1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phẫu thuật u quái khổng lồ vùng tuyến tùng bằng đường mổ qua não thất qua đồi thị: Ca lâm sàng và nhìn lại y văn

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phẫu thuật u quái khổng lồ vùng tuyến tùng bằng đường mổ qua não thất qua đồi thị: Ca lâm sàng và nhìn lại y văn
Tác giả Nguyễn Đức Anh, Phạm Văn Cường, Lê Văn Ngân
Trường học Bệnh viện Bạch Mai
Chuyên ngành Chuyên ngành Phẫu thuật thần kinh
Thể loại Báo cáo ca lâm sàng và tổng quan y văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 699,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Phẫu thuật u quái khổng lồ vùng tuyến tùng bằng đường mổ qua não thất qua đồi thị trình bày một trường hợp bệnh nhân nam 17 tuổi vào viện tình trạng hôn mê GCS 6đ, gấp cứng mất vỏ, giãn đồng tử bên phải, CHT cho thấy khối u khổng lồ vùng tuyến tùng và não thất III, xâm lấn đồi thị 2 bên, chèn ép rất nhiều vào cuống đại não 2 bên và cầu não.

Trang 1

PHẪU THUẬT U QUÁI KHỔNG LỒ VÙNG TUYẾN TÙNG BẰNG ĐƯỜNG

MỔ QUA NÃO THẤT QUA ĐỒI THỊ: CA LÂM SÀNG VÀ NHÌN LẠI Y VĂN

Nguyễn Đức Anh 1 , Phạm Văn Cường 2 , Lê Văn Ngân 1

TÓM TẮT 81

U quái trong não là loại u hiếm gặp, thường

xuất hiện ở trẻ em và thiếu niên Điều trị u quái

chủ yếu là phẫu thuật kết hợp với hóa xạ trị Tuy

nhiên do vị trí u nằm ở rất sâu trong não, thường

ở vùng tuyến tùng hoặc não thất III, liên quan tới

nhiều cấu trúc quan trọng nên phẫu thuật gặp rất

nhiều khó khăn Chúng tôi trình bày một trường

hợp bệnh nhân nam 17 tuổi vào viện tình trạng

hôn mê GCS 6đ, gấp cứng mất vỏ, giãn đồng tử

bên phải, CHT cho thấy khối u khổng lồ vùng

tuyến tùng và não thất III, xâm lấn đồi thị 2 bên,

chèn ép rất nhiều vào cuống đại não 2 bên và cầu

não Bệnh nhân đã được phẫu thuật vi phẫu

đường qua não thất bên qua đồi thị bên phải lấy

toàn bộ khối u Sau mổ tình trạng lâm sàng cải

thiện rất nhiều, bệnh nhân tiếp tục được điều trị

phục hồi chức năng, hóa xạ trị Tiên lượng gần,

bệnh nhân có tiến triển rất tốt, không còn cơn

gồng cứng, động kinh, liệt nửa người T hồi phục

dần

SUMMARY

TOTAL REMOVAL IMMATURE

TERATOMA BY TRANSCORTICAL

TRANSVENTRICULAR

TRANSTHALAMIC APPROACH: A

1

Khoa PTTK, Bệnh viện E

2

Khoa PTTK, Bệnh viện Bạch Mai

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Đức Anh

Email: bsanhnd@gmail.com

Ngày nhận bài: 9.10.2022

Ngày phản biện khoa học: 16.10.2022

CASE REPORT AND REVIEW OF

LITẺATURES

Intracerebral teratomas are rare tumors, usually appear in children and adolescents Treatment of teratomas is mainly combined between surgery with chemotherapy and radiotherapy However, due to deep location inside the brain, normally in the pineal region or the third ventricle, involving many important structures, surgery is very challenging We present a case of a 17-year-old boy admitted to the hospital in a coma situation with GCS 6p, decortical signs, right pupil dilated, MRI showed

a giant teratoma in the pineal gland, fulfilled third ventricle, invaded the thalamus bilaterally, greatly compressed the cerebral peduncles and the pons The tumor has been totally resected by microsurgery transcortical transventricular transthalamic approach Post operation, clinical signs improved a lot, the patient continued to receive rehabilitation treatment, chemotherapy and radiotherapy Near prognosis, the patient has been recovering very well, no spasticity, no epilepsy anymore, left hemiplegia regained gradually

I ĐẶT VẤN ĐỀ

U quái trong sọ là bệnh lý cực kỳ hiếm gặp, chiếm 0,3-0.6% u nội sọ nói chung [1]

U quái có nguồn gôc từ cả 3 lớp của phôi (nội bì, trung bì, ngoại bì) U thường có ranh giới rõ, nhiều thùy múi, có nang Vị trí hay gặp nhất của u là dọc đường giữa, nhiều nhất

là vùng tuyến tùng, Điều trị u quái chủ yếu là phẫu thuật

Trang 2

II CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam, phát hiện khối u vùng

tuyến tùng, gây giãn não thất năm 14 tuổi,

bệnh nhân được phẫu thuật nội soi phá thông

sàn não thất III ngày tháng 3/2019 tại bệnh

viện Nhi TW Sau đó bệnh nhân được

chuyển sang bệnh viện Bạch Mai và được

phẫu thuật lấy toàn bộ u bằng đường dưới

chẩm qua lều tiểu não ngày 14/5/2019, xét

nghiệm là u quái đã trưởng thành (mature

teratoma) Tuy nhiên, sau 2 tháng, bệnh nhân

quay lại bệnh viện vì đau đầu, nôn, phim chụp có giãn não thất, bệnh nhân được mổ dẫn lưu não thất ổ bụng Tình trạng bệnh nhân ổn định được 1 năm thì lại xuất hiện triệu chứng giãn não thất và bệnh nhân được dẫn lưu não thất ổ bụng lại lần nữa bên đối diện cũng tại bệnh viện Bạch Mai Bệnh nhân tiếp tục được khám và theo dõi định kỳ tại bệnh viện Bạch Mai, phát hiện tái phát sau 3 năm

Hình 42: (A) CHT lúc mới khởi phát triệu chứng cách 7 tháng, (B) CHT ngay trước mổ cho thấy khối u kích thước khổng lồ vị trí tuyến tùng, lấp kín não thất III, chèn ép nhiều

vào cầu cuống não, đồi thị bên phải

Đợt này, diễn biến cách 7 tháng, khởi

phát yếu tay trái, yếu tăng dần và chuyển

sang chân trái, kèm sụp mi mắt phải Trên

CHT khối u kích thước 22*28 mm Bệnh

nhân được xạ phẫu tại bệnh viện 108 bằng máy Cyberknife liều 12Gy và tập lý liệu pháp thì mắt đỡ sụp mi, nhưng triệu chứng liệt nửa người trái không cải thiện Bệnh

A

B

Trang 3

nhân được theo dõi đều đặn hàng tháng thì

thấy u tăng kích thước dần lên và tình trạng

lâm sàng càng trở nên tồi hơn Khi bệnh

nhân đến bệnh viện chúng tôi thì tình trạng

đã trở nên khá nặng, GCS 6đ, có triệu chứng

mất vỏ (duỗi cứng 2 chân, gấp cứng 2 tay),

đồng tử 2 bên giãn 4 mm., cứng hàm, đại tiểu

tiện không tự chủ CHT cho thấy khối u vùng

tuyến tùng, kích thước rất lớn 69*65*60 mm,

tín hiệu không đồng nhất, có cả phần đặc và

phần nang, bờ thùy múi, xâm lấn đồi thị 2

bên, phát triển xuống dưới, đè đẩy cuống đại

não và cầu não Bệnh nhân được phẫu thuật

lấy toàn bộ u bằng đường qua não thất bên

bên P qua phần trước đồi thị Tuy nhiên, xét

nghiệm mô học khối u lại cho thấy u quái chưa trưởng thành (immature teratoma), đặc trưng bởi sự tăng sinh mạnh các thành phần trung mô chưa trưởng thành và mô thuần thục, một số vùng có các ống được lót bởi tế bào biểu mô dạng bào thai, nhân nhỏ, kiềm tính cao, nhiều nhân chia Sau mổ 1 tháng bệnh nhân được khám kiểm tra lại thì tình trạng lâm sàng cải thiện rất nhiều, không còn cơn gồng cứng mất vỏ như trước, còn yếu nửa người Trái không hoàn toàn, cơ lực chi trên và chi dưới là 3/5, bên phải cơ lực 4/5, liệt dây III P, bệnh nhân cũng đã có nhận thức trở lại

Hình 43: (A) CLVT 3 ngày sau mổ cho thấy khối u đã được lấy bỏ toàn bộ, không chảy máu hay giãn não thất, (B) CHT 1 tháng sau mổ không còn thấy tổ chức u, có phần khuyết nhỏ ở cực trước của đồi thị là đường vào khối u, cấu trúc bao trong dường như vẫn còn

nguyên vẹn

A

B

Trang 4

III KỸ THUẬT MỔ

Sau khi gây mê, bệnh nhân được đặt ở tư

thế nằm ngửa, cúi đầu, nghiêng sang bên đôi

điện khoảng 10o, đầu cao khoảng 30o so với

mặt đất

Rạch da đường thẳng khoảng 10cm, song

song và cách đường giữa 3cm, cắt ngang qua

khớp trán đỉnh của xương sọ, trong đó 2/3

đường mổ nằm ở phía trước đường khớp Mở

xương sọ kích thước 5*5cm ở ngay phía

trước khớp trán đỉnh

Mở màng cứng chữ thập Trocart vào não thất bên phải theo hướng giống như của đường mổ dẫn lưu não thất ra ngoài vùng trán, sau đó mở rộng đường vào

Mở thành bên của não thất bên theo đường thẳng khoảng 10mm, song song ngay phía trong tĩnh mạch đồi thị, phía sau của lỗ Monro (Đây là vị trí đầu của đồi thị) Sau khi

mở rộng đường mổ sẽ đi thằng vào não thất III, khối u được phẫu tích, bóc tách từng phần cho đến hết u

Hình 44: Giải phẫu trong não thất bên, đường màu đỏ là vị trí mở đồi thị

IV BÀN LUẬN

U quái của hệ thần kinh trung ương là

bệnh lý hiếm gặp, chiếm 0,3-0.6% u nội sọ

nói chung, thường xuất hiện ở trẻ em và

thanh niên [1] U quái có nguồn gốc từ cả 3

lớp TB mầm phôi thai (nội bì, trung bì, ngoại

bì) [2] Xét nghiệm mô bệnh học, theo phân

loại của WHO năm 2017, u quái chia làm 3

loại: u quái thuần thục (mature), chưa thuần

thục (immature) và u quái chuyển dạng ác

tính (malignant transformation)

Vị trí u quái thường nằm ở đường giữa (vị trí tuyến tùng hoặc não thất III), giống như các khối u có nguồn gốc TB phôi khác, rất hiếm những trường hợp u xuất hiện ở vị trí khác ngoài đường giữa như não thất bên,

hố sau, hạch nền, xoang TM hang [3] [4] [5] [6] Xét nghiệm AFP và bHCG trong máu là những dấu ấn chủ yếu chỉ điểm u có nguồn gốc phôi Mặc dù, kết quả xét nghiệm không phải lúc nào cũng chính xác, nhưng AFP

Trang 5

trong máu tăng cao thường gợi ý u quái chưa

trưởng thành hơn là u quái thành thục [3] [4]

Đặc điểm chung của u quái trong sọ là

chúng có bao rõ, nhiều thùy múi, có thể có

nang Trong khi u quái thuần thục được đặc

trưng bởi các TB đã biệt hóa hoàn toàn thì u

quái chưa thuần thục có những tổ chức TB

chưa biệt hóa hoàn toàn như biểu bì thần

kinh hay mô đệm [7] U quái chưa thuần thục

có tiên lượng ác tính cao hơn so với u quái

thuần thục, tỷ lệ sống sót sau 10 năm của u

quái thuần thục là 90% trong khi u quái chưa

thuần thục là 70% [7] Tiên lượng tồi hơn

của u quái chưa thuần thục được cho là do tính chất mô học của khối u có độ ác tính cao hơn, nguy cơ tái phát nhanh hơn và khả năng cắt u khó triệt để do vị trí khối u nằm ở rất sâu, và liên quan với nhiều cấu trúc mạch máu [8] Báo cáo của Huang và cs cũng cho thấy tỷ lệ sống tăng lên đáng kể với những trường hợp còn sót u được điều trị gamma knife sau mổ [8] Nhiều báo cáo gần đây cho thấy tỷ lệ sống tăng lên rõ rệt (70-100%) nếu phẫu thuật loại bỏ được toàn bộ khối u [9] [10]

Hình 45: Các đường mổ tiếp cận khối u vùng tuyến tùng

Về điều trị, u quái chưa thuần thục kém

nhạy cảm với hóa chất và xạ trị, điều trị chủ

yếu vẫn là phẫu thuật [7] Do vậy, chiến

thuật tối ưu với những trường hợp u này là

phẫu thuật cắt bỏ u tối đa, phối hợp xạ phẫu

gamma knife nếu u còn tồn dư hoặc tái phát [8]

U quái trong sọ vị trí phổ biến nhất là vùng tuyến tùng, đôi khi chúng cũng có thể xuất hiện ở vùng hố yên [8] hoặc trong não thất III [11] [12] Tùy thuộc vị trí, kích thước

Trang 6

và sự liên quan với các cấu trúc xung quanh,

có nhiều đường mổ tiếp cận khối u khác

nhau Với những khối u vùng tuyến tùng, có

thể thực hiện phẫu thuật theo 4 đường chủ

yếu, gồm (1) đường dưới lều trên tiểu não,

(2) đường dưới chẩm qua lều tiểu não, (3)

đường qua 1/3 sau thể trai, (4) đường qua 1/3

trước thể trai qua khe liên bán cầu Nhưng

với những khối u có kích thước khổng lồ

(>60mm), lấp toàn bộ não thất III, đè đẩy

nhiều thân não, thể trai, đồi thị và hạ đồi như

ca lâm sàng thì cả 4 cách tiếp cận đó đều

không phù hợp Với đường mổ dưới lều trên

tiểu não, hạn chế của đường này là khó tiếp

cận với phần u lan rộng lên cao phía trần não

thất III và thể trai, đường mổ dưới chẩm qua

lều thì ngược lại, rất khó xử lý được phần u ở

thấp, cầu cuống đại não do vướng hội lưu

tĩnh mạch Galen Đường qua thể trai ở 1/3

trước hay 1/3 sau đều rất khó tiếp cận với

phần u xâm lấn sang đồi thị bên phải Do vậy

chúng tôi đã lựa chọn đường mổ qua vỏ não

qua não thất qua đồi thị bên phải, bởi vị đồi

thị bên phải đã bị khối u xâm lấn và đè đẩy

rất nhiều, khiền cho phần đồi thị bao quanh u

sát não thất bên chỉ còn lại một lớp rất mỏng

nên việc tiếp cận u bằng đường này không

phải quá khó khăn Hơn nữa, đường mổ này

cho phép kiểm soát tốt các vùng rìa của u,

cũng như cho phép bảo tồn cấu trúc bao

trong tốt hơn do đường mổ đi song song với

giải phẫu của bó tháp qua bao trong Tác giả

Ha BJ [11] cũng đã sử dụng đường mổ qua

vỏ não qua não thất bên để lấy khối u trong

não thất III thành công, nhưng ông lấy u qua

lỗ Monro vì bệnh nhân đó có giãn não thất,

lỗ Monro rộng và khối u có kích thước nhỏ hơn nên không cần phải mở qua đồi thị Còn trong tình huống này, não thất không giãn, lỗ Monro rất bé, kích thước u quá lớn nên không thể lấy u bằng đường đó được, do vậy chúng tôi chủ động mở rộng khoảng 10 mm

ở nhân đồi thị trước để tiếp cận và lấy khối u từng mảnh

Kết quả phẫu thuật, sau mổ 3 ngày, tình trạng bệnh nhân cải thiện rất nhiều, những cơn gồng cứng tứ chi đã giảm hẳn, phim chụp CLVT kiểm tra không còn u, không giãn não thất, không chảy máu Kiểm tra sau phẫu thuật 1 tháng, tình trạng bệnh nhân cải thiện rất tốt, bệnh nhân đã tỉnh và có nhận thức trở lại, bên liệt ban đầu cũng đang dần cải thiện vận động, cơ lực chi trên, chi dưới đạt 2/5, bên không liệt ban đầu cơ lực 4/5

Dù có cải thiện, nhưng do tình trạng gồng cứng mất vỏ đã xuất hiện trước mổ hơn 1 tháng nên cũng khiến cho các chi bị cứng và khó vận động Bệnh nhân vẫn cần phải tiếp tục tập phục hồi chức năng, cơ hội hồi phục

là vẫn còn chứ không bị liệt hoạt toàn Điều

đó chứng tỏ cấu trúc bao trong vẫn được bảo tồn phần nào và vẫn phục hồi được chức năng

V KẾT LUẬN

U quái chưa thuần thục là bệnh lý hiếm gặp trong não, điều trị chủ yếu là phẫu thuật kết hợp gamma knife nếu u còn tồn dư hoặc tái phát Khối u có kích thước khổng lồ, nằm

ở vùng tuyến tùng, não thất III, chèn ép thân não gây triệu chứng mất vỏ, giảm ý thức thực

sự là một thách thức với các phẫu thuật viên Việc lựa chọn đường mổ đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng về giải phẫu, vị trí, kích thước

Trang 7

khối u Đường mổ qua não thất bên qua đồi

thị cũng có thể được coi là một lựa chọn

thích hợp với những khối u nằm ở não thất

III

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Goyal N, Kakkar A, Singh PK, Sharma

MC, Chandra PS, Mahapatra AK, et al,

"Intracranial teratomas in children: a

clinicopathological study," Childs Nerv Syst,

vol 29, pp 2035-2042, 2013

2 Agrawal M, Uppin MS, Patibandla MR et

al, "Teratomas in central nervous system: a

clinico-morphological study with review of

literature," Neurol India, vol 58, pp

841-846, 2010

3 Liu Z, Lv X, Wang W, An J, Duan F, Feng

X, et al, "Imaging characteristics of primary

intracranial teratoma," Acta Radiol, vol 55,

pp 874-881, 2014

4 W H H F X T C J Zhang X, "Bones in

the medulla oblongata? A case report of

intracranial teratoma and review of the

literature," Front Pediatr, vol 9, 2021

5 Li Q, You C, Zan X, Chen N, Zhou L, Xu

J, "Mature cystic teratoma (dermoid cyst) in

the sylvian fissure: a case report and review

of the litterature," J Child Neurol, vol 27, pp

211-217, 2012

6 Maghrabi Y, Kurdi ME, Baeesa SS,

"Infratentorial immature teratoma of

congenital origin can be associated with a 20

year survival outcome: a case report and review of litterature," World Journal of Surgical Oncology, pp 17-22, 2019

7 Ellenbogen RG, Sekhar LN, Kitchen ND,

"Chirurgiei Neurologice," in Principles of neurologic surgery, Elseiver, 2018, pp

602-622

8 Huang X, Zhang R, Zhou LF, "Diangosis

and treatment of intracranial immature teratoma," Pediatr Neurosurg, vol 45, pp 354-360, 2009

9 Ogawa K, Toita T, Nakamura K, Uno T, Onishi H, Itami J et al, "Treatment and

prognosis of patients with intracranial nongerminomatous malignant germ cell tumors: a multiinstitutional retrospective analysis of 41 patients," Cancer, vol 98, pp 369-376, 2003

10 Noudel R, Vinchon M, Dhellemmes P, Litre CF, Rousseaux P, "Intracranial

teratomas in children: the role and timing of surgical removal," J Neurosurg Pediatr, vol

2, pp 331-338, 2008

11 Ha BJ, Kim YS, Cheong JH, "Large mature

cystic teratoma of the third ventricle in infancy: a case report and review of literatures," Brain Tumor Res Treat, vol 4,

no 1, pp 44-47, 2016

12 Yang JC, Huang JS, "Third ventricle

immature teratoma: a case report," Kaohsiung J Med Sci, vol 20, pp 192-197,

2004

Ngày đăng: 09/01/2023, 20:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w