Bài viết Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật cắt xương hình chêm nắn chỉnh gù cột sống do bệnh lý viêm cột sống dính khớp trình bày đánh giá kết quả về lâm sàng và hình ảnh học sau phẫu thuật cắt chêm xương đốt sống để nắn chỉnh gù toàn bộ cột sống do bệnh viêm cột sống dính khớp.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CẮT XƯƠNG HÌNH CHÊM NẮN CHỈNH GÙ CỘT SỐNG
DO BỆNH LÝ VIÊM CỘT SỐNG DÍNH KHỚP
Nguyễn Duy Thụy 1 , Phạm Trọng Thoan 1 , Phan Trọng Hậu 1 TÓM TẮT 63
Mục tiêu: Đánh giá kết quả về lâm sàng và
hình ảnh học sau phẫu thuật cắt chêm xương đốt
sống để nắn chỉnh gù toàn bộ cột sống do bệnh
viêm cột sống dính khớp
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến cứu mô tả lâm sàng theo chiều
dọc trên 69 bệnh nhân gù toàn bộ cột sống mức
độ nặng được phẫu thuật cắt xương hình chêm
qua cuống đốt sống để nắn chỉnh gù từ năm 2010
– 2022 Đánh giá kết quả lâm sàng bằng bộ câu
hỏi SRS-22 (scoliosis research society outcomes
instrument -22), chỉ số ODI (Owestry Disability
Index), đánh giá kết quả nắn chỉnh dựa trên các
chỉ số gù trên hình ảnh X-quang tại thời điểm sau
phẫu thuật 3 tháng và theo dõi cuối cùng Thu
thập các dữ liệu về các biến chứng
Kết quả: Thời gian theo dõi trung bình 30,1
tháng (dao động 3-68 tháng) Góc nắn chỉnh
trung bình đạt được 24 0 ± 20 0 dao động (-14 0 ;
71 0 ) Điểm Oswestry trung bình cải thiện có ý
nghĩa từ 50 ± 15 (dao động 31,7 – 88,3) trước
phẫu thuật về 22,5 ± 6 (dao động 16,7 – 46,6) sau
phẫu thuật Điểm SRS-22 cũng cải thiện, nhưng
chủ yếu thay đổi về phần hình thể thẩm mỹ và
tinh thần Ghi nhận 28 biến chứng liên quan đến
1
Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Trọng Thoan
Email: thoanspine108@gmail.com
Ngày nhận bài: 16.10.2022
Ngày phản biện khoa học: 23.10.2022
phẫu thuật xảy ra ở 12 bệnh nhân (chiếm 17,3%)
và không có trường hợp tử vong
Kết luận: Phẫu thuật cắt chêm xương thân
đốt sống thắt lưng để nắn chỉnh biến dạng tạo khối, gù cứng ở bệnh nhân bị bệnh viêm cột sống dính khớp là phương pháp nắn chỉnh hiệu quả và
an toàn, mang đến sự cải thiện chất lượng sống cho người bệnh
Từ khóa: viêm cột sống dính khớp, gù toàn
bộ cột sống, cắt chêm xương thân đốt sống
SUMMARY
Purposes: To report the clinical and
radiological outcomes after corrective osteotomy
in ankylosing spondylitis patients
Subjects and methods: We retrospectively
analyzed ankylosing spondylitis patients who underwent corrective osteotomy between 2010 and 2022 The radiographic assessments included the sagittal vertical axis (SVA), spinopelvic alignment parameters, correction angle The clinical outcomes were assessed by the Oswestry Disability Index (ODI) scores and Scoliosis Research Society (SRS-22) index
Results: A total of 91 corrective osteotomies
were performed in 69 patients with a mean follow-up of 30.1 months (range, 3 to 68 months) The mean correction angles were 24 0 ±
20 0 with one-level PSO, range (-14 0 to 71 0 ) The thoracolumbar type was the most common The outcome analysis showed a significant improvement in both the ODI score and SRS-22 (p < 0.05) There were 28 surgery-related
Trang 2complications in 12 patients (17,3%), but mostly
occurred in two-level PSO group
Conclusion: Corrective osteotomy is an
effective method for treating a fixed kyphotic
deformity occurring in ankylosing spondylitis,
resulting in satisfactory outcomes with
acceptable complications
Keywords: Ankylosing Spondylitis, global
kyphosis, Pedicle Subtraction Osteotomy
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viêm cột sống dính khớp (VCSDK)
là bệnh lý viêm mạn tính kéo dài đặc trưng
bởi tình trạng đau và cứng cột sống tiến triển
Nguyên nhân của bệnh chưa được biết rõ
hoàn toàn Có hai đặc điểm chính là hiện
tượng viêm và xơ hóa, calci hóa các dây
chằng, bao khớp (đặc biệt tại vị trí cột sống),
các điểm bám gân Gù cột sống là một trong
những biến chứng nặng nề của bệnh, làm ảnh
hưởng rất nhiều đến chất lượng sống của
người bệnh như: gù cột sống nặng làm ảnh
hưởng thẩm mĩ và hạn chế chức năng hô hấp,
đau thắt lưng do mất vững cột sống (khớp
giả) [7] Phẫu thuật cắt xương nắn chỉnh gù là
phương pháp chủ yếu để cải thiện hình thể
biến dạng gù cứng tạo khối và có hiệu quả rõ
rệt nâng cao chất lượng sống người bệnh Kĩ
thuật cắt chêm xương thân đốt (Pedicle
Subtraction Osteotomy - PSO) đã được sử
dụng phổ biến trên thế giới để nắn chỉnh biến
dạng gù cứng cột sống do VCSDK [3] [4]
[7] Từ năm 2012 đến 2022, chúng tôi đã tiến
hành phẫu thuật cho 69 bệnh nhân gù toàn bộ
cột sống bằng kĩ thuật cắt chêm xương thân
đốt sống thắt lưng, cố định và nắn chỉnh gù
cột sống, ghép xương Vì vậy, chúng tôi tiến
hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá kết quả
điều trị phẫu thuật cắt chêm xương nắn
chỉnh gù cột sống do bệnh lí viêm cột sống dính khớp” nhằm mục tiêu: Đánh giá kết
quả nắn chỉnh gù về hình ảnh học X-quang
và lâm sàng sau điều trị phẫu thuật cắt chêm xương cột sống ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là 69 bệnh nhân liên tiếp được
chẩn đoán gù cột sống do bệnh lý viêm cột sống dính khớp được phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ năm 2012 đến tháng 5 năm 2022
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả lâm sàng theo chiều dọc Số liệu nghiên cứu được xử lý trên máy tính theo chương trình phần mềm y học SpSS 20
2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
-Lựa chọn bệnh nhân phẫu thuật theo phân loại của Wang[7]
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không đủ điều kiện gây mê hồi sức
2.2.4 Phương pháp phẫu thuật
- Phương pháp và kỹ thuật cắt xương theo Wang[7]
2.2.5 Đánh giá kết quả
Đánh giá lâm sàng bằng bộ câu hỏi của Hội nghiên cứu vẹo cột sống SRS-22
Kết quả nắn chỉnh gù theo các chỉ số đo đạc trên ảnh phim X-quang nghiêng [7]
- Các tai biến, biến chứng trong và sau
mổ liên quan đến phẫu thuật và gây mê hồi sức
Trang 3III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả nắn chỉnh theo các chỉ số đánh giá gù cột sống
Bảng 1 So sánh các chỉ số đánh giá gù giữa trước và sau phẫu thuật
Thông tin hình ảnh X-quang
Trước phẫu thuật
Sau phẫu thuật Góc gù cột sống ngực (TK) 570 ± 180 530 ± 150
Góc ưỡn cột sống thắt lưng (LL) 210 ± 240
(-470; 820) -28
0 ± 170
Góc nắn chỉnh = (trước mổ(TK+LL) – sau mổ (TK+LL) 260 ± 200
Góc gù vùng chuyển tiếp ngực – thắt lưng 400 ± 14 210 ± 170
Góc gù toàn bộ cột sống (GK) 870 ± 25 530 ± 150 Góc nghiêng xương chậu (PI) 530 ± 15 520 ± 130
Khoảng cách từ đường dây rọi C7 đến S1 (SVA) (cm) 26 ± 7,4 14,4 ± 8,6
Góc cột sống xương chậu (SPA) 930 ± 23 1290 ± 190
Góc cột sống xương cùng ( SSA) 580 ± 21 920 ± 130
Độ nghiêng cột sống (C7 tilt) 500 ± 20 730 ± 120
Nhận xét: Có sự khác biệt về kết quả nắn chỉnh theo các chỉ số giữa trước và sau phẫu
thuật với p< 0,05 Không có sự khác biệt về hiệu quả nắn chỉnh giữa hai nhóm
Bảng 2 Lựa chọn mức cắt chêm xương và góc nắn chỉnh đạt được
Vị trí (n) Góc độ trung bình (dao động)
Chỉ số OVA
(Góc thân đốt sống
sau cắt xương nắn
chỉnh) đơn vị (độ)
Nhận xét: Chúng tôi thực hiện cắt chêm xương 91 thân đốt trên 69 bệnh nhân Vị trí cắt
chêm xương phổ biến tại đốt sống L3 với 32 đốt sống, chiếm 35,1% (32/91) Trong đó, cắt chêm xương 2 vị trí ở 22 bệnh nhân và 1 vị trí ở 47 bệnh nhân còn lại Nhìn chung, cắt xương
vị trí đốt sống càng thấp thì góc đạt được khi nắn chỉnh càng nhiều, với OVA trung bình đạt được 320
3.2 Các tai biến, biến chứng với phẫu thuật nắn chỉnh gù
Bảng 3 Các tai biến, biến chứng, thông tin liên quan đến phẫu thuật và gây mê hồi sức
Số lượng
Thời gian phẫu thuật (phút) 297 ± 62 (180 – 480)
Trang 4Rách màng cứng 11
Nhận xét: Thời gian phẫu thuật và lượng máu mất của nhóm cắt chêm xương hai vị trí
nhiều hơn so với nhóm một đốt sống Tần xuất và mức độ nặng của các biến chứng thường xảy ra ở nhóm cắt xương hình chêm hai mức đốt sống, với n = 25
IV BÀN LUẬN
4.1 Chỉ định và mục tiêu phẫu thuật
Gù toàn bộ cột sống là một biến chứng
nặng nề và thường gặp trong bệnh cảnh viêm
cột sống dính khớp (VCSDK), thường gặp ở
nam giới (92,7%) và ở độ tuổi 30 - 49 tuổi
(chiếm 65,2%)_ Nếu không được điều trị
tích cực, bệnh VCSDK có thể gây ra biến
dạng gù cột sống vùng ngực thắt lưng, gây
ảnh hưởng đến 30% bệnh nhân ở giai đoạn
muộn [5] Trong một nhóm BN được theo
dõi dọc suốt 9 năm, có đến 49% BN VCSDK
sẽ có tiến triển gù cột sống làm mất cân bằng
trên diện cắt dọc [1] Gù cột sống đến mức
độ nặng sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất
lượng sống của người bệnh VCSDK như:
làm xấu hình thể thẩm mĩ, hạn chế các hoạt
động tâm lí xã hội, người bệnh mất tự tin khi
hòa nhập cộng đồng, làm giảm hoạt động thể
chất và hạn chế chức năng hô hấp - tim mạch
và đau thắt lưng do mất vững cột sống (khớp
giả) Chỉ số SRS-22 và ODI trung bình trước
phẫu thuật lần lượt là 9,3 ± 1,4 điểm và 50,1
± 14,9 Đáng chú ý, yếu tố thẩm mĩ và tinh
thần của người bệnh có điểm thấp nhất, với
1,56 ± 0,5 điểm và 1,43 ± 0,29 điểm, điều
này thường thôi thúc BN muốn đi phẫu thuật
Trong khi đó, điểm SRS-22 cho phần chức
năng và đau là 2,04 ± 0,34 và 3,02 ± 0,51
điểm Lí do phẫu thuật chủ yếu trên lâm sàng
là gù biến dạng nặng gây hạn chế tầm nhìn,
với chỉ số CBVA (góc trán-cằm) là 320 ±
270, dao động (-170; 1050) Ngoài ra, chỉ số SVA (khoảng cách đường dây rọi C7 đến S1) trung bình là 25,8 ± 7,5 cm , dao động (6,0 ;
44 cm) Một số lí do khác của phẫu thuật như: BN thường than phiền mệt mỏi, khó thở khi gắng sức (21 BN có rối loạn thông khí hô hấp, chiếm 30,4%) và sút cân, gầy, ăn uống kém do biến dạng gù làm gấp bụng, gây chèn
ép tiêu hóa (40 BN, chiếm 58%) Sau phẫu thuật, chất lượng sống của người bệnh cải thiện rõ rệt, với chỉ số SRS-22 là 22,8 ± 1,8; chỉ số ODI là 22,4 ± 5,8, có sự khác biệt so với trước mổ với p < 0,05
Những tiến bộ trong công nghệ về dụng
cụ cố định cột sống đã thay đổi sâu sắc việc điều trị phẫu thuật ở giai đoạn muộn của bệnh lí VCSDK Những mục tiêu của phẫu thuật cắt xương nắn chỉnh cho gù cột sống do VCSDK bao gồm khôi phục lại tầm nhìn về nằm ngang, cải thiện được hình thể thẩm mĩ, giúp BN nằm ngửa được, đứng, đi lại và ngồi trong tư thế cân bằng, giảm đau lưng do mỏi mệt cơ, cải thiện chức năng hô hấp và tiêu hóa do chèn ép lên các tạng ở những BN gù mức độ nặng [2] [7] Đặc biệt, có đến 35/69
BN, chiếm 50,7% có cải thiện về cân nặng và thể lực hơn sau với trước mổ nhờ có sự ăn uống tốt hơn Ngoài ra, với nhóm bệnh nhân
gù toàn bộ cột sống có kèm theo tổn thương Andersson (khớp giả), thang điểm đau
Trang 5(VAS) cải thiện rõ rệt giữa trước và sau
phẫu thuật, điểm VAS tương ứng là 7,2 ± 1,5
và 3,1 ± 0,6 Do tình trạng dính cứng của
toàn bộ các cấu trúc, cột sống hoạt động
giống như một cấu trúc xương dài, hình ống
hơn là một hệ thống khớp nối; cho nên để có
thể nắn chỉnh được biến dạng cong gù thì bắt
buộc phải cắt một phần xương cột sống, tạo
sự lỏng lẻo nhất định, nắn chỉnh cột sống
Phẫu thuật chỉnh gù là một cứu cánh và nên
được triển khai sớm Tuy nhiên, kĩ thuật nắn
chỉnh gù cột sống do bệnh lí VCSDK có
nhiều khó khăn, phức tạp, thời gian mổ kéo
dài, có nguy cơ tổn thương thần kinh và
nhiều thách thức chu phẫu [5] Do tính chất
dính cứng nhưng giòn của xương cột sống do
bệnh lí VCSDK tạo ra, nên những BN này dễ
bị tổn thương thần kinh Ngoài ra, chất lượng
xương kém do thưa xương và loãng xương
có thể dẫn đến việc cố định kém và lỏng lẻo
các dụng cụ cố định [7]
Gù cột sống ngực thắt lưng mức độ nặng
dẫn đến tình trạng thân người nghiêng ra
trước và phần đầu mặt cúi xuống Khả năng nhìn lên trên mức nhìn ngang của bệnh nhân ngày càng xấu dần đi Trung tâm của trọng lượng người bệnh có xu hướng đổ ra phía trước, dẫn đến tư thế thân người nghiêng đổ
ra trước và nhìn cúi xuống đất, đây là điểm đặc trưng của giai đoạn tiến triển VCSDK
Gù cứng, mất cân bằng dương toàn bộ cột sống và gặp khó khăn trong tầm nhìn quan sát là những phiền toái hay gặp phải và là vấn đề phổ biến nhất ở những bệnh nhân VCSDK có biến dạng gù nặng Những đối tượng BN này còn hay bị khớp giả cột sống
do chấn thương hoặc vôi hóa trì hoãn, dẫn đến biến dạng tiến triển nhanh, đau lưng nặng hoặc có triệu chứng thần kinh do chèn
ép của tổ chức xơ – xương hình thành quanh vùng tổn thương Trong nhóm nghiên cứu, có
7 bệnh nhân bị khớp giả thân đốt (tổn thương Andersson) gây đau thắt lưng kiểu mất vững, điểm VAS trước và sau phẫu thuật của những ca này lần lượt là 7,2 ± 1,5 và 3,1 ± 0,6
Hình 3 Cách đo chỉ số góc trán-cằm (CBVA)
Trang 6Trong nỗ lực chống lại tư thế này để giữ
cân bằng theo trục cột sống, phản ứng tự
nhiên của cơ thể người bệnh là phải gấp cổ
chân, gấp khớp gối và làm đảo ngược chiều
nghiêng của khung chậu lên trên và ra sau
nhằm giữ khớp háng ở tư thế duỗi và làm
nghiêng toàn bộ phần cột sống bị dính cứng
trở lại ra phía sau Tư thế này thường không
thể bù trừ được hoàn toàn mức độ gù cột
sống ngực thắt lưng Bởi vậy, tư thế đứng
phản ánh đúng tình trạng nghiêng khung
chậu tối đa ra sau, điều này được chứng minh
trên hình ảnh X-quang bởi góc nghiêng
xương cùng đạt đến mức về hoàn toàn ở mức
mặt phẳng ngang (0 độ) Tư thế này về mặt
cơ sinh học là không hiệu quả và gây đau
mỏi, người bệnh mau cảm thấy mệt mỏi khi
đi lại và đứng Khi khớp háng ở tư thế duỗi
tối đa, có một giới hạn về dáng đi nghiêng ra
sau, điều này làm tăng mức mất cân bằng
thân người đổ về trước khi đi bộ Biến dạng
gù làm cho cơ vùng cột sống chịu nhiều lực
căng liên tục và gây ra đau lưng nặng dần
lên, hình thành sự mệt mỏi của cơ Gù cột
sống ngực thắt lưng xấu dần đi thậm chí còn
liên quan đến chèn ép nội tạng dẫn đến các
biến chứng ổ bụng hoặc giảm chức năng hô
hấp Bệnh nhân có mức độ gù lớn không thể
nhìn thẳng được Để nhìn đường khi đi bộ,
người bệnh phải ngửa cổ, gấp khớp háng và
khớp gối Đi bộ trong tình trạng bù trừ của
các khớp nên chóng mệt mỏi, thể lực chung
thường yếu Người bệnh luôn có tâm lí tự ti,
lo lắng về thẩm mĩ, ngại tiếp xúc với người
xung quanh, mất cơ hội việc làm và có đến
15 người bệnh không lập gia đình được
4.2 Kỹ thuật cắt xương trong nắn
chỉnh gù cột sống
Bệnh nhân được gây mê nội khí quản
bằng ống nội khí quản lò xo và đặt tư thế
phẫu thuật nằm sấp trên bàn mổ đặc biệt cho
phép gấp góc tạo hình chữ V ngược, để cho phù hợp với biến dạng cong gù của cột sống, đồng thời tạo thuận lợi cho thì mổ nắn chỉnh biến dạng gù trong quá trình phẫu thuật Kĩ thuật cắt chêm xương (Pedicle Subtraction Osteotomy - PSO) bao gồm cắt xương thuộc cột trụ sau và phần xương qua cuống sống dạng hình chêm, cũng như là bản lề nằm tại
vỏ xương phía trước thân đốt sống Sau khi bộc lộ, bắt vít cố định qua cuống sống vào thân đốt phía trên và phía dưới thân đốt sống
dự định cắt xương Mở đầu thì cắt xương bằng cách tiến hành cắt gai sau, cung sau, mấu khớp, gai ngang, bộc lộ cuống sống hai bên, vén bảo vệ hai rễ thần kinh trên và dưới cuống sống Thực hiện cắt cung sau rộng rãi
để ngăn ngừa chèn ép màng tủy sau khi nắn chỉnh Chú ý phải phẫu tích tỉ mỉ phần màng cứng vì không còn tổ chức mỡ ngoài màng cứng giữa màng cứng và cấu trúc xương, màng cứng đôi khi dính liền với cung sau Sau khi cuống sống được bộc lộ tách biệt ra, phần xương xốp được lấy bỏ, hình thành nên các lỗ tại cuống sống, qua đó dùng curet lấy phần xương trong thân đốt Sau đó, phần xương xốp của thân đốt được đục cắt bằng dụng cụ đục xương hoặc curet và phần khoang trống khuyết xương hình chữ V được tạo ra Điều quan trọng là đảm bảo sự cân xứng của phần xương được cắt hai bên Xương được cắt theo hình chêm dọc theo sát
bờ trên và bờ dưới cuống sống, cho đến 1/3 phía trước thân đốt sống và từ thành bên đốt sống tiến vào đường giữa Vỏ xương phía trước thân đốt sống không được đục cắt mà chỉ được làm yếu để nó đóng vai trò như một điểm tựa để khép lại khoảng trống tại xương
bị cắt bỏ Như vậy, cột trụ trước không bị kéo dài ra trong khi nắn chỉnh nên giảm được rủi ro làm tổn thương các cấu trúc mạch máu phía trước cột sống [7]
Trang 74.3 Tai biến, biến chứng
Tỷ lệ tai biến, biến chứng nói chung là
30,4% (21/69), trong đó biến chứng có tính
chất nghiêm trọng như trụy tim mạch trong
mổ (n=2), tổn thương thần kinh lâu dài
(n=4), chậm lành vết mổ (n=4), đau thắt lưng
cùng - đau khớp cùng chậu (n=4) khiến kéo
dài thời gian nằm viện (trung bình 19,7 ngày,
dao động 10 – 59 ngày) Tất cả các tai biến,
biến chứng nặng đều phục hồi tốt, không làm
người bệnh nặng hơn so với trước phẫu thuật
xảy ra ở 11 bệnh nhân (chiếm 15,9%) Về lý
thuyết, cuộc mổ của nhóm cắt đục cắt chêm
xương hai vị trí sẽ khó khăn, phức tạp và lâu
hơn, đồng thời làm gia tăng tỉ lệ tai biến,
biến chứng so với nhóm một vị trí Tần xuất
gặp các tai biến, biến chứng và khó khăn
trong cuộc mổ được ghi nhận nhiều hơn ở
nhóm cắt chêm xương hai đốt sống, với 6/22
BN, chiếm tỉ lệ 27,2%
Mất máu số lượng lớn chủ yếu xảy ra ở
thì đục cắt xương thân đốt sống, thời gian
trung bình trong thì mổ này là 45 phút, máu
chảy từ xương xốp nên rất khó cầm máu Rối
loạn tuần hoàn nghiêm trọng đến mức ngừng
tim ngay trong mổ, đúng thì nắn chỉnh, khép
kín khoảng trống cắt chêm xương (bằng cách
thay đổi tư thế bàn mổ từ trạng thái gấp về
duỗi tối đa và ép giữa hai đầu vít bắc qua đốt
sống cắt chêm xương) gặp ở 2 ca, may mắn
cả hai trường hợp này đều được hồi sức
chống sốc tích cực, kịp thời và hồi phục hoàn
toàn, không để lai di chứng toàn thân Để
giảm thiểu nguy cơ rối loạn đông máu do
truyền máu số lượng lớn, chúng tôi sử dụng
truyền máu hoàn hồi (cell saver) cho 5 bệnh
nhân Tuy nhiên, không có ca nào bị rối loạn đông máu do truyền máu số lượng lớn
Có nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình gây mê hồi sức cho các ca mổ nắn chỉnh gù cột sống do VCSDK như sau: đảm bảo thông khí, đặt ống nội khí quản, kiểm soát huyết động, cân bằng dịch máu truyền vào cơ thế, kiểm soát thân nhiệt, đảm bảo tư thế phẫu thuật chắc chắn không bị tỳ đè Nguyên nhân chính là những thay đổi chức năng sinh lí hô hấp, tuần hoàn diễn ra ngay ngay trong thì nắn chỉnh (cắt chêm xương, khép khoảng trống chữ V bằng cách thay đổi
tư thế bàn mổ và ép giữa hai đầu vít)
Rách màng cứng xảy ra ở 11 BN chiếm
tỷ lệ 15,9%, trong đó phẫu thuật lại một trường hợp để vá rò dịch não tủy do rách và khuyết màng cứng Đặc điểm của màng cứng rất mỏng, thiểu dưỡng và dính chặt vào cung sau, dây chằng vàng bị xơ hóa rất cứng và dính liền với màng cứng đặc biệt hay gặp ở những bệnh nhân bị gù nặng cột sống hàng chục năm [7] Do vậy, khi cắt xương rất khó phẫu tích và bảo toàn nguyên vẹn màng cứng Cách xử trí khi rách màng cứng: khâu
vá màng cứng, dùng thêm keo sinh học hoặc màng cứng nhân tạo phủ lên
Tổn thương rễ thần kinh thoáng qua có 5
BN, biểu hiện: tê bì và đau một bên chân kiểu rễ thần kinh kéo dài vài tuần sau mổ tuy nhiên BN vẫn tập đi lại tốt sau mổ Tổn thương rễ thần kinh vĩnh viễn với các rễ L2, L3 một bên chân khiến 8 BN có bại yếu gấp đùi, tê bì chân nhiều, BN tập đi lại hạn chế Các rễ thần kinh bị tổn thương tương ứng với
vị trí cắt chêm xương đốt sống Không có
Trang 8trường hợp nào bị bắt vít lệch vào ống sống
gây tổn thương rễ thần kinh
V KẾT LUẬN
Phẫu thuật chỉnh hình biến dạng gù bằng
kĩ thuật cắt chêm xương thân đốt sống (PSO)
kết hợp với kĩ thuật cố định cột sống qua
cuống cung và ghép xương 360 độ là phương
pháp điều trị tích cực và rất hiệu quả với
những bệnh nhân bị VCSDK có di chứng gù
nặng toàn bộ cột sống vùng ngực và thắt
lưng, thực sự cải thiện rõ rệt về mặt chức
năng và chất lượng sống của người bệnh
Các tai biến, biến chứng liên quan đến phẫu
thuật, gây mê hồi sức gây ảnh hưởng đến
chức năng thần kinh kéo dài, phải mổ lại,
khiến bệnh nhân nằm viện lâu ngày ở mức
chấp nhận được, với tỷ lệ chung là 15,9%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Atici, Y., Akman, Y E., Balioglu, M B.,
Kargin, D., Kaygusuz, M A (2016), “Two
level pedicle substraction osteotomies for the
treatment of severe fixed sagittal plane
deformity: computer software-assisted
preoperative planning and assessing”, Eur
Spine J Vol 25, issue 8, p 2461-70
2 Ki-Tack Kim, MD, Dae-Hyun Park, MD*,
Sang-Hun Lee, MD, Jung-Hee Lee, MD
(2015), “Results of Corrective Osteotomy and Treatment Strategy for Ankylosing Spondylitis with Kyphotic Deformity”, Clinics in Orthopedic Surgery • Vol 7, No
3
3 H Koller1,2 · M Mayer1,3 · A Hempfing1,3 · J Koller1,3 (2017),
“Osteotomies in ankylosing spondylitis: where, how many, and how much?”, Eur Spine J
4 Shin, J K., Lee, J S, Goh, T S., Son, S M
(2014), “Correlation between clinical outcome and spinopelvic parameters in ankylosing spondylitis”, Eur Spine J, vol 23,
p 242-7
5 Yan Wang (2019) Surgical treatment of
ankylosing spondylitis deformity, Springer book
6 Zhang, H Q., Huang, J., Guo, C F., Liu,
S H., Tang, M X (2014), “Two-level
pedicle subtraction osteotomy for severe thoracolumbar kyphotic deformity in ankylosing spondylitis”, Eur Spine J, issue 1,
p 234-41
7 Zhong, W Chen, Z., Zeng, Y., Sun, C., Li, W., Qi, Q., Guo, Z (2019), “Two-Level
Osteotomy for the Corrective Surgery of Severe Kyphosis From Ankylosing Spondylitis: A Retrospective Series”, Spine (Phila Pa 1976), issue 76, p 1638-1646