1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN_ KHẢ NĂNG HIỆN THỰC

26 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận - Kiên Giang hiện nay qua phân tích của phạm trù khả năng và hiện thực
Tác giả Phạm Thị Bích Nhu, TS. Lê Ngọc Triết
Người hướng dẫn TS. Lê Ngọc Triết
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Triết học hệ thống thông tin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 403,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SAU ĐẠI HỌC NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN VẤN ĐỀ SỐ HÓA DỮ LIỆU QUA PHÂN TÍCH CỦA PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC Tiểu luận dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin nói chung và cặp phạm trù khả năng hiện thực nói riêng với phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp như phân tích, tổng hợp, đánh giá;

Trang 1

KHOA SAU ĐẠI HỌC

- -

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SAU ĐẠI HỌC NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN

TÊN ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ SỐ HÓA DỮ LIỆU TẠI TRƯỜNG THPT VĨNH THUẬN - KIÊN GIANG HIỆN NAY QUA PHÂN TÍCH CỦA PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG-HIỆN THỰC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN THỰC HIỆN

TS Lê Ngọc Triết Phạm Thị Bích Nhu

Lớp: DI2225SU MSHV: M2522023 Nhóm: ML05

CẦN THƠ – 2023

Trang 2

KHOA SAU ĐẠI HỌC

- -

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SAU ĐẠI HỌC NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN

TÊN ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ SỐ HÓA DỮ LIỆU TẠI TRƯỜNG THPT VĨNH THUẬN - KIÊN GIANG HIỆN NAY QUA PHÂN TÍCH CỦA PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG-HIỆN THỰC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN THỰC HIỆN

TS Lê Ngọc Triết Phạm Thị Bích Nhu

Lớp: DI2225SU MSHV: M2522023 Nhóm: ML05

CẦN THƠ – 2023

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Kết cấu của tiểu luận 3

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ PHẠM TRÙ VÀ CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC 4

1.1 Phạm trù và bản chất của phạm trù 4

1.2 Phạm trù khả năng và hiện thực 5

1.2.1 Khái niệm khả năng và hiện thực 5

1.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực 7

1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 9

CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC SỐ HÓA DỮ LIỆU 11

TẠI TRƯỜNG THPT VĨNH THUẬN - KIÊN GIANG HIỆN NAY 11

2.1 Vai trò của số hóa dữ liệu 11

2.1.1 Khái niệm về số hóa dữ liệu 11

2.1.2 Vai trò của hoạt động số hóa dữ liệu 12

2.2.3 Một số yếu tố quan trọng liên quan đến số hóa dữ liệu 13

2.2.4 Quy trình số hóa dữ liệu 14

2.2 Vấn đề số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận - Kiên Giang hiện nay qua phân tích cặp phạm trù khả năng và hiện thực 15

2.2.1 Phân tích khả năng số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận – Kiên Giang 15

2.2.1 Hiện thực số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận – Kiên Giang 17

2.3 Những kết quả và hạn chế khi thực hiện số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang 19

2.3.2 Những kết quả đạt được 19

2.3.2 Những hạn chế 19

2.3.3 Giải pháp thúc đẩy số hóa dữ liệu tiến đến chuyển đổi số 20

KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức Triết học được coi là “khoa học của mọi khoa học”, nội dung chính của triết học bàn về con người và vị trí của con người trong thế giới mà họ đang sinh sống, có lẽ chính vì vậy mà triết học vừa mang tính tổng quát vừa mang tính cụ thể đối với mọi hoạt động trong xã hội kể cả về lý luận và thực tiễn Vậy nên triết học được

coi là “ hệ thống tri thức lý luận phổ quát nhất của con người về thế giới; về vị thế và khả năng của con người trong thế giới ấy”

Triết học ra đời do hoạt động của con người nhằm phục vụ cho nhu cầu sống và nhận thức của con người Cùng với sự phát triển của xã hội trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, các ngành khoa học nói chung và triết học nói riêng cũng có những bước phát triển mạnh mẽ Triết học Mác – Lênin là sự kế thừa có chọn lọc, là sự kết hợp thế giới quan duy vật và phép biện chứng của các nhà Triết học đi trước, đồng thời phát triển nó ở một trình độ cao hơn, để nó trở thành sự cần thiết tuyệt đối, trở thành hình thức tu duy quan trọng, thích hợp với sự phát triển của khoa học, đem lại cho khoa học hiện đại những chức năng có ý nghĩa phương pháp luận trong việc xem xét, luận giải cho sự phát triển của các ngành khoa học

Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp tổng quát của triết học Mác –

Lênin, là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa trong lịch sử phát triển của phương pháp biện chứng từ thời cổ đại và được bổ sung bởi những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới từ giữa thế kỷ XIX Phương pháp biện chứng duy vật dựa trên phép biện chứng duy vật - khoa học về những quy luật vận động và phát triển phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy; là học thuyết tổng quát nhất về sự phát triển Dựa trên các nguyên lý, các quy luật cơ bản và các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật, phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp xem xét, nhận thức sự vật, hiện tượng một cách khách quan, toàn diện trong sự phát triển, gắn với điều kiện lịch sử cụ thể và thực tiễn nhằm tìm ra bản chất, quy luật phát triển của mọi sự vật, hiện tượng

Trang 5

Đảng ta luôn khẳng định, Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam Nhận thức vai trò quan trọng của Chủ nghĩa Mác – Lênin và triết học Mác – Lênin đối với đời sống

xã hội nói chung và đối với hoạt động giáo dục nói riêng, với sự giảng dạy nhiệt tình của thầy cô giáo bộ môn triết học, sự hướng dẫn tận tâm của thầy giáo TS Lê Ngọc Triết và sự hiểu biết của bản thân về chuyên môn công nghệ thông tin, tôi quyết định

chọn đề tài tiểu luận “Vấn đề số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang qua phân tích của phạm trù khả năng và hiện thực” với hy vọng sẽ có sự hiểu

biết vững chắc, toàn diện và đầy đủ hơn về lý luận của triết học Mác – Lênin qua phân tích của cặp phạm trù khả năng - hiện thực và khả năng vận dụng vào thực tiễn giảng dạy, quản lý học sinh tại Trường THPT Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang hiện nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phân tích cặp phạm trù khả năng và hiện thực trong triết học Mác – Lênin vào vấn đề số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung phân tích hiện thực số hóa dữ liệu và khả năng phát triển số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang hiện nay Từ đó đưa ra giải pháp phát triển ưu điểm và khắc phục những hạn chế trong quá trình số hóa dữ liệu tại Trường

3 Phương pháp nghiên cứu

- Tiểu luận dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin nói chung và cặp phạm trù khả năng - hiện thực nói riêng với phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp như phân tích, tổng hợp, đánh giá;

4 Kết cấu của tiểu luận

Tiểu luận bao gồm 3 phần: phần mở đầu và hai chương với chủ đề như sau:

Chương 1: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phạm trù và cặp phạm trù khả năng và hiện thực

Chương 2: Khả năng và hiện thực số hóa dữ liệu tại Trường THPT Vĩnh Thuận - Kiên Giang hiện nay

Trang 6

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

VỀ PHẠM TRÙ VÀ CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC

là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên

hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định Trong lịch sử triết học, các trường phái triết học đã đưa ra những cách giải quyết khác nhau về vấn đề bản chất của phạm trù Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:

- Các phạm trù không có sẵn trong nhận thức của bản thân con người một cách bẩm sinh, cũng không tồn tại sẵn ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người như quan niệm của những người duy thực, mà được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Mỗi phạm trù xuất hiện đều là kết quả của quá trình nhận thức trước đó, đồng thời lại là bậc thang cho quá trình nhận thức tiếp theo của con người để tiến gần đến nhận thức đầy đủ hơn bản chất của sự vật V.I.Lênin viết:

“Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự nhiên Con người bản năng, con người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên Người có ý thức tự tách khỏi tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó, tức là sự nhận thức thế giới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững được màng lưới”

- Các phạm trù được hình thành bằng con đường khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có bên trong của bản thân sự vật Vì vậy nội dung của nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định, mặc dù hình thức thể hiện của nó là chủ quan V.I.Lênin viết: “Những khái niệm của con người là chủ

Trang 7

quan trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồn gốc” Điều này trái với quan niệm của phái duy danh trong lịch sử triết học, họ coi phạm trù

là những từ trống rỗng không có nội dung hiện thực

- Các phạm trù là kết quả của quá trình nhận thức của con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Thế giới khách quan không chỉ tồn tại độc lập với ý thức của con người, mà còn luôn vận động, phát triển, chuyển hóa lẫn nhau Mặt khác, khả năng nhận thức của con người cũng thay đổi ở mỗi giai đoạn lịch sử Do vậy các phạm trù phản ánh thế giới khách quan cũng phải vận động và phát triển Không như vậy, các phạm trù không thể phản ánh đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan được Vì vậy,

hệ thống phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà nó thường xuyên được bổ sung bằng những phạm trù mới cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức khoa học

1.2 Phạm trù khả năng và hiện thực

1.2.1 Khái niệm khả năng và hiện thực

Khả năng - hiện thực là cặp phạm trù giữ vị trí quan trọng trong phát triển biện chứng, chúng biểu thị xu hướng chung của hệ thống Hiện thực là phạm trù chỉ những cái đang tồn tại trên thực tế Khả năng là phạm trù chỉ cái chưa xuất hiện, chưa tồn tại trên thực tế, nhưng sẽ xuất hiện, sẽ tồn tại thực sự khi có các điều kiện tương ứng Khả năng là “cái hiện chưa có”, nhưng bản thân khả năng đã có tồn tại, song đó là một sự tồn tại đặc biệt: cái sự vật được nói tới trong khả năng chưa tồn tại, song bản thân khả năng thì tồn tại

Cần phân biệt khái niệm hiện thực với khái niệm hiện thực khách quan Hiện thực khách quan là khái niệm chỉ các sự vật, vật chất tồn tại độc lập với ý thức của con người Còn hiện thực bao gồm cả những sự vật, hiện tượng vật chất đang tồn tại một cách khách quan trong thực tế và cả những gì đang tồn tại một cách chủ quan trong ý thức của con người Tuy nhiên ở đây không nên quan niệm khái niệm hiện thực rộng hơn khái niệm hiện thực khách quan mà đây là những khái niệm triết học phản ánh những mặt khác nhau của thế giới trong đó chúng ta đang sống

Trang 8

Khả năng là "cái hiện chưa có" nhưng bản thân khả năng với tư cách "cái chưa có"

đó lại tồn tại Tức là các sự vật được nói tới trong khả năng chưa tồn tại, nhưng bản thân khả năng đề xuất hiện sự vật đó thì tồn tại Thí dụ: Trước mắt ta có đủ gỗ, cưa, bào, đục, đinh đó là hiện thực Từ đó nảy sinh khả năng xuất hiện một cái bàn.Trong trường hợp này, cái bàn là chưa có, chưa tồn tại trên thực tế nhưng khả năng xuất hiện cái bàn thì tồn tại trên thực sự Như vậy dấu hiệu căn bản để phân biệt khả năng với hiện thực là ở chỗ: khả năng là cái chưa có, còn hiện thực là cái hiện đang có, đang tồn tại Nói đến dấu hiệu của khả năng, chúng ta cũng cần phải phân biệt khả năng với tiền đề, hoặc điều kiện của một sự vật nào đó Tiền đề hay điều kiện của một sự vật nào đó đều là những cái hiện đang tồn tại thật sự là những yếu tố hiện thực trên cơ sở đó xuất hiện cái mới Còn khả năng không phải là bản thân các tiền đề, điều kiện của cái mới mà là cái mới đang ở dạng tiềm thé, chỉ trong tương lai với những điều kiện thích hợp nó mới tồn tại thực Khả năng cũng không đồng nhất với cái ngẫu nhiên và phạm trù xác suất

Mọi khả năng đều là khả năng thực tế nghĩa là khả năng thực sự tồn tại do hiện thực sinh ra Nhưng có khả năng được hình thành do quy luật vận động nội tại của sự vật quy định, được gọi là khả năng tất nhiên Có khả năng được hình thành do các tương tác ngẫu nhiên quy định được gọi là khả năng ngẫu nhiên Thí dụ: Gieo hạt ngô xuống đắt, khả năng hạt ngô sẽ nảy mầm, mọc thành cây và lại cho ta những hạt ngô mới là khả năng tắt nhiên, nhưng cũng có khả năng hạt ngô bị chim ăn hoặc bị sâu bệnh phá hoại nên không thẻ nảy mầm, không thể phát triển thành cây, cho hạt được Khả năng này do những tác động có tính ngẫu nhiên quy định nên được gọi là khả năng ngẫu nhiên Trong khả năng tất nhiên lại bao gồm khả năng gần, nghĩa là đã có đủ hoặc gần

đủ những điều kiện cần thiết để biến thành hiện thực và khả năng xa, nghĩa là chưa đủ điều kiện cần thiết để biến thành hiện thực còn phải trải qua nhiều giai đoạn quá độ nữa Thí dụ nhân dân ta có truyền thống yêu nước, cần cù lao động, có Đảng Cộng sản lãnh đạo đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, có Nhà nước xã hội chủ nghĩa thật sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, có những điều kiện quốc tế thuận lợi thì khả năng hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa là khả năng gần và khả năng xây dựng thành công chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa là khả năng xa hơn

Trang 9

Khả năng là phạm trù để chỉ những cái còn tiềm ẩn, là mầm mống trong sự vật và quá trình Đó là cái chỉ mới là tiền đề của khuynh hướng phát triển và có thể ra đời khi

có điều kiện thích hợp Một số loại khả năng hay gặp như:

Khả năng thực tế là những khả năng do các mối liên hệ tất nhiên quyết định, xuất hiện từ bản chất bên trong của sự vật và khi có đầy đủ điều kiện sẽ trở thành hiện thực

Ví dụ như mỗi nụ hoa có khả năng thực tế là nụ họa sẽ nở thành bông hoa

Khả năng hình thức, hay khả năng ảo, khả năng trừu tượng là những khả năng do các mối liên hệ ngẫu nhiên, quan hệ bên ngoài mang đến và chưa có đủ điều kiện để chuyển hóa thành hiện thực Ví dụ: Khả năng con người trúng sổ xố là khả năng ảo Khả năng này biến thành hiện thực chỉ là do ngẫu nhiên, may mắn

Ngoài các khả năng chính trên đây, ta còn có thể phân loại thành:

✓ Từ góc độ xác suất lớn hay nhỏ xảy ra: Khả năng chủ yếu và khả năng thứ yếu

✓ Xét theo sự liên quan đến lợi ích của con người: Khả năng tốt và khả năng xấu

✓ Khi xét tới sự tương tác giữa các khả năng: Khả năng cùng tồn tại và khả năng loại trừ lẫn nhau

Hiện thực là phạm trù chỉ cái đã ra đời, đã xuất hiện, đã được thực hiện; đó là những sự vật và hiện tượng đang tồn tại một cách khách quan trong thực tế và cả những

gì đang tồn tại một cách chủ quan trong ý thức con người.Hiện thực bao gồm cả hiện thực khách quan (hiện thực vật chất) và hiện thực chủ quan (hiện thực tin thần), nghĩa

là cả vật chất lẫn tin thần đều tồn tại

1.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật Điều đó

có nghĩa là trong sự vật hiện đang tồn tại chứa đựng khả năng, sự vận động phát triển của sự vật chính là quá trình biến khả năng thành hiện thực Trong hiện thực mới đó lại nảy sinh khả năng mới, khả năng mới này nếu có những điều kiện lại biến thành hiện thực mới Quá trình đó được tiếp tục, làm cho sự vật vận động, phát triển một cách vô tận trong thế giới vật chất Do có mối liên hệ chặt chẽ giữa khả năng và hiện thực nên

Trang 10

dễ mắc phải sai lầm nếu tách rời khả năng và hiện thực Kết quả là trong hoạt động thực tiễn hoặc sẽ không nhìn thấy khả năng tiềm tàng trong sự vật, do đó không xác định được tương lai phát triển của nó; hoặc không thấy được khả năng có thể biến thành hiện thực, do đó không tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự chuyển biến này hoặc ngăn cản nó tùy theo yêu cầu của mình.Tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa khả năng và hiện thực mà quên đi sự khác biệt về chất giữa chúng, lẫn lộn giữa khả năng và hiện thực thì cũng sẽ dẫn tới sai lầm, khuyết điểm Trong hoạt động thực tiễn, nếu dựa lầm vào cái mới tồn tại khả năng chứ chưa phải hiện thực thì sẽ đưa lại hậu quả hết sức tai hại

Để một khả năng nào đó biến thành hiện thực thường cần có không chỉ một điều kiện, mà là một tập hợp điều kiện Tập hợp điều kiện được gọi là cần và đủ, nếu có nó thì khả năng nhất định sẽ chuyển hóa thành hiện thực.Ví dụ: Để cách mạng chủ nghĩa

có thể nổ ra cần có các điều kiện sau: thứ nhất là giai cấp thống trị không thể giữ nguyên

sự thống trị của mình dưới dạng cũ nữa; thứ hai là giai cấp bị trị bị bần cùng hóa quá mức bình thường; thứ ba là tính tích cực của quần chúng tăng lên đáng kể; thứ tư là giai cấp cách mạng có đủ năng lực tiến hành những hành động cách mạng mạnh mẽ đủ sức đập tạn bộ máy chính quyền cũ Thiếu một trong các điều kiện này, cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể nổ ra

Quá trình biến khả năng thành hiện thực diễn ra ở trong tự nhiên và trong xã hội không giống nhau Trong giới tự nhiên, quá trình khả năng biến thành hiện thực chủ yếu

là quá trình khách quan Nói chủ yếu vì không phải trong giới tự nhiên mọi khả năng đều biến thành hiện thực một cách tự phát, mà nó có thể xảy ra ba trường hợp sau: + Loại khả năng chỉ có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên, đó là trường hợp của quá trình vũ trụ và địa chất;

+ Loại khả năng có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên nhưng nhờ con người Ví dụ: bằng cách thay đổi điều kiện sống gây đột biến, con người biến khả năng tạo ra giống mới thành hiện thực

Trang 11

+ Loại khả năng mà trọng hiện thực hiện nay không có sự tham gia của con người thì không thể biến thành hiện thực Các khả năng này vốn có ở khách thể nhưng để biến chúng thành hiện thực cần phải có điều kiện do con người tạo ra

Ví dụ: việc chế tạo ra các sợi tổng hợp, tạo ra các con tàu vũ trụ.Trong lĩnh vực xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan muốn biến khả năng thành hiện thực còn cần có

cả điều kiện chủ quan là hoạt động thực tiễn của con người Ở đây, khả năng không khi nào tự nó biến thành hiện thực mà không có sự tham gia của con người

Trong đời sống xã hội, hoạt động có ý thức của con người có vai trò hết sức to lớn trong việc biến khả năng thành hiện thực Nó có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình biến khả năng thành hiện thực; có thể điều khiển khả năng phát triển theo chiều hướng nhất định bằng cách tạo ra những điều kiện tương ứng Không thấy vai trò của nhân tố chủ quan của con người sẽ rơi vào sai lầm hữu khuynh chịu bó tay, khuất phục trước hoàn cảnh Tuy nhiên cũng không được tuyệt đối vai trò của nhân tố chủ quan mà xem thường những điều kiện khách quan Như vậy chúng ta dễ rơi vào sai lầm chủ quan, mạo hiểm, duy ý chí

1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối liên hệ không tách rời nhau và luôn chuyển hóa cho nhau; do hiện thực được chuẩn bị bằng khả năng còn khả năng hướng tới sự chuyển hóa thành hiện thực, nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng Tuy nhiên, vì khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng trong tương lai nên khi đề ra kế hoạch, phải tính đến mọi khả năng để kế hoạch đó sát với thực tiễn Nhiệm vụ của hoạt động nhận thức là phải xác định được khả năng phát triển của sự vật, hiện tượng và tìm ra khả năng ấy trong chính bản thân nó, bởi khả năng nảy sinh vừa do sự tác động qua lại giữa các mặt bên trong, vừa do sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng với hoàn cảnh bên ngoải

Phát triển là quá trình mà trong đó khả năng chuyển hóa thanh hiện thực, còn hiện thực này trong quá trình phát triến của mình lại sinh ra các khả năng mới, các khả năng mới ấy trong điều kiện thích hợp lại chuyển hóa thành hiện thực, tạo thành quá trình vô

Trang 12

tận; do vậy, sau khi đã xác định được các khả năng phát triển của sự vật, hiện tượng, thì mới nên tiến hành lựa chọn và thực hiện khả năng

Trong quá trình thực hiện khả năng đã lựa chọn, cần chú ý là trong một sự vật, hiện tượng có thể chứa nhiều khả năng khác nhau, do vậy cần tính đến mọi khả năng để

dự kiến các phương án thích hợp cho từng trường hợp có thể xảy ra

Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật, hiện tượng có thể tồn tại một số khả năng và ngoài một số khả năng vốn có, thì khi có điều kiện mới bổ sung,

ở sự vật, hiện tượng sẽ xuất hiện thêm một số khả năng mới dẫn đến sự xuất hiện một

sự vật, hiện tượng mới, phức tạp hơn Bởi vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải lựa chọn khả năng trong số hiện có, trước hết là chú ý đến khả năng gần, khả năng tất nhiên vì chúng dễ chuyển hóa thành hiện thực hơn

Khả năng chỉ chuyển hóa thành hiện thực khi có đầy đủ các điều kiện cần thiết nên cần tạo ra các điều kiện đó để nó chuyển hóa thành hiện thực, cần tránh sai lầm, hoặc tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, hoặc xem thường vai trò ấy trong quá trình biến đổi khả năng thành hiện thực

Vậy ý nghĩa của cặp phạm trù khả năng – hiện thực cần tóm gọn như sau: trong nhận thức và thực tiễn phải dựa vào dựa vào hiện thực để nhận thức và hành động; cần nhận thức các khả nảng trong hiện thực để có hành động phù hợp trong từng ngữ cảnh; phát huy nhân tố chủ quan trong nhận thức và hoạt động để biến khả năng thành hiện thực theo mục đích nhất định

Trang 13

CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC SỐ HÓA DỮ LIỆU TẠI TRƯỜNG THPT VĨNH THUẬN - KIÊN GIANG HIỆN NAY

2.1 Vai trò của số hóa dữ liệu

2.1.1 Khái niệm về số hóa dữ liệu

Số hóa dữ liệu là quá trình chuyển các dạng dữ liệu/tài liệu truyền thống như các bản viết tay, bản in trên giấy, hình ảnh, âm thanh, phim, dữ liệu toàn văn với nhiều định dạng khác nhau sang dữ liệu trên máy tính và được máy tính nhận biết được như tài liệu ban đầu gọi là số hoá dữ liệu Hay nói cách khác số hoá dữ liệu là hình thức chuyển đổi các dữ liệu truyền thống bên ngoài thành dạng dữ liệu số mà máy tính có thể hiểu được Sản phẩm sau khi số hóa dữ liệu chính là nguồn tài nguyên số/dữ liệu số – các dữ liệu dạng chữ, hình ảnh, âm thanh… được máy tính nhận biết đúng định dạng và được

sử dụng trên máy tính

Số hóa dữ liệu là bước đầu của chuyển đổi số, có vai trò thay đổi dữ liệu truyền thống trên giấy, analog sang dạng kỹ thuật số, và được lưu trữ trên máy chủ hay nền tảng đám mây

Khi số hóa, toàn bộ thông tin đều không bị thay đổi, đơn giản nó chỉ được chuyển định dạng sang kỹ thuật số Ví dụ như quét một bài báo cáo trên giấy sang dạng PDF, nội dung và những thông tin trong bài báo cáo vẫn nguyên vẹn không bị thay đổi

Hệ thống số hóa dữ liệu gồm có 03 nhân tố chính cấu thành đó là: thiết bị, phần mềm và dịch vụ số hóa, trong đó:

✓ Thiết bị: hệ thống các máy quét, những thiết bị hạ tầng công nghệ thông tin

✓ Phần mềm: hệ thống quản lý hồ sơ, tài liệu được số hóa dưới các dạng text, word, excel, pdf, báo cáo thống kê,…

✓ Dịch vụ số hóa: những thiết bị hạ tầng công nghệ thông tin, cung cấp, cho thuê máy quét, dịch vụ nhập liệu, chuyển đổi dữ liệu

Ngày đăng: 09/01/2023, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w