1 ca lâm sàng. Và, tìm kiếm trên PubMed và Scopus tuân theo nguyên tắc PRISMA (Các mục báo cáo ưu tiên cho đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp) được thực hiện để thu thập các nghiên cứu có báo cáo bệnh nhân mắc MBSC. Thông tin tổng hợp được phân tích trong những trường hợp này để mô tả các đặc điểm và xác định các yếu tố rủi ro đối với MBSC.

Trang 1

PHÙ NÃO ÁC TÍNH SAU MỔ TẠO HÌNH HỘP SỌ: CA LÂM SÀNG

VÀ TỔNG HỢP MỘT SỐ CA LÂM SÀNG ĐÃ BÁO CÁO TRÊN THẾ GIỚI

Vũ Ngọc Anh 1 , Dương Trung Kiên 1

TÓM TẮT 89

Đặt vấn đề:

Mặc dù tạo hình hộp sọ là một phẫu thuật

phổ biến, nhưng nó có thể gây ra nhiều biến

chứng Phù não ác tính sau tạo hình hộp sọ

(MBSC) là một biến chứng bất thường và hiếm

gặp nhưng đã được báo cáo thường xuyên hơn

trong những năm gần đây Hầu hết thông tin hiện

có về tình trạng này là suy đoán và nguyên nhân

vẫn chưa rõ ràng

Phương pháp nghiên cứu:

Chúng tôi báo cáo 1 ca lâm sàng Và, tìm

kiếm trên PubMed và Scopus tuân theo nguyên

tắc PRISMA (Các mục báo cáo ưu tiên cho đánh

giá hệ thống và phân tích tổng hợp) được thực

hiện để thu thập các nghiên cứu có báo cáo bệnh

nhân mắc MBSC Thông tin tổng hợp được phân

tích trong những trường hợp này để mô tả các

đặc điểm và xác định các yếu tố rủi ro đối với

MBSC

Kết quả:

Việc tìm kiếm cho ra 19 bài báo với tổng số

26 bệnh nhân Tất cả các nghiên cứu đều là báo

cáo trường hợp và loạt trường hợp nhỏ Ở hầu hết

các bệnh nhân, hạ huyết áp nội sọ trước mổ và

mức độ lún đáng kể của vạt da đã được xác định;

đây là phát hiện không đổi duy nhất được quan

khoa Xanh Pôn

Chịu trách nhiệm chính: Vũ Ngọc Anh

Email: drvungocanhkyd@gmail.com

Ngày nhận bài: 12.10.2022

Ngày phản biện khoa học: 19.10.2022

sát thấy trong những trường hợp này Ngoài ra, chúng tôi đưa ra đề xuất một hệ thống phân loại

để ước tính mức độ lún trước phẫu thuật của vạt

da và một phân tích với các khuyến nghị để giảm

tỷ lệ mắc MBSC Kết luận:

Tạo hình sọ là một phẫu thuật có rủi ro cao trong một số trường hợp SSFS và dẫn lưu áp lực

âm có thể là những nguy cơ chính gây ra tắc nghẽn và ứ trệ tĩnh mạch sau phẫu thuật, có thể dẫn đến phù não lan tỏa Một khi chụp CT cho thấy sưng não ác tính, bệnh nhân được dự đoán

sẽ có tiên lượng rất xấu

SUMMARY MALIGNANT CEREBRAL SWELLING AFTER CRANIOPLASTY: CASE REPORT AND LITERATURE REVIEW Background:

Although cranioplasty is a common procedure, it may cause a variety of complications Massive brain swelling after cranioplasty (MBSC) is an unusual complication that has been reported more frequently in recent years Most of the existing information about this condition is speculative and the cause remains unclear

Materials and methods:

We reported a case study A PubMed and Scopus search adhering to PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses) guidelines was performed to include studies reporting patients with MBSC Different information was analyzed in these

Trang 2

cases to describe the characteristics and identify

risk factors for MBSC

Conclusion

Cranioplasty is a high-risk procedure in some

cases Sinking skin flap syndrome and vacuum

suction drain may be the main risks of a

postoperative venous congestion and stasis,

which may result in diffuse cerebral swelling

Once the computed tomography scan shows

malignant cerebral swelling, the patient is

expected to have a poor prognosis

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp (DC)

thường được thực hiện trong các trường hợp

tăng áp lực nội sọ khó kiểm soát thứ phát sau

một số bệnh lý thần kinh DC đồng nghĩa

theo sau là phẫu thuật tạo hình hộp sọ ở

những người sống sót sau chấn thương ban

đầu Người ta báo cáo rằng các biến chứng

sau khi tạo hình hộp sọ xảy ra trong khoảng

một phần ba trường hợp [1] Trong những

năm gần đây, một số nghiên cứu đã báo cáo

một biến chứng hiếm gặp đặc trưng bởi mức

độ phù não lớn xảy ra sau một ca phẫu thuật

tạo hình hộp sọ thông thường Phù não ác

tính sau mổ tạo hình hộp sọ (MBSC) là một

tình trạng dẫn đến tỷ lệ tử vong cao mà

nguyên nhân của nó vẫn chưa được làm sáng

tỏ; vì những lý do này, chúng tôi cho rằng

một nghiên cứu mô tả các đặc điểm của biến

chứng tàn khốc này là cần thiết

Mục đích chính của nghiên cứu này là

xác định các yếu tố liên quan đến sự phát

triển của bệnh MBSC, cũng như xác định các

biện pháp ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh

này

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Việc tìm kiếm tài liệu toàn diện về

PubMed và Scopus đã được thực hiện theo

hướng dẫn của PRISMA (Các Mục Báo cáo

Ưu tiên cho Đánh giá Hệ thống và Phân tích Tổng hợp) Việc tìm kiếm các ấn phẩm được thực hiện bằng cách sử dụng các từ khóa sau:

“death after cranio-plasty,” “cerebral edema after cranio-plasty,” “brain edema after cranioplasty”, “cranioplasty complications”, and “decompressive craniectomy” Chúng được tìm kiếm thêm để tìm thêm các nghiên cứu, việc tìm kiếm mở rộng cho tất cả các bài báo tiếng Anh có sẵn từ năm 1960 đến tháng 2022 Các bài báo được đưa vào tổng hợp lại cuối cùng chỉ ở những bệnh nhân MBSC có đặc điểm lâm sàng và CT Các bài báo báo cáo các bệnh khác nhau từ MBSC, các bài báo tập trung vào các biến chứng khác nhau của tạo hình hộp sọ và các bài báo

có thông tin lâm sàng không đầy đủ

III CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam 51 tuổi được chẩn đoán: chấn thương sọ não (TBI): Dập não trán, thái dương G6đ, đã được phẫu thuật lấy máu tụ, não dập và giải áp não(DC) Sau mổ, bệnh nhân cải thiện lâm sàng tốt và ra viện sau 3 tuần Tái khám sau ra viện 1 tháng, Bệnh nhân lơ mơ, G10đ, đồng tử 2 bên đều, khuyết

sọ phồng mềm Kết quả chẹp CT sọ não có hình ảnh giãn não thất Bệnh nhân được chỉ định dẫn lưu não thất ổ bụng cùng thì với ghép xương sọ tự thân Sau mổ, tái khám sau

1 tháng bệnh nhân tỉnh G15điểm, không di chứng thần kinh, vết mổ liền tốt Sau ghép 6 tháng, BN tái khám với hội chứng vạt da chìm bên trái (SSFS), nơi hộp sọ đã ghép xuất hiện tiêu gần toàn bộ xương Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật tạo hình hộp sọ bằng titan 3D; tuy nhiên, Bệnh nhân đã không phục hồi sau cuộc gây mê bất thường Dẫn lưu áp lực âm cho thấy 300 ml dịch chảy

ra đã chảy ra, bệnh nhân động kinh liên tục,

Trang 3

đồng tử của bệnh nhân giãn ngay sau phẫu

thuật và cố định Chụp cắt lớp vi tính (CT)

ngay lập tức cho thấy phù não lan tỏa hai bên

với xuất huyết não lan tỏa Bất chấp mọi

cách biện pháp điều trị (an thần sâu, giãn cơ,

chống phù não tích cực bằng manitol và mở nắp sọ trán thái dương giải ép 2 bên) đã được thực hiện, tình trạng phù não vẫn tiếp tục nặng hơn cho đến khi tử vong sau ghép sọ 2 ngày

Ảnh 1: Hình ảnh phim chụp của bệnh nhân từ thời điểm mổ chấn thương

đến sau ghép sọ lần 2

IV KẾT QUẢ

Việc tìm kiếm tài liệu ban đầu cho kết

quả là 534 bài báo Sau khi loại bỏ các bản

sao, tiêu đề và tóm tắt của 366 bài báo đã

được sàng lọc và 321 bài báo đã bị loại dựa

trên các tiêu chí loại trừ Sau đợt lọc ban đầu

này, 45 bài báo đã được đánh giá đủ điều

kiện, trong đó 26 bài bị loại vì thiếu bằng

chứng chỉ ra MBSC Như vậy, có tổng cộng

19 nghiên cứu bao gồm 26 bệnh nhân đủ điều kiện để phân tích (Bảng 1) Bảng 1 cho thấy các đặc điểm của những bệnh nhân này

đã được xác định từ các bài báo trước đây

4.1 Đặc điểm dịch tễ học

Bệnh nhân trẻ nhất được báo cáo là 14 tuổi, và người lớn tuổi nhất là 77 tuổi Độ

Trang 4

tuổi trung bình là 37,8 tuổi Số lượng bệnh

nhân lớn nhất là nhóm ở độ tuổi khoảng 30

tuổi và những người trên 60 tuổi (7 bệnh

nhân trong mỗi nhóm) Trong đó, nam giới

chiếm 72% Các chỉ định cho phẫu thuật mở

nắp sọ giảm áp là chấn thương sọ não (TBI)

ở 52% và đột quỵ ở 44% tổng số bệnh nhân

Ở 1 bệnh nhân, bệnh chính là khối u Đột

quỵ là nguyên nhân phổ biến nhất của DC ở

nhóm bệnh nhân lớn tuổi

4.2 Loại phẫu thuật mở nắp sọ giảm

áp

Loại phẫu thuật phổ biến nhất là mở nắp

sọ 1 bên, được thực hiện ở 21 bệnh nhân

(81%) Ở những bệnh nhân còn lại, phẫu

thuật mở nắp sọ hai bên đã được thực hiện

Mở nắp sọ 1 bên được thực hiện ở tất cả các

bệnh nhân bị đột quỵ

4.3 Sự hiện diện của vạt da chìm

(SFF)

SSF được quan sát thấy ở mọi bệnh nhân

mà tình trạng trước phẫu thuật của vị trí mở

nắp sọ được mô tả trên lâm sàng hoặc chụp

cắt lớp vi tính (CT) trước phẫu thuật được

hiển thị trong các bài báo Chụp CT được

thực hiện trong các khoảng thời gian khác

nhau liên quan đến ngày tạo hình sọ Trong

45% trường hợp, hình ảnh CT được chụp

trong những ngày gần với ngày phẫu thuật,

cho thấy các mức độ đè đẩy tổ chức não khác

nhau Mặt khác, chẩn đoán các mức độ khác

nhau của SSF chỉ được thực hiện dựa trên

mô tả lâm sàng ở 10 bệnh nhân

4.4 Sự hiện diện của dẫn lưu não thất

ổ bụng (CSF Shunts)

Dẫn lưu não thất ổ bụng được thực hiện ở

11 bệnh nhân (44%) Mô tả các cụ thể như loại shunt, thời gian phẫu thuật hoặc các triệu chứng thường không được đề cập trong mô

tả của các trường hợp Ngoài ra, chỉ có một

số nghiên cứu cho thấy CT sau phẫu thuật đặt dẫn lưu

4.5 Loại vật liệu tạo hình hộp sọ

Loại vật liệu được sử dụng để tạo hình hộp sọ đã được báo cáo ở 22 bệnh nhân Trong 50% trường hợp, ghép xương tự thân được thực hiện và 50% còn lại, là các vật liệu tổng hợp khác nhau được sử dụng, bao gồm titan, methylmethacrylate và polyetheretherketone

4.6 Thời gian phẫu thuật tạo hình hộp

sọ

Thời gian ngắn nhất để tạo hình hộp sọ là

1 tháng và khoảng thời gian dài nhất là 17 tháng Trong 43% trường hợp, phẫu thuật tạo hình sọ được thực hiện trong 3 tháng đầu sau phẫu thuật cắt bỏ sọ; 13% trường hợp phẫu thuật từ 3 đến 6 tháng và phẫu thuật từ 9 đến

12 tháng trong 17% trường hợp; Tạo hình hộp sọ được thực hiện sau 12 tháng ở 20% trường hợp

4.7 Khoảng thời gian xuất hiện và triệu chứng lâm sàng của MBSC

Khoảng thời gian mà các triệu chứng đầu tiên được phát hiện được báo cáo ở 12 bệnh nhân Khoảng thời gian từ 15 phút đến 16 giờ đã được quan sát, với mức trung bình là 3,3 giờ Ở 5 bệnh nhân, các triệu chứng bắt đầu trong vòng một giờ đầu tiên sau khi tạo hình hộp sọ Về các triệu chứng biểu hiện ở những bệnh nhân này, biểu hiện phổ biến

Trang 5

nhất được báo cáo là giãn đồng tử và hôn mê,

được quan sát thấy trong 75% trường hợp

Sự xuất hiện của các cơn co giật đã được

quan sát thấy ở 30% bệnh nhân Các triệu

chứng khác ít được quan sát thấy hơn là nhịp

tim nhanh, tăng huyết áp động mạch, giảm

căng thẳng và nhịp tim chậm

4.8 Kết quả chụp cắt lớp vi tính

Ở tất cả các bệnh nhân, kết quả chụp CT

cho thấy mức độ nặng của phù não lan tỏa,

đặc trưng bởi sự xóa của các rãnh cuốn

não,xóa các bể đáy chứa dịch não tủy và đè

đẩy đường giữa trong một số trường hợp

Ngoài ra, các tổn thương khác như xuất

huyết trong nhu mô hoặc các vùng thiếu máu

cục bộ cũng được quan sát thấy

4.9 Điều trị và kết quả

Trong 65% trường hợp, phẫu thuật mở

nắp sọ giải áp được thực hiện bằng cách loại

bỏ vạt xương cấy ghép hoặc thực hiện mở

nắp sọ cả 2 bên Ở một số bệnh nhân, phẫu

thuật mở nắp sọ giải ép được kết hợp với một

kỹ thuật khác bao gồm cắt thùy não và dẫn

lưu não thất ra ngoài Một tỷ lệ thấp bệnh

nhân chỉ được điều trị bằng các biện pháp

chống phù não nội khoa tích cực Trong đó 4

bệnh nhân, không có phương pháp điều trị

nào được sử dụng

Tỷ lệ tử vong được quan sát thấy ở 88%

bệnh nhân mặc dù điều trị thực hiện Những

bệnh nhân sống sót vẫn bị di chứng thần kinh

nặng nề

V BÀN LUẬN

Mặc dù phẫu thuật tạo hình hộp sọ được

thực hiện một cách phổ biến tại các trung

tâm phẫu thuật thần kinh, nhưng nó lại liên quan đến một số biến chứng, chẳng hạn như nhiễm trùng, tiêu xương và chảy máu sau

mổ Một biến chứng nặng và thậm chí còn hiếm là MBSC Sinh lý bệnh của biến chứng này chưa được hiểu rõ hoàn toàn và dường như khó có thể tìm ra được Do đó, một số giả thuyết (ví dụ, hạ áp lực nội sọ, tổn thương tái tưới máu, thiếu oxy, suy điều hòa

tự động, sử dụng dẫn lưu áp lực âm) đã được đưa ra để cố gắng giải thích nguyên nhân của biến chứng này Tuy nhiên, hầu hết các giả thuyết này đều mang tính suy đoán và dường như không có cơ sở vì chúng không đưa ra một giải thích thuyết phục về nguồn gốc của MBSC

Gần đây, MBSC đã được công nhận và thu hút nhiều sự quan tâm hơn của các chuyên gia y tế Bởi, phẫu thuật tạo hình hộp

sọ được thực hiện rất phổ biến, có thể, một

số trường hợp đã xảy ra trong quá khứ đã không được báo cáo vì biến chứng này chưa được biết đến Một ví dụ điển hình của lý thuyết này là trường hợp được báo cáo bởi Hettige và Norris, bệnh nhân nam 14 tuổi, trong đó bệnh nhân cho thấy hình ảnh lâm sàng của MBSC; tuy nhiên, các phẫu thuật viên cho rằng nguyên nhân cái chết của bệnh nhân là do phản ứng dị ứng với vật liệu tạo hình [2] Ví dụ này chỉ ra rằng do biến chứng này hiếm và tỷ lệ báo cáo quá thấp, tỷ lệ mắc MBSC lại khó tính toán Nghiên cứu này cho thấy MBCS có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi Về khoảng thời gian từ khi phẫu thuật DC đến khi tạo hình hộp sọ, khoảng từ 1 đến 17 tháng đã được ghi nhận Có 44 % bệnh nhân

Trang 6

được phẫu thuật trong vòng 3 tháng đầu tiên

và phần còn lại được phẫu thuật từ 3 đến 17

tháng Thông tin này gợi ý rõ ràng rằng

không phải tuổi hoặc thời gian tạo hình sọ

hoặc loại vật liệu tạo hình sọ não là các yếu

tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện của MBSC

Sử dụng hệ thống dẫn lưu kín áp lực sau

khi tạo hình xương sọ Một số nhà nghiên

cứu đã gợi ý rằng việc sử dụng các cống có

hút kín là một yếu tố góp phần quan trọng

cho sự xuất hiện của MBSC vì nó gây ra một

mức độ quan trọng của hạ áp lực nội sọ [3]

Giả thuyết về áp lực âm làm tăng áp lực nội

sọ thứ phát do sử dụng dẫn lưu áp lực âm là

nguyên nhân của MBSC là không thuyết

phục vì những bệnh nhân này đã trải qua một thời gian dài bị hạ huyết áp nội sọ thứ phát sau DC

SSF và Hội chứng SSF SSF được quan sát thấy ở hơn 90% bệnh nhân sau DC [4]

Và, SSF thường xuất hiện trước phẫu thuật trong các trường hợp MBSC, nên cần phân loại mức độ nghiêm trọng của độ lệch của não với mục đích ước tính mức độ hạ huyết

áp trong sọ trước phẫu thuật và chèn ép não

do áp lực khí quyển gây ra Một số tác giả đề xuất phân độ SFF dựa trên lâm sàng avf phim chụp CT sọ não và được sự đồng thuận khá cao [5]

Ở độ 2 và đặc biệt là ở độ 3, thường quan

sát thấy xóa các rãnh cuốn não ở mức độ

khác nhau Bệnh nhân độ 3 là những bệnh

nhân có ICP rất thấp và tình trạng này đặc

biệt được quan sát thấy ở những bệnh nhân

có khuyết sọ lớn và có dẫn lưu não thất ổ bụng Trong tổng hợp các nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi thấy thấy rằng mọi bệnh nhân đều có biểu hiện SSF ở độ 2 hoặc 3 trước khi tạo hình sọ

Trang 7

Não úng thủy có thể được quan sát thấy ở

8% - 35% bệnh nhân sau DC [6] Việc dẫn

lưu não thất có thể làm tăng tình trạng hạ

huyết áp nội sọ đã có ở bệnh nhân khuyết sọ,

đặc biệt nếu áp lực đặt van không được lựa

chọn thích hợp Trong nghiên cứu của chúng

tôi, 44% bệnh nhân đã được phẫu thuật chọc

dẫn lưu não thất ổ bụng và nhiều người trong

số họ, chụp CT cho thấy hình ảnh xẹp não

thất và lệch đường giữa đáng kể, cho thấy

mức độ quan trọng của hạ huyết áp trong sọ

Người ta có thể cho rằng sự giảm quá mức

ICP quan sát được trong những trường hợp

này có thể được cải thiện bằng cách tăng áp

lực của van Thực tế là gần một nửa số bệnh

nhân trong tổng quan này có shunt dịch não

tủy được ghép sọ cho thấy rằng điều này có

một số mức độ ảnh hưởng đến sự phát triển

của MBSC, có thể là kết quả của đợt cấp của

hạ huyết áp nội sọ

Nhiều nghiên cứu cho rằng SSSF ở bệnh

nhân có dẫn lưu não thất ổ bụng có thể được

đảo ngược bằng cách đóng shunt hoàn toàn

hoặc bằng cách tăng áp lực van trong trường

hợp shunt có thể điều chỉnh được và phẫu

thuật tạo hình sọ ở những bệnh nhân bị

khuyết sọ và não úng thủy ngăn ngừa sự xuất

hiện của SSSF, trong khi nhiều nghiên cứu

khác đã báo cáo tỷ lệ biến chứng cao hơn khi

cả hai thủ thuật được thực hiện đồng thời [7]

Điều đáng chú ý trong những trường hợp

nghiên cứu này là thời gian khởi phát sau

phẫu thuật và tốc độ tiến triển của sự suy

giảm thần kinh nhanh chóng, cho thấy rằng

tạo hình sọ tạo ra một sự thay đổi đột ngột

trong các thành phần nội sọ Sviri10 đưa tin

về trường hợp một người đàn ông 22 tuổi bị giãn đồng tử hai bên và hôn mê 15 phút sau khi thay vạt xương; Ngoài ra, theo dõi ICP ghi nhận giá trị 80 mm Hg ở bệnh nhân này Bên cạnh trường hợp này, 4 bệnh nhân khác

đã trải qua các triệu chứng ban đầu của MBCS trong vòng một giờ đầu tiên Dữ liệu lâm sàng phổ biến nhất được quan sát thấy ở những bệnh nhân này là giãn đồng tử và hôn

mê kèm theo nhiều dấu hiệu khác nhau Gần một phần ba số bệnh nhân bị co giật Mặc dù một số nhà điều tra đã gợi ý rằng co giật có thể là nguyên nhân kích thích sự phát triển của MBSC, nhưng có vẻ như co giật là một phần của các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng này

Phương pháp điều trị được chỉ định ở những bệnh nhân này rất đa dạng Ở 15 bệnh nhân, đã được mở nắp sọ giải ép 1 hoặc 2 bên nhưng hầu hết kết quả đều xấu, với tỷ lệ

tử vong là 93%.Tất cả những bệnh nhân này đều có biểu hiện suy giảm tri giác trầm trọng trước phẫu thuật và giãn đồng tử hai bên Vì vậy, có vẻ như phẫu thuật là vô nghĩa ở những bệnh nhân có những đặc điểm này Chỉ có 1 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật mở nắp sọ giảm áp được cứu sống, nhưng bệnh nhân này tiến triển chậm hơn và chỉ bị giãn đồng tử một bên Ở những bệnh nhân khác, không có phương pháp điều trị nào được sử dụng và điều trị bằng các biện pháp chống phù não đơn thuần

Bởi vì ở tất cả các bệnh nhân thường cho thấy một mức độ quan trọng của hạ huyết áp nội sọ trước phẫu thuật, đặc trưng bởi SSF và

Trang 8

di lệch của não, chúng tôi cho rằng MBSC có

thể được ngăn ngừa bằng cách loại bỏ

gradient áp lực đáng kể giữa áp lực khí

quyển và ICP tại thời điểm tạo hình hộp sọ

Tùy thuộc vào đặc điểm của từng bệnh nhân,

quá trình này có thể được thực hiện theo một

số cách Trong trường hợp bệnh nhân có van

dẫn lưu não thất có thể điều chỉnh thì khóa

van theo chương trình, áp lực của van phải

được tăng lên cho đến khi quan sát thấy sự

giãn nở của nhu mô não đạt mức có thể phẫu

thuật được an toàn Khi bệnh nhân có một

shunt không thể lập trình được, điều này có

thể thắt ở vùng dưới da trước khi phẫu thuật

Sau khi tạo hình hộp sọ, ống shunt được giải

phóng Theo Liao và Kao, 47 thời điểm thích

hợp để tạo hình hộp sọ là khi khuyết sọ lõm

phồng lên sau khi ống thông xa bị tắc, có thể

mất từ 1 đến 3 ngày Mặt khác, ở những bệnh

nhân không có dịch não tủy, bệnh nhân nên

được đặt ở tư thế nằm ngửa và thậm chí ở tư

thế Trendelenburg nếu SSF nặng Cá nhân

chúng tôi đã chứng kiến sự hữu ích của tư

thế nằm ngửa trong việc đảo ngược SSSF ở

những bệnh nhân có độ lệch não quan trọng

Thời điểm tốt nhất để tạo hình sọ là khi SSF

được cải thiện và não bộ nở rộng

VI KẾT LUẬN

Từ tất cả các yếu tố được phân tích trong

nghiên cứu này, các mức độ khác nhau của

SSF trước phẫu thuật và hạ huyết áp nội sọ là

những thông số duy nhất có trong mọi trường

hợp MBSC, cho thấy rằng điều này đóng một

vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh này Mặc dù có vẻ khó thực hiện đánh giá có

hệ thống vì sự hiếm gặp của bệnh này, nhưng cần có các nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là theo dõi trong phẫu thuật để thiết lập một cách khách quan trình tự các thay đổi nội sọ xảy ra trong quá trình phẫu thuật ở các trường hợp MBSC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ashayeri K, et al (2016) Syndrome of the

trephined: a system-atic review Neurosurgery 79,525-534

2 Heo J, et al (2014) Evaluation of

simultaneous cranioplasty and ven-triculoperitoneal shunt procedures J Neurosurg 121,313-318

3 Hettige S, Norris JS Mortality (2012)

After local allergic response to titanium cranioplasty Acta Neurochir (Wien).154,1725-1726

4 Luis A., et al (201).Massive brain swelling

and death after cranioplasty: a systematic review.World Neurosurg 111,99-10

5 Sviri GE (2015) Massive cerebral swelling

immediately after cranioplasty, a fatal and unpredictable complication: report of 4 cases

J Neurosurg 123,1188-1193

6 Vedantam A, et al (2017) Factors

associated with shunt-dependent hydrocephalus after decompressive craniectomy for traumatic brain injury J Neurosurg 1-6

7 Zanaty M, et al (2015) Complications

following cranioplasty: incidence and predictors in 348 cases J Neurosurg.123,182-188

Ngày đăng: 09/01/2023, 20:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w