1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều trị phẫu thuật u mạch thể hang đồi thị và cuống đại não bằng đường mổ qua thể chai, khe liên bán cầu đối bên

8 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều trị phẫu thuật u mạch thể hang đồi thị và cuống đại não bằng đường mổ qua thể chai, khe liên bán cầu đối bên
Tác giả Phạm Văn Thành Công, Nguyễn Thế Hào, Phạm Quỳnh Trang, Dương Văn Thăng, Khổng Ngọc Minh, Đào Việt Phương, Mai Duy Tôn
Trường học Bệnh viện Bạch Mai
Chuyên ngành Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật thần kinh
Thể loại Nghiên cứu hồi cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 596,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Điều trị phẫu thuật u mạch thể hang đồi thị và cuống đại não bằng đường mổ qua thể chai, khe liên bán cầu đối bên trình bày đánh giá khả năng và giới hạn tiếp cận và kết quả điều trị phẫu thuật u mạch thể hang vùng đồi thị, cuống đại não bằng đường mổ qua thể chai, khe liên bán cầu đối bên.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U MẠCH THỂ HANG ĐỒI THỊ

VÀ CUỐNG ĐẠI NÃO BẰNG ĐƯỜNG MỔ QUA THỂ CHAI,

KHE LIÊN BÁN CẦU ĐỐI BÊN

Phạm Văn Thành Công 1 , Nguyễn Thế Hào 1 , Phạm Quỳnh Trang 1 ,

Dương Văn Thăng 1 , Khổng Ngọc Minh 1 ,

Đào Việt Phương 1 , Mai Duy Tôn 1 TÓM TẮT 68

U mạch thể hang vùng đồi thị và cuống đại

não nằm ở sâu, khó tiếp cận Tuy nhiên có thể

phẫu thuật loại trừ hoàn toàn bằng đường mổ qua

thể chai, khe liên bán cầu đối bên

Mục tiêu: Đánh giá khả năng và giới hạn

tiếp cận và kết quả điều trị phẫu thuật u mạch thể

hang vùng đồi thị, cuống đại não bằng đường mổ

qua thể chai, khe liên bán cầu đối bên

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi

cứu 09 bệnh nhân u mạch thể hang đồi thị, cuống

đại não được phẫu thuật bằng đường mổ qua thể

chai đối bên từ năm 2018 đến năm 2022 Triệu

chứng lâm sàng trước – sau can thiệp thu thập

qua hồ sơ bệnh án, tái khám; hình ảnh học trước -

sau phẫu thuật được đánh giá về kích thước, vị

trí, khối máu tụ liên quan, tồn dư sau mổ

Kết quả: Tuổi trung bình: 22,1, 4 nam/ 5 nữ

88,9% được loại trừ hoàn toàn dị dạng Thời gian

theo dõi sau mổ trung bình 6,3 tháng mRS sau

mổ 0-1 điểm chiếm 88,9%, 1 bệnh nhân mRS 3

điểm, còn tồn dư khối và phẫu thuật lần 2 do giãn

não thất sau 3 tháng Đường kính khối dị dạng

trung bình 1,9 cm, đường kính khối máu tụ trung

1

Khoa Phẫu thuật thần kinh – Bệnh viện Bạch Mai

2 Trung tâm đột quỵ - Bệnh viện Bạch Mai

Chịu trách nhiệm chính: Phạm Văn Thành Công

Email: phamthanhcong1985@gmail.com

Ngày nhận bài: 10.10.2022

Ngày phản biện khoa học: 17.10.2022

Ngày duyệt bài: 31.10.2022

bình 2,5 cm 7/9 bệnh nhân có khối dị dạng nằm

ở vùng 3 đồi thị theo L Rangel-Castilla & R F Spetzler 8/9 bệnh nhân cải thiện triệu chứng lâm sàng sau mổ, 1/9 bệnh nhân không thay đổi triệu chứng

Kết luận: Đường mổ qua thể chai, khe liên

bán cầu đối bên là một cách tiếp cận hiệu quả và

an toàn với những khối u mạch thể hang vùng đồi thị và cuống đại não

SUMMARY SURGICAL TREAMENT OF THALAMIC AND MESENCEPHALIC CAVERNOUS MALFORMATION VIA

CONTRALATERAL INTERHEMISPHERIC TRANSCALLOSAL APPROACH

Thalamic and mesencephalic cavernous malfomations are deep-seated lesions which are difficult to access However, they can be completely removed surgically via contralateral interhemispheric transcallosal approach

Objective: Evaluating this approach’s limitation access and surgical result of Thalamic and mesencephalic lesions via contralateral interhemispheric transcallosal approach

Method: Retrospective study of 09 patients

with thalamic and mesencephalic cavernous malfomations, underwent surgical intervention via contralateral interhemispheric transcallosal approach at Bach Mai hospital from 2018 to

2022 Pre-post Op clinical symptoms evaluated

Trang 2

in patients’ record, pre and post intervention

imaging of tumoral size, location, adjacent

hematoma and residual tumor and follow-up

re-evaluation

Results: Mean age: 22.1, 4 male: 5 female

88.9% gross total resection The average

postoperative follow-up time was 6.3 months

Post-Op mRS 0-1: 88.9%, 1 patient mRS score 3

with residual tumor underwent second surgery

for hydrocephalus after 3 months Average

diameter of the cavernomas 1.9 cm and adjacent

hematoma 2.5 cm 7/9 cavernoma locating in

region 3 thalamus according to L

Rangel-Castilla & R F Spetzler 8/9 patients improved

clinical symptoms after surgery, 1/9 patients had

no clinical change

Conclusion: Contralateral interhemispheric

transcallosal approach is effective and safe for

thalamic and mesencephalic lesions removal

I ĐẶT VẤN ĐỀ

U mạch thể hang vùng đồi thị và cuống

đại não tương đối hiếm gặp (1) Điều trị

những tổn thương này còn nhiều khó khăn do

khối u nằm sâu và liên quan đến các cấu trúc

mạch máu và thần kinh quan trọng Phẫu

thuật u mạch thể hang vùng đồi thị và cuống

đại não cho đến nay vẫn là thách thức rất lớn

đối với phẫu thuật viên thần kinh Trước đây,

những tổn thương này thường được coi là

không thể phẫu thuật (4) Tuy nhiên với sự

phát triển của các kỹ thuật vi phẫu thuật hiện

đại cùng với sự tiến bộ trong ứng dụng các

phương tiện chẩn đoán hình ảnh và định vị

thần kinh trong mổ cho phép lập kế hoạch

phẫu thuật chính xác, thực hiện các ca mổ an

toàn hơn và ban đầu cho những kết quả khả

quan đối với các u mạch thể hang vùng này

(5)

U mạch thể hang vùng đồi thị có thể

được tiếp cận bằng các đường mổ qua vỏ não

hoặc qua khe liên bán cầu Tuy nhiên đường

mổ qua vỏ não có nhiều nhược điểm, gây nên những di chứng thần kinh nặng nề Ngược lại, đường mổ qua khe liên bán cầu ít làm tổn hại mô não lành hơn (6)

Đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu đối bên được nhiều tác giả sử dụng cho kết quả rất tốt đối với các tổn thương nằm ở phía bên hoặc cạnh bên của não thất bên (4,

6, 7, 8) Trên thế giới, các nghiên cứu mới chỉ giới hạn ở các báo cáo ca lâm sàng hoặc chuỗi nhỏ (6) Tại Việt Nam, cho đến nay hiện chưa có báo cáo về chủ đề này Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng tiếp cận, các khó khăn và kết quả điều trị phẫu thuật u mạch thể hang vùng đồi thị, hạ đồi và cuống đại não bằng đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu đối bên

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

09 bệnh nhân được chẩn đoán là u mạch thể hang vùng đồi thị hoặc cuống đại não và được phẫu thuật bằng đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu đối bên tại khoa Phẫu thuật thần kinh- bệnh viện bạch Mai từ 8/2/2018 đến 30/5/2022

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, cắt ngang, hồi cứu Đánh giá tình trạng lâm sàng trước - sau

mổ qua thu thập hồ sơ bệnh án và tái khám Lượng giá tình trạng lâm sàng trước - sau mổ bằng thang điểm Rankin cải tiến (mRS), trong đó kết quả tốt mRS từ 0-2 điểm So sánh sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng tại thời điểm trước mổ với thời điểm ra viện và tại lần tái khám cuối cùng

Đánh giá các đặc điểm trên hình ảnh học trước và sau mổ dựa trên phân tích về kích thước, vị trí khối u, khối máu tụ liên quan,

Trang 3

tồn dư khối u sau mổ và tình trạng giãn não

thất kèm theo

Lựa chọn bệnh nhân và đường mổ

Chỉ định mổ đặt ra đối với những bệnh

nhân u mạch thể hang vùng đồi thị và cuống

đại não có triệu chứng trên lâm sàng do chảy

máu hoặc do hiệu ứng khối, hoặc có thiếu

hụt thần kinh tiến triển do những lần chảy

máu tái phát hoặc những tổn thương có kích

thước ≥ 1cm (5)

Đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán

cầu đối bên là lựa chọn tốt nhằm giải quyết

các tổn thương nằm ở phía bên của não thất

bên (7) và các tổn thương phía dưới thể chai

(8) Chúng tôi sử dụng đường mổ này cho 7

bệnh nhân u mạch thể hang vùng bên của đồi

thị và 2 bệnh nhân u mạch thể hang vùng

cuống đại não

Kỹ thuật mổ

Đối với đường mổ qua thể chai, qua khe

liên bán cầu đối bên, các tác giả thường kê tư

thế bệnh nhân nằm ngửa với 1 gối độn lớn

đặt dưới vai cùng bên tổn thương, đầu bệnh

nhân cố định sao cho liềm đại não song song

với mặt đất, cổ bệnh nhân được gấp 45-60 độ

về phía tổn thương để tối ưu hóa tác dụng

của trọng lực như ván vén não tự nhiên và giúp cho phẫu thuật viên có góc nhìn tốt hơn

và tư thế thoải mái trong mổ (hình 1.A) (4, 6,

7, 8), tuy nhiên tư thế này khó áp dụng với những trường hợp cổ bệnh nhân ngắn, và dễ gây cản trở đường về của tĩnh mạch cảnh Do

đó chúng tôi kê bệnh nhân nằm nghiêng 90o

(Hình 2) Rạch da chữ U hoặc đường thẳng ngang qua đường giữa tại khớp trán đỉnh Mở volet xương 2/3 phía trước và 1/3 phía sau khớp trán đỉnh, qua xoang tĩnh mạch dọc trên lên phía trên 2-3 cm và xuống dưới 4-5 cm Màng cứng được mở theo hình chữ C bản

lề xoang tĩnh mạch dọc, bộc lộ tối đa liềm đại não và khe liên bán cầu

Nhờ việc hút bớt dịch não tủy và trọng lực kéo bán cầu đối bên tổn thương xuống dưới như 1 van vén não tự nhiên, việc bộc lộ khe liên bán cầu và thể chai được thực hiện 1 cách dễ dàng Định vị thần kinh trong mổ được sử dụng để xác định vị trí tổn thương, sau đó thể chai được mở 2 cm theo chiều dọc

ở vị trí tương ứng để đi vào não thất bên cùng bên với tổn thương

Hình 1 A, Tư thế đầu bệnh nhân với đường giữa song song với mặt đất,

cổ gấp 1 góc 45-60 độ về phía tổn thương (phía trên) B: Đường vào qua thể chai đối bên

Nguồn: Barrow Neurological Institute

Trang 4

Hình 2 A, Tư thế nằm nghiêng hoàn toàn 90 0 , đầu cao với đường giữa song song với mặt đất, cổ gấp 1 góc 45-60 độ về phía tổn thương (phía trên) B: Đường mổ chữ U

Nguồn: Khoa Phẫu thuật thần kinh – Bệnh viện Bạch Mai

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ tháng 2/2018 đến tháng 5/2022,

chúng tôi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ u mạch

thể hang vùng đồi thị và cuống đại não bằng

đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu

đối bên cho 9 bệnh nhân Tỷ lệ nam nữ là

4/5 Tuổi phát hiện bệnh trung bình là 22,1 Triệu chứng lâm sàng trước mổ chủ yếu: rối loạn cảm giác, đau đầu, yếu nửa người đối bên, chỉ có 1 bệnh nhân biểu hiện động kinh (bảng 1)

Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân và triệu chứng lâm sàng trước mổ

Giới tính (số bệnh nhân)

Triệu chứng lâm sàng trước mổ (%)

Trên phim cộng hưởng từ trước mổ, 2

bệnh nhân u mạch thể hang ở cuống đại não

phải, 3 trường hợp u nằm ở vùng 2 và 4

trường hợp u nằm ở vùng 3 của đồi thị (theo

phân loại của L Rangel-Castilla và R F

Spetzler) Đường kính trung bình của khối u 1,9 cm, kích thước khối máu tụ trung bình 2,5 cm Cả 9 trường hợp có khối máu tụ quanh u dính sát thành não thất liền kề (bảng 2)

Trang 5

Bảng 2 Đặc điểm hình ảnh học trên phim cộng hưởng từ trước mổ

Đường kính khối dị dạng trung bình (cm) 1,9

Đường kính khối máu tụ trung bình (cm) 2,5

Vị trí

Cắt bỏ hoàn toàn khối u đạt được ở 8/9

bệnh nhân (88,9%), 1 bệnh nhân có tồn dư

khối dị dạng sau mổ Trong nghiên cứu của

chúng tôi, với thời gian theo dõi trung bình

6,3 tháng, 8 bệnh nhân được cắt bỏ hoàn toàn

khối u đều có cải thiện triệu chứng lâm sàng

sau mổ (mRS 0-2 điểm), 1 bệnh nhân có khối

dị dạng tồn dư không thay đổi triệu chứng

sau mổ, xuất hiện tình trạng giãn não thất đòi

hỏi phẫu thuật dẫn lưu não thất ổ bụng sau 3 tháng (mRS 3 điểm) và không có bệnh nhân nào nặng hơn so với trước mổ Tuy nhiên có

1 bệnh nhân xuất hiện rối loạn trí nhớ ngắn hạn và thay đổi tính tình sau phẫu thuật Trong 8 bệnh nhân được cắt bỏ hoàn toàn, 1 bệnh nhân có khối u mạch thể hang ở vị trí tiểu não trái được phẫu thuật cắt bỏ sau 2 tuần cho kết quả tốt (mRS 0 điểm) (Bảng 3)

Bảng 3 Kết quả sau mổ và điểm Rankin sửa đổi ở lần khám cuối cùng

Thời gian theo dõi trung bình (tháng) 6,3

mRS γ

Thiếu sót thần kinh mới xuất hiện δ 11,1

β: 1 bệnh nhân mổ lấy khối u mạch thể hang ở vị trí khác (tiểu não trái), 1 bệnh nhân tồn

dư khối dị dạng được mổ dẫn lưu não thất ổ bụng sau 3 tháng do giãn não thất

γ : (modified Rankin Scale) Điểm Rankin sửa đổi ở lần tái khám cuối cùng

δ: 1 bệnh nhân có rối loạn trí nhớ ngắn hạn và thay đổi tính tình sau mổ

Trang 6

IV BÀN LUẬN

U mạch thể hang vùng đồi thị và cuống

đại não là những tổn thương nằm sâu, liên

quan chặt chẽ với những cấu trúc thần kinh

quan trọng như bao trong, hạch nền, bó

tháp Hiện nay vẫn còn những tranh cãi

trong việc lựa chọn điều trị đối với những tổn

thương này, từ điều trị nội khoa, xạ phẫu đến

phẫu thuật Lựa chọn phẫu thuật dựa trên

tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, vị trí và

kích thước của khối u, lịch sử tự nhiên của

tổn thương (1, 4 , 5) Phẫu thuật những tổn

thương này cần tuân theo nguyên tắc không

làm tổn thương các cấu trúc thần kinh chức

năng quan trọng xung quanh Do đó việc lựa

chọn đường mổ phù hợp cần xem xét sự liên

quan của tổn thương với các cấu trúc này

Hai đường mổ thường được sử dụng để

xử lý những tổn thương quanh não thất là

đường mổ qua vỏ não, qua não thất và đường

mổ qua thể chai, qua não thất (4, 7)

Đường mổ qua vỏ não, qua não thất

thường được sử dụng để tiếp cận những tổn

thương quanh não thất Mặc dù đường mổ

này cho khoảng cách tiếp cận ngắn hơn, trực

diện hơn nhưng có nhiều nhược điểm Thứ

nhất, đường mổ này làm tổn hại nhiều mô

não lành hơn, nguy cơ gây nên những thiếu

hụt chức năng thần kinh vĩnh viễn Thứ hai,

đường mổ qua nhu mô khó hơn do không có

các cấu trúc giải phẫu cố định để xác định

đường vào trong mổ Thêm vào đó, đường

mổ qua nhu mô sẽ khó thực hiện nếu não thất

không giãn Cuối cùng đường mổ này có tỷ

lệ gây động kinh sau mổ cao hơn (4, 6, 7)

Đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán

cầu đối bên được nhiều tác giả sử dụng để xử

lý các tổn thương nằm cạnh bên của não thất

bên (1, 4, 7, 8) và tổn thương phía dưới thể

chai (6) Đường mổ này có hai biến thể là

đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu

cùng bên và đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu đối bên Trong đó đường mổ cùng bên thường được áp dụng đối với các tổn thương nằm gần đường giữa hơn, như các khối u nằm ở vùng 2 đồi thị (1) Tuy nhiên với những tổn thương nằm lệch bên so với đường giữa hoặc tổn thương có kích thước lớn, việc tiếp cận giới hạn bên của tổn thương đòi hỏi góc làm việc lớn hơn, vén não nhiều hơn thì đường mổ qua khe liên bán cầu đối bên là 1 lựa chọn phù hợp Đường mổ qua khe liên bán cầu đối bên có nhiều ưu điểm Thứ nhất, đường mổ này không đi qua nhu mô não, chỉ đi qua khe liên bán cầu và thể chai nên giảm nguy cơ thiếu sót thần kinh sau mổ và giảm nguy cơ động kinh Thứ hai, đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu đối bên dễ xác định được đường vào hơn so với đường mổ qua nhu mô do các cấu trúc giải phẫu cố định và dễ nhận biết trong mổ Thêm vào đó, tư thế nằm nghiêng 90 độ và liềm đại não song song với mặt đất giúp cho bán cầu đối bên tổn thương được tách rời khỏi liềm đại não theo trọng lực, giống như 1 van vén não tự nhiên Do đó hạn chế được tổn thương do vén não gây ra Đồng thời, tư thế này giúp cho tổn thương ở bán cầu phía trên rơi xuống gần đường giữa hơn, giúp cho việc tiếp cận giới hạn bên của tổn thương dễ dàng hơn mà không cần vén não quá nhiều (1, 4, 6, 7, 8) Tất cả các trường hợp trong nghiên cứu của chúng tôi đều không cần sử dụng van vén não trong mổ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 7 trường hợp u mạch thể hang vùng đồi thị đều nằm ở vùng 2 và vùng 3 đồi thị (theo phân loại của L Rangel-Castilla và R F Spetzler) (1) Trong nghiên cứu của Rangel-Castilla và Spetzler, u mạch thể hang đồi thị nằm ở vùng

2 thường được phẫu thuật bằng đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu cùng bên

Trang 7

Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi,

tất cả những bệnh nhân u mạch thể hang đồi

thị ở vùng 2 và vùng 3 đều có thể tiếp cận an

toàn và hiệu quả bằng đường mổ đối bên

Thậm chí, 2 trường hợp u mạch thể hang

nằm ở cuống đại não, cũng có thể được xử lý

an toàn thông qua đường mổ này bằng việc

mở khe đám rối mạch mạc để xuống não thất

ba

Một số khó khăn khi thực hiện đường mổ

này Thứ nhất, khi mở màng nhện để bộc lộ

khe liên bán cầu có thể gây tổn thương

những tĩnh mạch cầu đổ về xoang tĩnh mạch

dọc trên Để khắc phục khó khăn này, chúng

tôi sử dụng định vị thần kinh để xác định vị

trí mở xương sao cho có ít ven cầu đổ về

xoang tĩnh mạch nhất và phẫu tích màng

nhện cẩn thận dưới kính vi phẫu và hạn chế

vén não tới mức tối đa Thứ hai, phẫu trường

sâu, một số trường hợp khối u không có biểu

hiện của thoái hóa hemosiderin lên bền mặt

não thất, nên việc lựa chọn điểm vào chính

xác gặp khó khăn Do đó, định vị thần kinh

trong mổ là rất quan trọng trong những

trường hợp này

V KẾT LUẬN

Đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán

cầu đối bên cho phép tiếp cận và xử lý an

toàn, hiệu quả đối với các tổn thương u mạch thể hang vùng đồi thị và cuống đại não

VI CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam 14 tuổi, vào viện vì đột ngột xuất hiện đau đầu, yếu nửa người trái,

cơ lực 3/5, kèm rối loạn cảm giác sâu nửa người trái Trên phim chụp MRI sọ não có hình ảnh tổn thương dạng u mạch thể hang chảy máu vị trí cuống đại não phải, kích thước 2x2,5cm, tổn thương nằm sát thành bên của não thất ba (hình 3.A,B)

Bệnh nhân được phẫu thuật vào ngày thứ

8 sau khởi phát đột quỵ bằng đường mổ qua thể chai, qua khe liên bán cầu đối bên dưới hướng dẫn của định vị thần kinh trong mổ Tổn thương được cắt bỏ hoàn toàn cho kết quả giải phẫu bệnh u mạch thể hang Sau

mổ ngày thứ ba cơ lực của bệnh nhân cải thiện 4/5, tuy nhiên vẫn còn rối loạn cảm giác sâu nửa người bên trái như trước mổ Tại thời điểm khám lại sau 1 tháng, cơ lực bệnh nhân hồi phục 5/5 và các triệu chứng về rối loạn cảm giác sâu được cải thiện và hồi phục hoàn toàn sau 3 tháng Trên phim chụp kiểm tra sau mổ 1 tháng, khối u được lấy bỏ hoàn toàn (hình 2.C)

D

Trang 8

Hình 3 A, B hình ảnh cộng hưởng từ trước mổ trên lát cắt axial và sagital, khối u mạch thể hang chảy máu vị trí cuống đại não phải C, hình ảnh cộng hưởng từ sau mổ trên lát

cắt axial, khối u được cắt bỏ hoàn toàn D: bệnh nhân ngày 1 sau mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Rangel-Castilla L, Spetzler RF: The 6

thalamic regions: surgical approaches to

thalamic cavernous malformations, operative

results, and clinical outcomes J Neurosurg

123:676–685, 2015

2 B.A.Gross, H.H.Batjer, I.A.Awad,

B.R.Bendok, Cavernous malformations of

the basal ganglia and thalamus, Neurosurgery

65 (1) (Jul 2009) 7–18 (discussion 18–19)

3 Peter S Amenta , Aaron S Dumont ,

Ricky Medel, Resection of a left

posterolateral thalamic cavernoma with the

Nico BrainPath sheath: Case report, technical

note, and review of the literature,

Interdisciplinary Neurosurgery: Advanced

Techniques and Case Management 5 (2016)

12–17

4 Tak Gun Jang, Seung Heon Cha, Won Ho

Cho, Contralateral Interhemispheric

for Thalamic Cystic Cavernous

Malformation, Brain Tumor Res Treat

2021;9(2):87-92 / pISSN 2288-2405 / eISSN 2288-2413

5 K N Kearns, C J Chen, P Tvrdik et al.,

Outcomes of basal ganglia and thalamic cavernous malformation surgery: A meta-analysis, Journal of Clinical Neuroscience

6 Hasan A Zaidi, MD Shakeel A Chowdhry, MD Peter Nakaji, MD Adib A Abla, MD Robert F Spetzler, MD,

Contralateral Interhemispheric Approach to Deep-Seated Cavernous Malformations: Surgical Considerations and Clinical Outcomes in 31 Consecutive Cases, Neurosurgery 75:80–86, 2014

7 Michael T Lawton, M.D., John G Golfinos, M.D., Robert F Spetzler, M.D,

The Contralateral Transcallosal Approach: Experience with 32 Patients, Neurosurgery 39:729-735, 1996

8 F Chaddad-Neto et al., Contralateral

anterior interhemispherictranscallosal-transrostral approach to the subcallosal region: a novel surgical technique, J Neurosurg November 3, 2017

Ngày đăng: 09/01/2023, 20:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm