1. Trang chủ
  2. » Tất cả

15 câu chuyên ngành kinh tế

46 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 597,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 10: Đồng chí hãy trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? (Tr134137) Ý nghĩa và sự vận dụng trong điều kiện nước ta hiện nay? (Tr 137138) Trả lời: Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành kết cấu kinh tế của một xã hội nhất định. Trong một xã hội, có thể tồn tại nhiều loại hình quan hệ sản xuất khác nhau, bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của một xã hội tương lai. Cơ sở hạ tầng chính là sự tổng hợp của các quan hệ sản xuất ấy, trong đó quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác. Do đó, cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể, bên cạnh những quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống thì quan hệ sản xuất thống trị vẫn là đặc trưng cơ bản của xã hội ấy. Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v. cùng với những thể chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v. được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Khi xã hội đã phân chia giai cấp thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính giai cấp. Đó chính là cuộc đấu tranh về chính trị tư tưởng của các giai cấp đối kháng, trong đó nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là sự biểu hiện rõ nét nhất cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Mỗi một xã hội đều có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó, đây là hai mặt của đời sống xã hội và được hình thành một cách khách quan, gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Không như các quan niệm duy tâm giải thích sự vận động của các quan hệ kinh tế bằng những nguyên nhân thuộc về ý thức, tư tưởng hay thuộc về vai trò của nhà nước và pháp quyền, trong Lời tựa tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác đã khẳng định: “không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”(1).

Trang 1

Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận của nó? (Tr 43-45)

Trả lời:

Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, được sáng tạo lại theo mục đích định trước của con người hay nói khác đi hiện thực khách quan di chuyển vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi

VD: Đi đến đèn đỏ thì tất cả các xe đều dừng lại, nhưng có người khi gặp đèn đỏ thì chạy

+ Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau:

Ý thức là ý thức của con người, không tách rời con người, nhưng sự ra đời của con ngườicũng có giới hạn còn thế giới vật chất thì tồn tại vĩnh viễn, vô hạn Do đó có thể khẳng địnhrằng thế giới vật chất là cái có trước con người, vì vậy thế giới vật chất phải có trước ý thức.Con người xuất hiện trên trái đất này chỉ có lịch sử hơn 6 triệu năm, bản thân thế giới vậtchất vĩ mô hơn con người có lịch sử 4,5 tỷ năm Trong khi đó quan điểm về thế giới vật chất là

vô cùng, vô tận không do ai sinh ra, cũng không ai làm mất đi thế giới khách quan, chúng takhông thể nào đếm được điểm khởi đầu của thế giới vật chất cũng như dự đoán được điểm kếtthúc của thế giới vật chất Vì những lý lẽ trên cho thấy thế giới vật chất phải có trước ý thức, vũtrụ phải có trước trái đất, trái đất phải có trước con người và có con người rồi mới có ý thức

Vì vậy, vai trò của vật chất với ý thức được thể hiện ở chỗ vật chất là cái có trước, ý thức làcái có sau

+ Vật chất là nguồn gốc của ý thức:

Nguồn gốc của ý thức bao gồm cả nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Trong đónguồn gốc tự nhiên của ý thức gồm có bộ não người và thế giới khách quan cùng với quá trìnhphản ánh năng động, sáng tạo giữa chúng, tác động qua lại giữa chúng Nguồn gốc xã hội của ýthức đó chính là lao động và ngôn ngữ

Khi phân tích nguồn gốc của ý thức, chúng ta thấy bộ óc người thực ra là một dạng vật chất

có tổ chức cao, chứa đựng trong nó hàng tỷ noron thần kinh có khả năng sao lại, chụp lại, chéplại và phản ánh thế giới khách quan bằng một cách năng động, sáng tạo Như vậy, yếu tố tạonên ý thức là bộ não người là một dạng vật chất

Thế giới khách quan thực chất là thế giới vật chất Bản chất của ý thức chỉ là sự phản ánhnăng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con người Nếu không có thế giớikhách quan, bộ óc con người sẽ không có đối tượng để phản ánh và do đó chắc chắn không có ýthức

Lao động chính là hoạt động vật chất, mang tính tất yếu nhằm đảm bảo sự tồn tại và pháttriển của con người Nhờ lao động mà con người có thể chủ động, tác động vào thế giới khách

Trang 2

quan làm cho nó bộc lộ những thuộc tính, kết cấu bản chất, quy luật vận động qua đó phản ánhvào bộ óc người, hình thành những tri thức về tự nhiên, về xã hội.

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất nhưng mang nội dung ý thức Ngôn ngữ chính làlớp vỏ vật chất của tư duy

– Vật chất quyết định nội dung và mọi sự biến đổi của ý thức

Thứ hai: Vai trò của ý thức đối với vật chất

Ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác động ngược trở lại vật chất thông qua hoạtđộng thực tiễn của con người Ý thức tác động vào vật chất theo hai hướng:

– Hướng tích cực khi con người có tri thức đúng đắn, có nghị lực, ý chí và tình cảm tíchcực thì con người có khả năng hành động hợp quy luật khách quan

- Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất: 44-45

Một là ý thức luôn định hướng, chỉ phối, quy định hoạt động thực tiễn của con người ý thức

phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người giúp con người hiểu được bản chất, quy luậtvận động phát triển của sự vật hiện tượng Trên cơ sở đô, hình thành phương hướng, mục tiêu

và những phương pháp, cách thức thực hiện mục tiêu

Hai là trong hoạt động thực tiễn sự vật bộc lộ nhiều khả năng mà nhờ có ý thức con người sẽ

lựa chọn được những khả năng đúng phù hợp để tác động, thúc đẩy sự vật phát triển

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thường theo hai khuynh hướng:

Thứ nhất, nếu ý thức phản ánh đúng thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động cải tạo vật chất của con

Thú nhất, khi xem xét đánh giá một sự vật một hiện tượng, một quá trình kinh tế - xã hội nào đó

phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, quá trình đô; phải xem xét gần với điều kiện hoàncảnh thực tế đã sẵn sinh ra nô; mặt khác, không được áp đặt cho sự vật cái mà vốn nó không cóhoặc chưa thể có

Thứ hai, mọi chủ trương, phương hưởng, chính sách mục tiêu kế hoạch, biệm pháp phải căn cứ

vào hoàn cảnh thực tế, phù hợp với các điều kiện vật chất khách quan

Thứ ba, phải luôn tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

Thứ tư Chống bệnh chủ quan duy ý chí (đưa ra mục tiêu, phương pháp hoạt động không căn cứ

vào thực tế khách quan), chống chủ nghĩa khách quan (quả để cao vật chất ý lại, thiêu sự năngđộng sáng tạo)

Thứ năm, phải phát huy vai trò của ý thức - vai trò nhân tố con người (nâng cao ý thức trình độ

nhận thức, năng lực tổ chức thực tiến tinh cảm, ý chí trách nhiệm lựa chọn biện pháp thựchiện có hiệu quả nhất )

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Vì VC đóng vai trò quyết định, nên trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễncần quán triệt NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, ko nên lấy ý chí chủ quan để áp đặt vài sẽ dẫnđến những sai lầm nhất định;

- Vì YT có vai trò tác động trở lại, nên trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễnđòi hỏi chúng ta phải phát huy nhân tố chủ quan của con người (phẩm chất, năng lực, trình độ,sức khỏe ) trong việc nổ lực nhận thức TG quan

Trang 3

- Vật chất quyết định ý thức, ý thức là.sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận thức phải bảođảm nguyên tắc "tính khách quan của sự xem xét" và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luônxuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.

- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người,cho nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lựcnhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của conngười

- Cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ thụ động, chờ đợi vào điều kiệnvật chất, hoàn cảnh khách quan Đồng thời phải biết phát huy nhân tố chủ quan của con người(bồi dưỡng, đào tạo trình độ tay nghề, tạo môi trường lao động hợp lý…để từ đó con người pháthuy được tài năng, sức lực của mình), ngoài ra trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức chúng

ta không nên tuyệt đối hóa vai trò của vật chất, vai trò ý thức, sẽ dẫn đến những sai lầm nhấtđịnh

-Đất nước ta đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Đảng ta lấy chủ trương “lấy việc pháthuy nguổn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Đảng đẩymạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tiếp tục làmsáng tỏa con đường đi lên CNXH nước ta Ngoài ra, ta cũng nâng cao công tác tuyên truyềngiáo dục lý luận chính trị để tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự động thuận trong nhân dân.Quá trình xây dựng đất nước tiến lên CNXH là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có sự đoànkết của cả dân tộc Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân phải nhạy bén, tỉnh táo với thời cuộc, vậndụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát triển kinh tế xãhội xây dựng đất nước

- Từ nguyên lý vật chất quyết định ý thức đòi hỏi hoạt động của con người phải có quanđiểm khách quan:

+ Luôn xuất phát từ điều kiện thực tế khách quan

+ Luôn tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

+ Muốn cải tạo sự vật phải xuất phát từ bản thân sự vật

+ Chống chủ nghĩa khách quan

- Từ nguyên lý ý thức tác động trở lại vât chất đòi hỏi phát huy tính năng động sáng tạocủa con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, đồng thời chống chủ quan duy ý chí, bấtchấp quy luật khách quan

+ Phải thấy được vai trò tích cực của ý thức tinh thần để sử dụng có hiệu quả các điều kiệnvật chất hiện có

+ Cần chống tuyệt đối hoá vai trò của ý thức

+ Phát huy tính năng động chủ quan, sáng tạo của nhân tố con người trong cải tạo thế giới

VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh

của bộ não người Nhưng khi bộ não người bị tổn thương thì hoạt động của ý thức cũng bị rốiloạn

VD2: Những địa phương ở vùng sâu, vùng xa củaViệt Nam chúng ta, nhận thức của các

em học sinh cấp 1, 2, 3 về công nghệ thông tin là rất yếu kém sở dĩ như vậy là do về trang thiết

bị máy móc cũng như đội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu Nhưng nếu vấn đề về cơ sở vậtchất được đáp ứng thì trình độ công nghệ thông tin của các em cấp 1, 2, 3 ở những nơi đó sẽ tốthơn rất nhiều

VD2 đã khẳng định điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức chỉ là như thế đó

Trang 4

Câu 2 Yêu cầu của quan điểm khách quan? (45-46) Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn

đề trên đối với đồng chí?

Trả lời:

* Khái niệm:

Khách quan được hiểu đơn giản là những sự vật hoặc hiện tượng, sự việc diễn ra bìnhthường một cách ngoài ý muốn của bạn Các sự vật, sự việc đó tồn tại, vận động mà không nằmtrong quyền kiểm soát của bạn

Nó cũng là một cách lý giải của sự vận động, phát triển của hiện tượng và sự vật Trong

đó, chúng không bị phụ thuộc vào bất cứ yếu tố hay tác động nào Vậy khách quan là gì?

– Nó là sự vận động, phát triển không phụ thuộc vào con người

Nhận thức của loài người cần phải tôn trọng thực tế khách quan Nó đòi hỏi chúng ta cầncông tâm, tôn trọng sự thật Quá trình nhận xét, đánh giá mọi vật, mọi việc phải công tâm, xemxét nhiều khía cạnh, góc nhìn

Ví dụ về khách quan.

Một ví dụ minh họa cho khái niệm khách quan là gì đó là khi giải quyết một vấn đề Hai

người có thể đưa ra hai phương án khác nhau và đều có những lý luận để bảo vệ ý kiến củamình Nếu như là một trong hai người trên thì chúng ta sẽ bị cái nhìn phiến diện của bản thânlàm ảnh hưởng đến sự đánh giá hai phương án giải quyết

Chính vì thế, cần có một người khác để đưa ra những đánh giá và nhận xét Vấn đề duynhất đó là người thứ 3 cần thật công tâm, tỉnh táo và không được thiên vị bất cứ ai trong haingười

* Yêu cầu của quan điểm khách quan:(SGK 45-46)

* ý nghĩa của việc nghiên cứu:

* Trong hoạt động nhận thức phải:

- Xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng hiện thức khách quan, tôn trọng vai tròquyết định của vật chất, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra nhữngnhận định chủ quan

- Biết phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả thuyết đó bằng thực nghiệm

* Trong hoạt động thực tiễn phải:

- Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó

- Dựa trên các quy luật khách quan đó để vạch ra các mục tiêu, kế hoạch, biết tìm kiếm cácbiện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện, biết kịp thời điều chỉnh, uốn nắn hoạt động củacon người theo lợi ích và mục đích được đặt ra

=> Việc tuân thủ 2 yêu cầu cơ bản của nguyên tắc khách quan CNDVBC giúp chúng tatránh được chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, tùy tiện và tránh cả chủ nghĩa khách quan (coithường vai trò của yếu tố chủ quan, kềm hãm sự sáng tạo ) qua đó giúp chúng ta nâng cao tinhthần, dám nghĩ, dám làm suy nghĩ và hành động đúng phương pháp, có tri thức, phù hợp quiluật

Trang 5

…; cá nhân, tập thể, xã hội) thành động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới.

- Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật kháchquan

b/ Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức trong hoạt động nhận thức – thực tiễn cải tạo đất nước Cụ thể:

- Coi sự thống nhất nhiệt tình cách mạng & tri thức khoa học là động lực tinh thần thúcđẩy công cuộc đổi mới; Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ; Bồi dưỡng nhiệt tình,phẩm chất cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, tài trí người ViệtNam…

- Coi trong công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mac – Lenin & tưtưởng HCM); Nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH & con đường đi lên CNXH); Phổbiến tri thức khoa học – công nghệ cho cán bộ, nhân dân

- Kiên quyết năn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí; lối suy nghĩ, hành động giản đơn,nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng, bất chấp quy luật khách quan

Câu 3: Yêu cầu của quan điểm toàn diện? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên đối với đồng chí? (trang 52, 53 SGK)

Trả lời

* Khái niệm:

Quan điểm toàn diện là quan điểm được phản ánh trong phương pháp luận triết học Khicác nhìn nhận phải được thể hiện một cách toàn diện Quan điểm này mang đến tính đúng đắntrong hoạt động xem xét hay đánh giá một đối tượng nhất định Các nhà nghiên cứu chỉ ra tínhhợp lý cần thiết trong nhu cầu phản ánh chính xác và hiệu quả đối tượng Từ đó mà các đánh giámới mang đến tính chất khách quan, hiệu quả Trên thực tế, quan điểm này giữ nguyên giá trịcủa nó Khi mà những cần thiết trong đánh giá hay phán xét đối tượng

Quan điểm này thể hiện vai trò của người thực hiện các phân tích trên đối tượng Khinghiên cứu và xem xét hiện tượng, sự vật hay sự việc Chúng ta phải quan tâm đến tất cả cácyếu tố kể cả khâu gián tiếp hay trung gian có liên quan đến sự vật Tức là tất cả những tác động

có thể lên chủ thể đang quan tâm Không chỉ nhìn nhận với tính chất tiêu cực hay tích cực theo

cả xúc Mà phải là những tiến hành trên lý trí, kinh nghiệm và trình độ đáng giá chuyên môn.Như vậy các hướng tác động mới nếu có mới mang đến hiệu quả

Trang 6

Điều này xuất phát từ mối liên hệ nằm trong nguyên lý phổ biến của các hiện tượng, sự vậttrên thế giới Bởi phải có quan điểm toàn diện vì bất cứ mối quan hệ nào cũng tồn tại sự vật, sựviệc; không có bất cứ sự vật nào tồn tại một cách riêng biệt, cô lập, độc lập với các sự vật khác.

Ví dụ quan điểm toàn diện:

Quan điểm này thể hiện trong tất cả các hoạt động có tác động củaphản ánh quan điểm Như những ví dụ trong đánh giá một con người vớinhững mặt khác nhau phản ánh trong con người họ Không thể chỉ thực hiệnquan sát phiến diện từ những thể hiện bên ngoài để đánh giá tính cách haythái độ, năng lực của họ Cũng không thể chỉ dựa trên một hành động đểphán xét con người và cách sống của họ

Khi đánh giá, cần có thời gian cho sự quan sát tổng thể Từ những phảnánh trong bản chất con người, các mối quan hệ của người này với ngườikhác Cách cư xử cũng như việc làm trong quá khứ và hiện tại Những nhìnnhận và đánh giá trên từng khía cạnh và kết hợp với nhau sẽ cho ra nhữngquan điểm toàn diện Từ đó mà cách nhìn nhận một người được thực hiệnhiệu quả với các căn cứ rõ ràng Nó không phải là những phù phiếm củanhận định Chỉ khi hiểu hết về người đó bạn mới có thể đưa ra các nhận xét

* Những yêu cầu của quan điểm toàn diện:

Một là: để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng cần phải xem xét nó trong sựliên hệ, tác động qua lại giữ sự vật đó với các sự vật khác cũng như giữa các bộ phận, yếu tố,các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó Tức là, phải đặt sự vật trong mối liên hệ cụ thể

mà xem xét và giải quyết, đồng thời, phải tính tới tổng hoà các mối quan hệ của sự vật

Hai là: từ tổng số mối liên hệ phải phân biệt, đánh giá được vị trí, vai trò của từng mối liên

hệ, rút ra mối liên hệ bản chất, cơ bản, tất yếu Và từ mối liên hệ bản chất, tất yếu phải xem xétvới mối liên hệ khác

Ba là: xem xét sự vật trong tính chỉnh thể của nó và giải quyết sự vật phải đảm bảo tínhđồng bộ, tính hệ thống Có như vậy, trong nhận thức cũng như trong tổ chức thực tiến chúng tamới có thể tránh được những sai lầm

Ví dụ quan điểm toàn diện: Khi bạn nhận xét về một người nào đó thì không thể có cáinhìn phiến diện ở vẻ bên ngoài Cần chú ý đến các yếu tố khác như bản chất con người, các mốiquan hệ của người này với người khác, cách cư xử cũng như việc làm trong quá khứ và hiện tại.Chỉ khi hiểu hết về người đó bạn mới có thể đưa ra các nhận xét

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên

Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chúng ta khắc phục đượcchủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện… trong hoạt động thực tiễn vànhận thức của chính mình

Chủ nghĩa phiến diện: chỉ xem xét một mặt, một khía cạnh của sự vật, hiện tượng rồi rút rakết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng đó; hoặc tuyệt đối hoá một mặt nào đó của sự vậthiện tượng

Chủ nghĩa triết chung: tuy cũng chú ý đến nhiều mối liên hệ khác nhau, nhưng lại kết hợpchúng một cách vô nguyên tắc vào làm một

Trang 7

Thuật nguỵ biện: tuy cũng thừa nhan sự tồn tại của các mối liên hệ khác nhau của sự vật,nhưng lại đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò của các mối liên hệ.

Trong đời sống xã hội, nguyên tắc toàn diện có vai trò cực kỳ quan trọng Nó đòi hỏi chúng

ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà cần phải liên hệ nhận thức với thực tiễn cuộcsống, phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể (các cá nhân hay các giai tầng) khác nhau trong xãhội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản, phải biết phát huyhay hạn chế mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội (kinh tế, chínhtrị, văn hóa…) từ các thành phần kinh tế, từ các tổ chức chính trị - xã hội… để có thái độ, biệnpháp, đối sách hành động thích hợp mà không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn đều,tức không thấy được trọng tâm, trọng điểm, điều cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp Trong hoạt động nhận thức, thực tiễn chúng ta cần phải xem xét sự vật trên nhiều mặt vàmối quan hệ của nó

Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được hoặc có thể hạn chế được sự phiến diện, siêu hình,máy móc, một chiều trong nhận thức cũng như trong việc giải quyết các tình huống trong thựctiễn, nhờ đó tạo ra được khả năng nhận thức đúng được sự vật như nó vốn có trong thực tế và

xử lý một cách chính xác, có hiệu quả đối với các vấn đề thực tiễn

Khi phân tích bất cứ một đối tượng nào, chúng ta cũng cần vận dụng vào lý thuyết hệthống, nghĩa là xem xét nó được cấu thành nên từ các yếu tố, bộ phận nào với mối quan hệ ràngbuộc và tương tác nào, từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ởmỗi yếu tố (thuộc tính “trời”)

Mặt khác, cũng cần xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó, nghĩa là phải xem xét nó trongmối quan hệ với các hệ thống khác, với các yếu tố tạo thành môi trường vận động và phát triểncủa nó

Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lê nin vào xây dựng đất nước,điều đó thể hiện qua các kì đại hội Văn kiện Đại hội XIII đã thể hiện rất sâu sắc thế giới quan,phương pháp luận biện chứng duy vật, đặc biệt có quan điểm toàn diện trong xây dựng các địnhhướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030

Đại hội đã khẳng định: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vũng đất nước; gắn kết chặt chẽ

và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế xã hội là trung tâm; xây dựngĐảng là then chốt” Hay tinh thần “ Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nèn kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

Thực tiễn lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã chứng minh tính cáchmạng, khoa học, sức sống mãnh liệt, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống ấm no,

hạnh phúc cho nhân dân Chúng ta rất tự hào rằng: Đất nước ta chưa bao giờ

có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay Tiếp tục trên

con đường đổi mới đất nước, mỗi cán bộ, giảng viên cần ra sức học tập, vậndụng, phát triển và bảo vệ những giá trị cách mạng, khoa học của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo đúngđắn, toàn diện của Đảng, từng bước hiện thực hóa khát vọng phồn vinh,hạnh phúc

Câu 5: Yêu cầu của quan điểm phát triển? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên

Trang 8

Trả lời:

Quan điểm phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sựvật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự

ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trìnhthay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theođường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầunhưng ở mức (cấp độ) cao hơn

Ví dụ: quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao; quá

trình thay thế lẫn nhau của các hình thức thức tổ chức xã hội loài người: từhình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên cáchình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân tộc ; quátrình thay thế lẫn nhau của các thế hệ kỹ thuật theo hướng ngày càng hoànthiện hơn

Khi nhận thức sự vật phải nhận thức nó trong sự vận động, phát triển, không đánh giá sự vật ở trạng thái đứng im, không vận động, chết cứng Quan điểm phát triển đòi hỏi phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, ngại khó, ngại đổi mới, dễ bằng lòng với thực tại

Phát triển là khó khăn, phức tạp vì phải giải quyết mâu thuẫn bên trong

sự vật; là quá trình tích lũy về lượng, thay đổi về chất lâu dài; là quá trình phủ định thay thế cái cũ Nhận thức được điều này sẽ tránh tình trạng chủ quan, giản đơn khi đề ra con đường, biện pháp thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển

Tư duy cần phải mềm dẻo, linh hoạt cho phù hợp với sự thay đổi của sự vật, hiện tượng Thực hiện tốt yêu cầu này sẽ khắc phục được bệnh giáo điều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Trong nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật theo một quá trìnhkhông ngừng thay đổi về chất ở trình độ cao hơn qua sự biểu hiện của nó ởcác giai đoạn, các hình thái xác định, nhờ đó giúp cho chúng ta nhận thứcđược sự vật theo một quá trình không ngừng phát triển của nó Cũng từ đó

có thể dự báo được giai đoạn, hình thái phát triển trong tương lai của nó

Ví dụ: C Mác đã đứng trên quan điểm phát triển đế phân tích sự phát

triển của xã hội loài người qua các hình thái tổ chức kinh tế - xã hội hoặc ông đã đứng trên quan điểm đó để phân tích lịch sử phát triển của các hình thái giá trị: từ hình thái trao đổi ngẫu nhiên đến hình thái cao nhất của nó là hình thái tiền tệ,

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận của sự phát triển, một quan điểm khoa học trong việc nhận thức và cải tạo thế giới

* Yêu cầu của quan điểm phát triển:

Khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, phát triển và phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa chúng Sự vận

động, biến đổi ấy là cái vốn có của thế giới hiện thực Sự vận động, biến đổi

Trang 9

của sự vật, hiện tượng diễn ra đa dạng, phong phú và theo những khuynh hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, trong đó phát triển vẫn là xu hướng chính, có vai trò chi phối các xu hướng khác Quá trình nhận thức củacon người phải phát hiện ra xu hướng chính để thúc đẩy sự vật phát triển.

Sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách

quan là một quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn Trong quá trình đó, sự

vật, hiện tượng không chỉ có những biến đổi theo chiều hướng đi lên, mà còn bao hàm cả những biến đổi thụt lùi Do vậy, quá trình nhận thức phải thấy rõ được tính chất quanh co, phức tạp của quá trình phát triển như là một hiện tượng phổ biến

Quan điểm phát triển đòi hỏi chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, yêu cầu phải tin tưởng tương lai khi có khó khăn, thất bại tạm thời thì quy luật chung là phát triển đi lên Trong hoạt động thực tiễn phải có tầm nhìn chiến lược, dự báo được các tình huống có thể xảy ra để có các phương án dự phòng tối ưu

Quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng phải luôn đổi mới, bổ sung và phát triển cho phù hợp với sự biến đổi của bản thân sự vật, hiện tượng.

Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia thànhcác quá trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn Trên cơ sở này tìm ra phương pháp nhận thức và những cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc là kìm hãm sự phát triển của nó tùy thuộc vào sự phát triển đó có lợi hay là có hại đối với đời sống của con

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

- Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thếgiới và cải tạo thế giới Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có quanđiểm phát triển Theo V.I.Lênin, “… Lôgích biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự pháttriển, trong “sự tự vận động”…, trong sự biển đổi của nó” Quan điểm phát triển đòi hỏi phảikhắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển

- Nguyên lý về sự phát triển chính là cơ sở lý luận khoa học để có thể định hướng đượcviệc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

Theo như nguyên lý này thì trong mọi nhận thức và trong thực tiễn cần phải có quan điểm về sựphát triển Để có thể phát triển được thì cần phải khắc phục được những tư tưởng bảo thủ, trìtrệ, lạc hậu, định kiến, đối lập với sự phát triển

Trang 10

- Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động thựctiễn của con người cần phải tôn trong quan điểm phát triển phát triển Quan điểm này đòi hỏikhi nhận thức cũng như khi giải quyết một vấn đề nào đó thì con người cần phải đặt chúng ởtrạng thái động và nằm trong khuynh hướng chung của sự phát triển.

- Để nhận thức và giải quyết được bất cứ những vấn đề gì trong thực tiễn thì một mặt cầnphải đặt sự vật theo khuynh hướng đi lên của nó Phải nhận thức được tính quanh co, phức tạptrong quá trình phát triển (tức là phải có quan điểm lịch sự cụ thể trong nhận thức và giải quyếtcác vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng phức tạp của nó)

- Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, là quan điểm toàn diện, quan điểmphát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn cảitạo chính bản thân của con người

- Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia thành các quá trìnhphát triển của sự vật thành những giai đoạn Trên cơ sở này tìm ra phương pháp nhận thức vànhững cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc là kìm hãm sựphát triển của nó tùy thuộc vào sự phát triển đó có lợi hay là có hại đối với đời sống của conngười

- Vận dụng quan điểm về sự phát triển vào hoạt động thực tiễn nhằm mục đích thúc đẩycác sự vật phát triển theo đúng như quy luật vốn có của nó đòi hỏi chúng ta cần phải tìm rađược những mâu thuẫn của sự vật qua hoạt động thực tiễn từ đó giải quyết được mâu thuẫn vàtìm ra được sự phát triển Phải khắc phục từ tư tưởng bảo thủ, định kiến, trì trệ, Phải đặt sự vật,hiện tượng theo khuynh hướng đi lên

Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực tiễn Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận,quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử – cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉđạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân conngười Song để thực hiện được chúng, mỗi người cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng nguyên

lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạotrong hoạt động của mình

Từ đó, có thể rút ra được những bài học về sự phát triển như sau:

- Thứ nhất, cần tích cực, chủ động nghiên cứu tìm ra được những mâu thuẫn trong mỗi sựvật, sự việc, hiện tượng để từ đó xác định được định hướng phát triển và những biện pháp giảiquyết phù hợp

- Thứ hai, khi xem xét các sự vật, hiện tượng thì cần đặt sự vật hiện tượng đó trong sựvận động và phát triển Bởi sự vật không chỉ như là cái mà nó đang có, đang hiện hữu trước mắt

mà còn cần phải nắm được và hiểu rõ được khuynh hướng phát triển, khả năng chuyển hóa củanó

- Thứ ba, cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với sự vật hiện tượng, khôngđược dao động trước những quanh co, những phức tạp của sự phát triển ở trong thực tiễn

- Kế thừa những thuộc tính, những bộ phận còn hợp lý của cái cũ nhưng đồng thời cũngphải kiên quyết loại quả những cái đã quá lạc hậu cản tở và gây ảnh hưởng đến sự phát triển Vì

Trang 11

trong phát triển có sự kế thừa do đó cần phải chủ động phát hiện, cổ vũ những cái mới, cái phùhợp từ đó có thể tìm cách thúc đẩy để phát triển cái mới, để cái mới chiếm đóng vai trò chủ đạo.

Câu 6: Yêu cầu của quan điểm thực tiễn? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên

đối với đồng chí ?

Trả lời:

* Khái niệm:

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con

người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội

Thực tiễn là hoạt động khi con người sử dụng công cụ tác động vào đối tượng vật chất

làm cho đối tượng đó thay đổi theo mục đích của mình là hoạt động đặc trưng của bản chất conngười, thực tiễn không ngừng phát triển bởi các thế hệ của loài người qua các quá trình lịch sử

Không phải mọi hoạt động có mục đích của con người đều là thực tiễn hoạt động tư duy,

hoạt động nhận thức hay hoạt động nghiên cứu khoa học đều là những hoạt động có mục đích của con người, song chúng là hoạt động tinh thần, là hoạt động trong hệ thần kinh trung ương của bộ não người và chúng không phải là thực tiễn.

Ví dụ:

+ Trồng lúa, nuôi gà, buôn bán thực phẩm…

+ Xây nhà, sửa ô tô, sửa xe máy, quét rác…

+ Làm cách mạng, bầu cử, xây dựng luật pháp…

* Yêu cầu của quan điểm thực tiễn:

Vì thực tiễn có vai trò quan trọng đối với nhận thức, lý luận nên trong nhận thức và hoạt

động thực tiễn, cần quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm thực tiễn yêu cầu: (114-115)

Thực tiễn là hoạt động có mục đích của con người:

năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài.

Ngược lại, con người hoạt động có mục đích rõ ràng nhằm cải tạo thế giới

để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với

thế giới và làm chủ thế giới

+ Con người không thể thỏa mãn với những gì có sẵn trong tự nhiên Conngười phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sốngmình Để lao động hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ laođộng

người tạo ra những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Không có

phát triển được

Trang 12

Do đó, có thể phát biểu rằng, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản

của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan

hệ giữa con người và thế giới

– Thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử – xã hội:

Thực tiễn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài

người mặc dù trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có những thayđổi qua các giai đoạn lịch sử Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành trong

các quan hệ xã hội.

Thực tiễn có quá trình vận động và phát triển của nó Trình độ phát triển

con người

tiễn có tính lịch sử – xã hội.

Thực tiễn có ba hoạt động (hình thức) cơ bản:

– Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu

tiên của thực tiễn đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng nhữngcông cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, cácđiều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình

Ví dụ: hoạt động gặt lúa của nông dân, lao động của các công nhân

trong các nhà máy, xí nghiệp…

– Hoạt động chính trị – xã hội là hoạt động của các cộng đồng người,

các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính

trị-xã hội để thúc đẩy trị-xã hội phát triển

Ví dụ: hoạt động bầu cử đại biểu quốc hội, tiến hành đại hội đoàn

thanh niên trường học, hội nghị công đoàn.

– Hoạt động thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của

thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gầngiống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xácđịnh những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu dạnghoạt động này có vai trò trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời

kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

Ví dụ: hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học để

tìm ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng.mới, vác-xin phòng ngừa dịch bệnh mới.

Ngoài ra, các hoạt động thực tiễn không cơ bản như giáo dục, phápluật, đạo đức v.v được mở rộng và có vai trò ngày càng tăng đối với sự pháttriển của xã hội

Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học không phải là thực tiễn vì nó

là hoạt động tinh thần, diễn ra trong hệ thần kinh trung ương của bộ não các nhà nghiên cứu ở đây cần phân biệt rõ thuật ngữ “nghiên cứu khoa học” với “thực nghiệm khoa học” thực nghiệm khoa học là một trong ba

Trang 13

hình thức cơ bản của thực tiễn vì hoạt động này là sự hiện thực hóa các nghiên cứu lý luận, phát minh, sáng chế trong phòng thí nghiệm…

Vì thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử – xã hội của con người cho nên hoạt động thực

tiễn của con người ở mỗi thời đại là khác nhau từ hoạt động sản xuất vật chất, cho đến hoạt động chính trị-xã hội và thực nghiệm khoa học đều mang những đặc trưng của từng thời đại, gắn với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất của mỗi thời đại đó…

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

Qua việc làm rõ thực tiễn là gì và phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, ta rút

ra quan điểm thực tiễn.

– Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn,

đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng tổng kết thực tiễn.

Ví dụ:

+ Nghiên cứu cây lúa phải bám sát quá trình gieo mạ và tiến trình sinh trưởng, phát triển củacây lúa trực tiếp trên cánh đồng, đồng thời kết hợp với những tri thức đã có về cây lúa trongnhững tài liệu chuyên ngành Ta không thể nghiên cứu về cây lúa chỉ bằng việc đọc sách, báo,tài liệu

+ Nghiên cứu về cách mạng xã hội thì cũng không thể chỉ dựa vào sách, báo, tài liệu, mà cầnphải có cả quá trình tiếp xúc, tìm hiểu đời sống của các giai cấp, tầng lớp…

– Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu.

Câu 7 Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại?

Trả lời:

Khái niệm về chất

Chất là phạm trù triết học chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là

sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải sự vật khác

Đặc trưng của chất: Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làmnên chính chúng Nhờ đó, chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác, con người mớiphân biệt được sự vật, hiện tượng, với sự vật hiện tượng khác Thuộc tính vốn có của chúng chỉđược bộc lộ thông qua sự tác động qua lại với sự vật hiện tượng khác Chất của sự vật khôngnhững được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc của sự vật, bởi cácphương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó

Ví dụ: Kim cương, than chì đều được cấu tạo từ cac bon nhưng phương thức liên kết

khác nhau dẫn đến khác nhau

Khái niệm về lượng

Lượng phạm trù triết học chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng vềmặt qui mô, trình độ, tốc độ, nhịp điệu phát triển, biểu thị đại lượng con số các thuộc tính, cácyếu tố, cấu thàcnh sự vật

Trang 14

Đặc trưng của lượng : Lượng của sự vật là tính qui định vốn có trong sự thống nhất vớichất làm nên chính sự vật Lượng thường có 2 loại : 1 loại xác định bằng cân đo, đong, đếmđược bằng đơn vị lường, một loại xác định bằng định tính.

Ví dụ: Số 9 với tư cách là chất là số nguyên dương khác với các số 1,2,3,4,5,6,7,8 nhưngvới tư cách là lượng, số 9 có thể là : một số 4 cộng với một số 5,

Để hiểu rõ về quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi vềchất và ngược lại chúng ta đi vào phân tich nội dung ý nghĩa của quy luật

Nội dung quy luật

Trong quá trình vận động và phát triển chất và lượng của sự vật cùng biến đổi Sự thayđổi về chất và lượng không diễn ra độc lập mà chúng có quan hệ biện chứng với nhau

Một là : Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Sự thay đổi về lượng khôngphải dẫn đến sự biến đổi về chất ngay mà thường đến 1 giai đoạn, giới hạn nhất định mới dẫnđến sự thay đổi về chất

Khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm cho chất của sự vật thay đổi được gọi

là độ

Độ là hạm trù triết học chỉ sự thống nhất giữ lượng và chất ; là khoảng giới hạn, mà trong

đó, sự thay đổi về lượng ( tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của

sự vật diễn ra

Ví dụ : Sinh viên năm nhất đến năm thứ tư vẫn gọi là sinh viên như vậy độ của sinh viên

là khoảng giới hạn từ khi sinh viên vào học đến trước khi sinh viên bảo vệ đồ án tốt nghiệp

Tại thời điểm thay đổi thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất được gọi là điểm nút.Điểm nút là điểm giới hạn mà ở đó sự biến đổi về lượng gây ra sự biến đổi về chất Bất kì độnào cũng được giới hạn bời 2 điểm nút Sự hay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự

ra đời của chất mới

Hai là, sự thay đổi về chất dẫn đến sự thay đổi về lượng Sự thay đổi về lượng vượt quáđiểm nút, ở độ sự vật sẽ tạo ra bước nhảy, sự vật thay đổi trạng thái lại xuất hiện lượng mới vàchất mới, cứ thế sự vật vận động và phát triển không ngừng

Ví dụ : trứng gà có phôi sau 20 ngày ấp trong điều kiện bình thường sẽ nở thành con gàcon là đã thực hiện bước nhảy

Chất sau khi ra đời cũng tác động trở lại lượng thể hiện về qui mô sự vận động và khảnăng biến đổi

Các hình thức của bước nhảy do tính chất đa dạng và phước tạp của các sự vật hiện tượngtrong thế giới cho nên hình thức bước nhảy cũng có sự khác nhau có bước nhảy nhanh, chậm,toàn bộ, cục bộ

Tóm lại, sự thống nhất giữ lượng và chất trong sự vật tạo nên độ Những thay đổi vềlượng dần dần đến giới hạn điểm nút thì xãy ra bước nhảy, chất cũ bị phá vỡ, chất mới ra đờicùng với độ mới Như vậy, sự vật phát triển theo cách thức : đứt đoạn trong liên tục

Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động nhận thức để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức đầy đủ cảmặt lượng và mặt chất của nó Để nhận thức được các thuộc tính về chất của sự vật, từ đó biếtđược chất của sự vật ấy, chúng ta phải nhận thức sự vật trong mối quan hệ xác định Trong mốiquan hệ nhất định, sự vật bộc lộ ra 1 loại thuộc tính nhất định Cho nên để có tri thức đầy đủ vềchất của sự vật phải nhận thức sự vật đó trong vô vàn mối quan hệ

Trong hoạt động thực tiển dựa vào sự nhận thức chất lượng để có cách thức tác động thúcđẩy sự vật tiến lên, cần tích lũy về lượng để thay đổi về chất

Trang 15

Ví dụ: Lớp C154 tham gia học lớp trung cấp lí luận chính trị Xét về chất là mong muốntương lai là ban giám hiệu quản lí trường Về lượng chúng ta phải xem lại trình độ chuyên môn,các văn bằng chứng chỉ đầy đủ chưa để có kế hoạch đào tạo phù hợp.

Trong đời sống thực tiễn chống lại 2 khuynh hướng tả khuynh ( là chưa có lượng màmuốn có chất )và hữu khuynh ( thụ động có lượng mà không dám thực hiện bước nhảy) Tùytheo tình hình cụ thể chúng ta chọn hình thức bước nhảy cho phù hợp

Trong đời sống xã hội muốn duy trì sự vật ở trạng thái nào chúng ta phải giữ độ của nó ởtrạng thái đó

Ví dụ: Muốn giữ nước sôi còn sôi không bị nguội thì ta để vào bình thủy gọi là giữ độ củanước

Liên hệ thực tế

Quy luật này được vận dụng trong thực tiễn cách mạng ở Việt Nam rất sinh động:

Trong cách mạng chống thực dân, đế quốc, Đảng ta đã nắm được qui luật của sự biếnđổi, vận dụng lý luận đó vào thực tiễn Chúng ta phải xây dựng lực lượng cách mạng dần dần,

từ nhỏ đến lớn, từ những trận đánh nhỏ đến trận đánh lớn Quá trình phát triển của phong tràocách mạng được biến đổi dần dần Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) chúng

ta đã lớn mạnh dần về các mặt quân sự, chính trị và ngoại giao Ví dụ, từ chiến thắng Việt BắcThu-Đông (1947), chiến thắng biên giới (1950), chiến thắng Hòa Bình, Tây Bắc (1952-1953),cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) làm chấn động địa cầu Sự biến đổi dần dần về quân

sự đã tạo ra sự biến đổi về chất Thực dân Pháp phải đầu hàng Hòa bình lập lại ở Đông Dương,miền Bắc hoàn toàn giải phóng Đất nước ta bước sang giai đoạn mới thay đổi hẳn về chất.Cũng lý giải như vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam cũng là một quá trình biến đổi

về lượng Từ chiến thắng chiến tranh đặc biệt (1961-1965) đến chiến tranh cục bộ (1965-1968)

Từ chiến tranh cục bộ chúng ta đã chiến thắng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và ĐôngDương hóa (1969-1973) của đế quốc Mỹ và cuối cùng chúng ta đã mở chiến dịch tổng tiến công

và nổi dạy mùa xuân 1975 giải phóng miền Nam, đỉnh cao của nó là chiến dịch "Hồ Chí Minh"(ngày 30.4.1975) Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế đất nước, chúng tacũng ứng dụng phương pháp luận của qui luật lượng chất Quá trình phát triển nền kinh tế đấtnước trong giai đoạn hiện nay không thể nóng vội Phải xây dựng cơ sở vật chất từ đầu, phảitích lũy và tận dụng sức mạnh của các thành phần kinh tế, phát động sức mạnh của toàn dân,của các nguồn lực kinh tế của đất nước, nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, năng lượng dầukhí, du lịch, dịch vụ… tất cả tạo nên sức mạnh to lớn của nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy,nền kinh tế nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu to lớn Tổng thu nhập GDP đã đạt vàvượt chỉ tiêu kế hoạch

Kết luận: Qui luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất

và ngược lại chỉ rõ cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng nhưng cần thời gian và

sự tác động từ bên ngoài, từ đó chúng ta biết cách để bố trí thời gian và nỗ lực hợp lý cho bất cứmột kế hoạch nào đó đã được bản thân đặt mục tiêu

Câu 8 Đồng chí hãy phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức? (109-114) Rút ra ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng ở địa phương hoặc cơ quan, đơn vị công tác?

Trả lời:

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thưc:

1 Định nghĩa thực tiễn

Trang 16

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất – cảm tính có mục đích mangtính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến thế giới khách quan.

+ Ví dụ: Hoạt động gặt lúa của nông dân sử dụng liềm, máy gặt tác động vào cây lúa để thu hoạch thóc lấy gạo để ăn; hay hoạt động lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp tác động vào máy móc trên các loại vải, da, để tạo ra sản phẩm tiêu dùng như quần áo, giày dép phục

vụ đời sống con người…

Thực tiễn có các đặc trưng cơ bản sau đây:

- Thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính Tất cả những hoạt động bênngoài hoạt động tinh thần của con người đều là hoạt động thực tiễn

- Thực tiễn là hoạt động có mục đích Người ta sử dụng công cụ vật chất,phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất cụ thể để tạo ra cácdạng vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại của con người Khác hoạt động bảnnăng của động vật

- Thực tiễn có tính lịch sử - xã hội: Là hoạt động của con người trong xãhội và trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Thực tiễn bao gồm các hình thức cơ bản sau:

+ Là hoạt động sản xuất vật chất

Ví dụ: Hoạt động xây nhà, đắp đê, làm đường giao thông, trồng trọt,

chăn nuôi….

+ Là hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội

Ví dụ: Hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội, tiến hành Đại hội Đoàn

Thanh niên trường học, Hội nghị công đoàn Hay hoạt động mitting, biểu tình của công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm…

+ Là hoạt động thực nghiệm của các nhà khoa học

Ví dụ: Hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học để

tìm ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng mới, vác-xin phòng ngừa dịch bệnh mới.

Khái niệm nhận thức

Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giớikhách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ranhững tri thức về thế giới khách quan đó

Các giai đoạn của quá trình nhận thức

Quá trình nhận thức của con người gồm hai giai đoạn:

– Nhận thức cảm tính: là giai đoạn nhận thức được tạo nên do sự tiếpxúc trực tiếp của các cơ quan cảm giác với sự vật, hiện tượng, đem lại chocon người hiểu biết về đặc điểm bên ngoài của chúng

Ví dụ: Khi muối ăn tác động vào các cơ quan cảm giác, mắt (thị giác) sẽ

cho ta biết muối có màu trắng, dạng tinh thể; mũi (khướu giác) cho ta biết muối không có mùi; lưỡi (vị giác) cho ta biết muối có vị mặn.

– Nhận thức lý tính: là giai đoạn nhận thức tiếp theo, dựa trên các tàiliệu do nhận thức cảm tính đem lại, nhờ các thao tác của tư duy như: phântích, so sánh, tổng hợp, khái quát… tìm ra bản chất, quy luật của sự vật,hiện tượng

Trang 17

Ví dụ: Nhờ đi sâu phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể và công thức hóa học của muối, điều chế được muối…

2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của

Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giớiphải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhậnthức chúng

Sở dĩ như vậy, bởi con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầubằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễncải tạo thế giới mà nhận thức ở con người được hình thành và phát triển.Ban đầu, con người thu nhận những tài liệu cảm tính Sau đó, con ngườitiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… đểphản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thếgiới, từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận

Ví dụ: sự xuất hiện học thuyết mácxít vào những năm 40 của thế kỷ XIX cũng bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản bấy giờ.

* Thứ hai: Thực tiễn là mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức.

- Thực tiễn là mục đích của nhận thức:

Thực tiễn là mục đích của nhận thức vì nhận thức dù về vấn đề khíacạnh hay ở lĩnh vực gì đi chăng nữa thì cũng phải quay về phục vụ thực tiễn.Nhận thức mà không phục vụ thực tiễn thì không phải là “nhận thức” theođúng nghĩa

Do vậy, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn Lý luận,khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cảitạo thực tiễn

Ví dụ: Ngay cả những thành tựu khoa học mới đây nhất là khám phá và

giải mã bản đồ gen người cũng ra đời từ chính hoạt động thực tiễn, từ nhu cầu đòi hỏi phải chữa trị những căn bệnh nan y và từ nhu cầu tìm hiểu, khai thác những tiềm năng bí ẩn của con người… Có thể nói, suy cho cùng không

có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn.

- Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức.

Trang 18

Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức là thực tiễncung cấp năng lượng nhiều nhất, nhanh chóng nhất giúp con người nhậnthức ngày càng toàn diện và sâu sắc về thế giới.

Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, con ngườicũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực thể chất, trí tuệcủa mình Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khámphá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình

về thế giới

Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhậnthức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinhnghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngànhkhoa học Khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễncủa con người

Ví dụ: xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người cần phải “đo đạc

diện tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian

và sự chế tạo cơ khí” mà toán học đã ra đời và phát triển.

* Thứ ba: Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức đúng hay là sai bởi vìthông qua thực tiễn nó sẽ hiện thực hóa vấn đề từ đó cho phép tính khả thi

và sự tồn tại của nó

Theo các nhà kinh điển của triết học Mác – Lênin đã khẳng định: vấn đềtìm hiểu xem tư duy con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay khônghoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận, mà là một vấn đề thực tiễn.Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý

Tất nhiên, nhận thức khoa học có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩnlogic nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn vàxét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn

Chúng ta cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cáchbiện chứng Tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối:

- Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn kháchquan để kiểm nghiệm chân lý Thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xácnhận được chân lý

- Tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứngnguyên một chỗ mà luôn biến đổi và phát triển Thực tiễn là một quá trình

và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủquan

Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con ngườithành những chân lý tuyệt đích cuối cùng Trong quá trình phát triển củathực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và hiện nay vẫnphải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo, tiếp tục đượcthực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn

Ví dụ:

- Trái đất quay quanh mặt trời

- Không có gì quý hơn độc lập tự do

- Nhà bác học Galilê phát minh ra định luật về sức cản của không khí…

Trang 19

=> Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vì chỉ có đem những tri thức đãthu nhận được qua nhận thức đối chiếu với thực tiễn để kiểm tra, kiểmnghiệm mới khẳng định được tính đúng đắn của nó.

3 Ý nghĩa phương pháp luận

* Ý nghĩa phương pháp luận:

Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn

quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu:

– Phải quán triệt quan điểm thực tiễn: việc nhận thức phải xuất phát từthực tiễn

– Nghiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn; học phải đi đôi với hành

Xa rời thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu

– Nhưng không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hóavai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng

Xuất phát từ vai trò của thực tiễn trong quá trình nhận thức chúng tacần hoán triệt quan điểm thực tiễn về đời sống

– Trong quá trình nhận thức phải luôn thấy rõ vai trò của hoạt động thựctiễn, không được xa rời thực tiễn.Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn lấythực tiễn làm tiêu chuẩn để đo lường nhận thức Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫnđến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, Ngược lại,nếu tuyệt đối hóa vai trò cả thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinhnghiệm chủ nghĩa

Ví dụ: Nghiên cứu cây lúa phải bám sát quá trình gieo mạ và tiến trình

sinh trưởng, phát triển của cây lúa trực tiếp trên cánh đồng, đồng thời kết hợp với những tri thức đã có về cây lúa trong những tài liệu chuyên ngành.

Ta không thể nghiên cứu về cây lúa chỉ bằng việc đọc sách, báo, tài liệu.

- Trong học tập và nghiên cứu khoa học phải kết hợp với hoạt động sảnxuất thực tiễn theo phương châm "Học đi đôi với hành" thì mới tạo ra kếtquả tốt nhất Lý luận mà không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để xácđịnh tính chân lý của nó thì chỉ là lý luận suông Ngược lại, thực tiễn màkhông có lý luận khoa học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biến thànhthực tiễn mù quáng

Ví dụ: Nghiên cứu về cách mạng xã hội thì cũng không thể chỉ dựa vào

sách, báo, tài liệu, mà cần phải có cả quá trình tiếp xúc, tìm hiểu đời sống của các giai cấp, tầng lớp…

- Tăng cường nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn, bổ sung và pháttriển lý luận

- Trong công tác chúng ta cần phải chủ động xây dựng đội ngũ cán bộgiỏi về lý luận và giàu có về thực tiễn

4 Liên hệ tại cơ quan công tác

(Dựa trên ý nghĩa phương pháp luận để cho ví dụ)

Để đánh giá một giáo viên thì chúng ta cần xem xét đánh giá giáo viên

đó thông qua tất cả các hoạt động như dự giờ, thao giảng, hồ sơ sổ sách,chất lượng học sinh, các phong trào mà giáo viên đó tham gia trong nămhọc chứ không phải chỉ đánh giá qua nhận thức của ban giám hiệu, tổtrưởng chuyên môn đối với giáo viên đó

Trang 20

Hay là muốn xây dựng kế hoạch phát triển chiến lược cho nhà trường,muốn đánh giá xem kế hoạch đó có phù hợp với nhà trường của mình khôngthì phải đưa kế hoạch đó vào thực tiễn; sau đó sẽ tiến hành đánh giá sơ kết,tổng kết để đánh giá, sửa đổi bổ sung để cho kế hoạch ngày càng hoànchỉnh hơn.

tế tư bản tư nhân, đương nhiên phải thường xuyên đấu tranh với xu hướng

tự phát tư bản chủ nghĩa và những mặt tiêu cực trong các thành phần kinh

tế, giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong sản xuất giữa chúng để cùng pháttriển

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức

Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn – nguyên tắc cơ bản của chủnghĩa Mác – Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít Sựnghiệp đổi mới với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lýluận khoa học soi sáng Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề vàđiều kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn Tuynhiên, lý luận không bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bịxong xuôi về lý luận rồi mới tiến hành đổi mới Hơn nữa, thực tiễn lại là cơ sở

để nhận thức, của lý luận Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có

cơ sở đề khái quát thành lý luận

Vì vậy, quá trình đổi mới ở nước ta chính là quá trình vừa học vừa làm,vừa làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối đểrồi quay trở lại quá trình đổi mới Có những điều chúng ta phải mò mẫmtrong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm chí cónhiều điều phải chờ thực tiễn Ví dụ như vấn đè chống lạm phát, vấn đềkhoán trong nông nghiệp, vấn đề phân phối sản phẩm… Trong quá trình đó,tất nhiên sẽ không tránh khỏi việc phải trả giá cho những khuyết điểm, lệchlạc nhất định

Ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc sáng tạo của cán bộ và nhândân là rất quan trọng Trên cơ sở, phương hướng chiến lược đúng, hãy làmrồi thực tiễn sẽ cho ta hiểu rõ sự vật hơn nữa – đó là bài học không chỉ của

sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của sự nghiệpđổi mới vừa qua và hiện nay

Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không

hề coi nhẹ lý luận Quá trình đổi mới là quá trình Đảng ta không ngừng nângcao trình độ lý luận của mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý

Trang 21

luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nóđược thể hiện qua năm bước chuyển của đổi mới tư duy phù hợp với sự vậnđộng của thực tiễn cuộc sống trong những hoàn cảnh và điều kiện mới

1 Bước chuyển thứ nhất:

Từ tư duy, dựa trên mô hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối hóa sở hữu

xã hội (Nhà nước và tập thể) với sự phát triển vượt trước của quan hệ sảnxuất đối với sự phát triền của lực lượng sản xuất dẫn tới hậu quả kìm hãm

sự phát triển sản xuất… sang tư duy mới Xây dựng nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sựthống nhất biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng cáchình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động làm đặc trưng chủ yếunhằm thúc đẩy sản xuất phát triển

Đây chính là bước chuyển căn bản mà có ý nghĩa sâu xa vì nó là tôntrọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lựclượng sản xuất; tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất màtừng bước thiết lập quan hệ sản xuất cho phù hợp

2 Bước chuyển thứ hai:

Từ tư duy quản lý dựa trên mô hình một nền kinh tế chỉ huy tập trung,

kế hoạch hóa tuyệt đối với cơ chế bao cấp và bình quân sang tư duy quản lýmới thích ứng với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủnghĩa

3 Bước chuyển thứ ba:

Đó là tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, từ chế độ tập trung quan liêuvới phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh sang dân chủ hóa các lĩnhvực của đời sống xã hội, thực hiện dân chủ toàn diện

4 Bước chuyển thứ tư:

Đổi mới quan niệm về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội ởmột nước phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác – Lê nin trong điều kiện hoàncảnh lịch sử cụ thể của nước đó Và đây cũng chính là tính khách quan, là cơ

sở khách quan quy định nhận thức và những tìm tòi sáng tạo của chủ thểlãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Nó cũng đồng thời một lầnnữa làm sáng tỏ quan điểm thực tiễn chi phối sự hoạch định đường lối chínhsách

5 Bước chuyển thứ năm:

Đó là sự hình thành quan niệm mới của Đảng ta về Chủ nghĩa Xã hộinhững nhận thức mới về nhân tố con người

Sức mạnh của chủ nghĩa Mác – Lê nin là ở chỗ trong khi khái quát thựctiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõ quy luật khách quan của sự pháttriển, dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sự tiến hóa xã hội Trong giaiđoạn hiện nay của sự nghiệp xây dựng kinh tế xã hội đòi hỏi phải nắm vững

và vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin Đểkhắc phục những quan niệm lạc hậu trước đây cần chúng ta phải đẩy mạnhcông tác nghiên cứu lý luận, tổng kết có hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ

Trang 22

nghĩa xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới Có như vậy, lý luận mới thực hiệnvai trò tích cực của mình đối với thực tiễn.

Đổi mới nhận thức lý luận và công tác lý luận là một quá trình phức tạp,đòi hỏi phải đấu tranh với tính bảo thủ và sức ỳ của những quan niệm lýluận cũ đồng thời, đấu tranh với những tư tưởng, quan niệm cực đoan từ bỏnhững nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin, phủ định sạch trơnmọi giá trị, mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội

Tóm lại: Đổi mới tư duy chỉ đạo trong sự nghiệp đổi mới nói chung là

một bộ phận không thể thiếu được của sự phát triển xã hội cũng như sựphát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay Điều đó còn cho thấy rằng chỉ cógắn lý luận với thực tiễn mới có thể hành động đúng đắn và phù hợp với quátrình đổi mới ở nước ta hiện nay Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền

đề và làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thực tiễn Thực tiễn chính làđộng lực, là cơ sở của nhận thức, lý luận Vì vậy cần khắc phục ngay nhữngkhiếm khuyết sai lầm song cũng phải tìm ra giải pháp khắc phục để hạn chế

sự sai sót và thiệt hại

9 Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? (123-128) Ý nghĩa và sự vận dụng trong điều kiện nước ta hiện nay? (128-132)

Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? (123-128)

Ý nghĩa và sự vận dụng trong điều kiện nước ta hiện nay? (128-132)

Trả lời:

Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

a) Phương thức sản xuất là cách thức mà con người thực hiện trong quá trình sản xuất

ra của cải vật chất ở những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội loài người.Trong quá trình sản xuất của mình, con người có những cách thức sản xuất ra những củacải vật chất khác nhau Chính sự khác nhau ấy đã tạo ra những đặc trưng riêng có chomỗi kiểu xã hội nhất định (xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hộiphong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa, xã hội xã hội chủ nghĩa…) Khi nghiên cứu xã hộiloài người, C.Mác đã bắt đầu từ chính quá trình sản xuất ấy qua những phương thức sảnxuất kế tiếp nhau Phương thức sản xuất bao gồm hai mối quan hệ cơ bản: con ngườiquan hệ với giới tự nhiên, gọi là lực lượng sản xuất và con người quan hệ với nhau, gọi làquan hệ sản xuất Vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là gì?

b) Lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên Conngười với trình độ khoa học kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo của mình sử dụng những công cụlao động tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những dạng vật chất của tự nhiên tạo

ra những sản phẩm vật chất phục vụ cho nhu cầu con người Lực lượng sản xuất chính là

sự thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất.Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là

Trang 23

công cụ lao động Với cách hiểu như vậy, kết cấu của lực lượng sản xuất bao gồm nhữngyếu tố cơ bản sau:

+ Người lao động là con người biết sáng tạo, sử dụng công cụ lao động để sản xuất ranhững vật phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người trong đời sống xã hội.Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, con người với sứcmạnh, kỹ năng, kỹ xảo của mình sử dụng những tư liệu sản xuất (trứơc hết là công cụ laođộng) tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Người lao độngđược xem là yếu quyết định của lực lượng sản xuất, V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Lựclượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”(1).Trong quá trình sản xuất vật chất, con người tích luỹ kinh nghiệm, phát minh và sáng chế

kỹ thuật, nâng cao kỹ năng lao động của mình, làm cho trí tuệ của con người ngày cànghoàn thiện hơn, do đó hàm lượng trí tuệ kết tinh trong sản phẩm ngày càng cao

+ Tư liệu sản xuất là cái mà con người sử dụng nó trong quá trình lao động sản xuất,bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếuđược của lực lượng sản xuất

- Tư liệu lao động là cái do con người sáng tạo ra như phương tiện lao động (hệ thốnggiao thông vận tải, kho chứa, nhà xưởng, v.v.) và công cụ lao động Công cụ lao độngđược xem là yếu tố động và cách mạng, luôn luôn được con người sáng tạo, cải tiến vàphát triển trong quá trình sản xuất, nó là “thước đo” trình độ chinh chinh phục tự nhiêncủa loài người và là “tiêu chuẩn” để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau

- Đối tượng lao động bao gồm những cái có sẵn trong tự nhiên mà người lao động đãtác động vào nó và cả những cái đã trải qua lao động sản xuất, được kết tinh dưới dạngsản phẩm Sản xuất ngày càng phát triển, thì con người phải tìm kiếm, sáng tạo ra nhữngđối tượng lao động mới, bởi những cái có sẵn trong tự nhiên ngày càng bị con người khaithác đến “cạn kiệt”

Trong khi con người quan hệ với tự nhiên để tiến hành sản xuất thì con người cũngphải quan hệ với nhau và được khái quát trong phạm trù quan hệ sản xuất

Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ, lao động trí tuệcủa con người đóng vai trò chủ yếu trong lực lượng sản xuất Sự phát triển của khoa họcgắn liền với sản xuất vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Dự báo hơn 100năm trước đây của C.Mác về vai trò động lực của khoa học đã và đang trở thành hiệnthực Trong thời đại ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành những nguyênnhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, tác động lên mọi mặt của đời sống

xã hội Nó vừa là ngành sản xuất riêng, vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lựclượng sản xuất, giữa hai quá trình nghiên cứu khoa học và sản xuất đã đan xen với nhau,xâm nhập lẫn nhau, khoảng cách thời gian từ nghiên cứu khoa học đến sản xuất được rútngắn lại, đặc biệt khoa học đã mang lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn Những phát minhkhoa học trở thành xuất phát điểm cho sự ra đời của những ngành sản xuất mới, những

Ngày đăng: 09/01/2023, 16:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w