Cũng như nhiều loài cây trồng khác, cây lúa là một trong những loại cây bịnhiều loài sâu hại tấn công, làm ảnh hưởng đến năng suất phẩm chất, nhiều loàisâu hại lúa trong điều kiện nhiệt
Trang 1PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Lúa gạo(Oryza sativa L.) là một trong ba loại lương thực chủ yếu trên thế
giới: lúa mì, lúa gạo và ngô Hiện nay có khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo
là loại lương thực chính, khoảng 25% dân số thế giới sử dụng lúa gạo trong hơnmột nửa khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy, lúa gạo ảnh hưởng đến 65%dân số thế giới
Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới sau TháiLan Tuy nhiên sản xuất lúa gạo ở nước ta mang tính thời vụ và phụ thuốc chặtchẽ vào điều kiện thời tiết , khí hậu, đồng thời nhu cầu tiêu dùng và sản xuấtnông nghiệp ở nước ta là thường xuyên Theo dự toán của các nhà xã hội học,dân số thế giới sẽ đạt khoảng 8 tỷ người vào năm 2020 và khi đó nhu cầu lươngthực sẽ tăng gấp đôi, lương thực phải đạt 760 triệu tấn thì mới đáp ứng đủ nhucầu " (Đàm Ngọc Hưng, 2001)
Diện tích trồng lúa trên toàn thế giới năm 1992 là 147.168 nghìn ha, trong đóChâu á chiếm 90% diện tích 139.974 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở Trung Quốc,
Ấn Độ, Băng lađesh, Thái Lan Diện tích trồng lúa ở nước ta vào 1994 là 6.598nghìn ha, sản lượng đạt 23.520 tấn, đến năm 2000 diện tích là 7.525 nghìn ha;sản lượng 31.500 tấn (Đàm Ngọc Hưng, 2002)
Trong 10 năm ( 1991 - 2000) là thời kỳ đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc củangành nông nghiệp nước ta Kết quả sản xuất lúa không những chỉ đáp ứng đủnhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn đủ để xuất khẩu ( năm 1990 xuất khẩu1.624 nghìn tấn, năm 2000 là 3.500 nghìn tấn) Tuy nhiên với đà tăng dân số rấtcao như hiện nay thì áp lực cho toàn xã hội vẫn ngày một gia tăng
Hiện nay hàng loạt giống cây trồng mới ra đời, đặc biệt là các giống lúa đãgóp phần đáng kể vào việc nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng Trongnhững năm qua, việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã giúp cho
Trang 2những hộ nông dân đạt năng suất 6 - 7 tấn/ha Còn mức năng suất trên tầm 10tấn/ha thì vẫn là cá biệt trong những khi tiềm năng năng suất của hầu hết cácgiống lúa mới đều ở mức 8 - 10 tấn/ha, với các giống lúa lai thì tiềm năng năngsuất còn cao hơn nữa ( 12 - 14 tấn/ha).
Nước ta với điều kiện khí hậu nhiệt đới Nền nông nghiệp phát triển theohướng thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng Các kỹ thuật như trồngdày, bón nhiều phân hóa học, gieo trồng đồng loạt… Đã thay thế cho kỹ thuậtcanh tác cổ truyền Phân hóa học được sản xuất và cung cấp với khối lượngkhổng lồ thay thế cho các nguồn phân hữu cơ ngày càng ít ỏi Các vùng chuyêncanh, độc canh rộng lớn hình thành thay thế cho phương thức đa canh, xenxanh Tất cả những thay đổi đó đã tạo điều kiện cho nhiều loại sâu bệnh pháttriển thuận lợi và phát triển thành dịch
Cũng như nhiều loài cây trồng khác, cây lúa là một trong những loại cây bịnhiều loài sâu hại tấn công, làm ảnh hưởng đến năng suất phẩm chất, nhiều loàisâu hại lúa trong điều kiện nhiệt đới gió mùa vốn nguồn dinh dưỡng phong phú
đã trở thành những đối tượng gây hại chủ yếu với sức sinh sản nhanh, tạo ranhiều lứa, nhiều thế hệ nối tiếp nhau phá hại lúa Sâu hại lúa nói chung đã, đang
sẽ là cản trở lớn cho người nông dân trên con đường thâm canh sản xuất lúa.Trong những năm gần đây do yêu cầu sản xuất lúa, chúng ta đưa nhiều giống lúa
có năng suất cao chịu thâm canh đã tạo điều kiện cho sự phát triển gây hại chorầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ hàng năm xuất hiện và gây hại
Do đó việc nghiên cứu biện pháp phòng chống rầy nâu, sâu đục thân, sâucuốn lá nhỏ để làm tăng năng suất phẩm chất lúa đang là một vấn đề cần quantâm
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên để góp phần giải quyết khó khăn trongcông tác phòng chống sâu hại lúa, tôi được sự phân công của bộ môn Bệnh cây –Nông dược - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội thực hiện
đề tài:
Trang 3“ Điều tra diễn biến một số sâu chính hại lúa và khảo sát hiệu lực của một
số thuốc phòng trừ sâu chính trên lúa mùa 2011 tại xã Tân Viên, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở xác định thành phần, sự gây hại và diễn biến của các loài sâu hạichính và hiệu lực của một số loại thuốc chủ yếu Nhằm tìm ra loại thuốc phòngtrừ hiệu quả, hạn chế thấp nhất thiệt hại do một số sâu hại lúa chính gây ra
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra tình hình sản xuất một số giống cây trồng và sản xuất lúa năm 2011 tại
Trang 4PHẦN THỨ HAI
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất thế giới và hiện nay được trồng ở
113 quốc gia trên thế giới và phân bố ở những nước có vĩ tuyến từ 30-400 vĩtuyến Nam và 48-490 vĩ tuyến Bắc Theo số liệu thống kê năm 2001 diện tíchtrồng lúa trên thế giới đạt khoảng 151 triệu ha và sản lượng đạt 595,1 triệu tấn.[16]
Với thành tựu của cuộc cách mạng xanh hàng loạt các giống lúa mới cónăng suất cao đưa vào gieo trồng đã cải thiện cơ bản về sự thiếu hụt về lươngthực cho mỗi quốc gia Trong những năm cuối thế kỷ XX tiền năng năng suấtcủa các giống lúa thuần không tăng thêm và đã thể hiện thế “kịch trần” khó cóthể nâng cao sản lượng trong điều kiện quỹ đất trồng trọt ngày càng bị thu hẹp.Trước nhu cầu về an ninh lương thực toàn cầu, việc tìm ra giống lúa có tiềmnăng về năng suất nà chất lượng được xem là một nhu cầu bức thiết hiện nay
Lúa cũng là một cây ký chủ có số lượng sâu hại nhiều, phá hại nghiêmtrọng làm giảm năng suất, chất lượng và gây tổn thất lớn cho con người Một
trong số những loài sâu hại chính: sâu đục thân hai chấm (Trypozya incertulas Walker), sâu cuốn lá nhỏ hại lúa (Cnaphalocrocis medinalis Guenee), rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) phân bố và gây hại ở hầu hết các nước trồng lúa trên
thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triểu Tiên, Thái Lan
Trong số các loài sâu bệnh đó thì sâu cuốn lá nhỏ là một loài sâu gây hạithường xuyên cho ruộng lúa ở vùng Đông Nam Á nói chung và cho Việt Nam
nói riêng, sâu cuốn lá nhỏ chủ yếu là nòi Cnaphalocrocis medinalis Guenee đã
trở thành loài gây hại chủ yếu đối với cây lúa thuộc vùng nhiệt đới và Á nhiệtđới trong nhiều năm qua
Trang 5Sâu cuốn lá nhỏ gây hại phổ biến ở Trung Quốc, ở đó người ta coi sâucuốn lá nhỏ là loài sâu hại lúa nghiêm trọng đứng thứ hai sau rầy nâu(E.A.Heinrich 1985) Và cũng theo nguồn tài liệu này thì những vụ dịch của sâucuốn lá nhỏ cũng được thông báo trong những năm gần đây ở Ấn Độ(Chatterzee 1977), ở Nhật Bản (Wade 1981) và ở Malayxia (Ooi 1977) [16]
Sâu non cuốn lá nhỏ có 5 tuổi, thời gian hoàn thành giai đoạn sâu non
phụ thuộc vào sinh trưởng của cây lúa và nhiệt độ môi trường Giai đoạn đẻnhánh, ở nhiệt độ 250C, thời gian sâu non là 15,5 - 16,5 ngày, giai đoạn làmđòng là 18,5 - 20,5 ngày, nhộng là 5,3 ngày ở nhiệt độ 300C;5,8 ngày ở nhiệt độ
270C và 7,6 ngày ở nhiệt độ 250C Ở điều kiện nhiệt độ khác nhau, con đựcthường sống lâu hơn con cái (Wada va Kobayashi, 1980 ) [34]
Sâu cuốn lá nhỏ nhả tơ cuốn dọc lá lúa thành một bao thẳng đứng hoặcbao tròn gập lại sâu nằm trong bao gặm ăn biểu bì mặt trên và diệp lục của lá(không ăn biểu bì mặt dưới lá) theo dọc gân lá tạo thành những vệt trắng dài, cácvệt này có thể nối liền nhau thành từng mảng Chỗ bị hại có màu trắng làm giảmdiện tích quang hợp và đặc biệt nếu bị hại trên lá đòng hoặc các lá đòng có thểlàm giảm năng suất rõ rệt
Sâu cuốn lá nhỏ làm giảm năng suất nhiều nhất khi chúng gây hại vào giaiđoạn cây lúa có đòng - trỗ, còn gây hại vào giai đoạn chín sữa chỉ làm năng suấtlúa giảm nhẹ trong những năm 1981 - 1983 (Dyck, 1978) [30]
Theo Bantista và cộng tác viên (1984) [31], việc sử dụng phân bón cũngảnh hưởng tới khả năng gây hại của sâu cuốn lá nhỏ Theo kết quả nghiên cứucủa Chantaraprapha và cộng tác viên (1980) chỉ rõ: Mức độ gây hại của sâucuốn lá nhỏ trên lúa tỷ lệ thuận với lượng phân đạm được bón vào, nghĩa làlượng phân đạm bón cho lúa càng cao thì sâu cuốn lá nhỏ gây hại càng nặng Ởmức 0 kg đạm / ha tỷ lệ lá bị hại tăng từ mức 5%, lên tới 34% ở mức 120kgđạm/ha và 64% ở mức 195kg đạm / ha Còn theo kết quả nghiên cứu của Việnnghiên cứu lúa Quốc tế ở Philippines (nhiều tác giả) cho rằng sâu cuốn lá nhỏ là
Trang 6một trong những đối tượng gây hại chủ yếu, thường xuyên cả trên môi trường
đất ướt lẫn đất khô Tuy nhiên 2 loài cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis Guenee và Marasmia patnalis Bradley cũng chỉ gây hại trên diện tích nhỏ và chỉ
xảy ra trên những giống mới chịu phân Đặc biệt dịch hại rất dễ xảy ra nếu như
kẻ thù tự nhiên của sâu hại nói chung và kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ nóiriêng bị thuốc trừ sâu tiêu diệt (J.A Litsinger, B.L.Canapi, 1987)
Theo tác giả Bantista (1984) [31] thì cứ 0,5 sâu non/khóm hoặc 4% số láđòng bị hại đã làm giảm năng suất của giống IR 36 khoảng 200 kg/ ha Sâu cuốn
lá nhỏ làm giảm năng suất nhiều nhất khi chúng gây hại vào giai đoạn lúa cóđòng- trỗ, còn gây hại vào giai đoạn chín sữa chỉ làm năng suất lúa giảm nhẹtrong những năm 1981-1983 (Dyck, 1978) [30]
Nhiệt độ và độ ẩm thích hợp là 240- 30,50 C, ẩm độ từ 85 đến 90% Thờigian phát dục của sâu thay đổi tùy lứa trong năm Thời gian phát dục của trứng
là 6 -7 ngày, sâu non là 14 -16 ngày,nhộng 6 – 7 ngày, ngài sống từ 2 đến 6ngày,trung bình thời gian một vòng đời là 28 – 36 ngày
Theo kết quả nghiên cứu của tập đoàn nghiên cứu phòng trừ sâu hại lúabằng vi sinh vật của tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc (thông báo 8 / 1974) đã sử
dụng ong mắt đỏ Trichogramma japoniam Aslimead để diệt trứng sâu cuốn
lá nhỏ trên diện tích 13200 ha đạt hiệu quả là giảm tỉ lệ lá bị sâu hại là 92,8 % sovới đối chứng Lượng ong thả theo kinh nghiệm thực tế cho thấy cứ mỗi khómlúa có dưới
5 trứng sâu thì thả 15 vạn ong /ha Khi mỗi khóm lúa có 10 trứng thì thả 45 – 75vạn ong /ha, có thể thả liên tục từ 3 - 4 lần, mỗi lần cách nhau 1 – 2 ngày
Ngoài sâu cuốn lá nhỏ còn phải kể đến sâu đục thân hai chấm (Trypozya incertulas Walker ) cũng là một trong những loài gây hại nghiêm trọng cho cây
lúa tập trung chủ yếu ở vùng Bắc Á Hầu hết các nước trong khu vực châu Áđều bị sâu đục thân phá hại là nguyên nhân làm giảm năng suất từ 5% - 20 %
Trang 7tổng sản lượng thu hoạch (Hà Quang Dũng 1990, Catinding & Heong 2003) làloài đơn thực khá điển hình của cây lúa.
Theo Pathak [38], trên thế giới đã phát hiện được 24 loài sâu đục thân lúa
Trong đó: châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon Blez., Chilo zacconius Blez., Maliarpha separatella (Rog.) và Sesamia calamistis (Hamp.) Ở Châu Mỹ
đã ghi nhận được 6 loài sâu đục thân lúa gồm Chilo loftini (Dyar), Chilo plejadellus (Zink.), Diatraea saccharalis (Fabr.), Elasmopalpus lignosellus (Zell.), Rupela albinella (Cramer) và Zeadiatraea lineolata (Walk.) Lúa ở châu Úc đã phát hiện có 2 loài sâu đục thân gây hại là Niphadoses palleucus Com và Phragmatiphila sp Tại các nước châu Á có số loài sâu đục thân lúa đã phát hiện được nhiều nhất, đạt tới 9 loài Đó là các loài Ancylolomia chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo partellus (Swin.), Chilo polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Niphadoses gilviberbis (Zell.), Tryporyza incertulas (Walk.), Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens (Walk.)
Riêng vùng trồng lúa Đông Nam Á có 7 loài sâu đục thân sau:
Ancylolomia chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Tryporyza incertulas (Walk.), Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens (Walk.) (Pathak, 1973; Reissig et al., 1986)
[38]
Ở các nước lúa được gieo trồng liên tục như Ấn Độ, Malaysia, Sri-Lankathì sâu đục thân lúa phát sinh quanh năm Số thế hệ của sâu đục thân lúa 2 chấmphụ thuộc vào điều kiện sinh thái của từng vùng và thay đổi từ 2 đến 6 thế hệ ởNhật Bản, sâu đục thân lúa 2 chấm có 3 thế hệ trong một năm.Ở Trung Quốc,Đài Loan có 6 thế hệ trong một năm (Dale, 1994) [38]
Theo Grist et al (1969), trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm sống được 4
- 5 ngày [29] Theo Dale (1994), trưởng thành đực và trưởng thành cái loài sâuđục thân lúa 2 chấm có tuổi thọ không giống nhau Trưởng thành đực của loàisâu đục thân lúa 2 chấm thường có tuổi thọ (4,5 - 8,6 ngày) ngắn hơn tuổi thọ
Trang 8của trưởng thành cái (5,3 - 8,8 ngày) [38].
Ngài thường vũ hóa về ban đêm, ban ngày ngài ẩn nấp trong khóm lúarậm rạp gần mặt đất,có xu tính bắt ánh sáng mạnh Ngay sau khi vũ hóa thì ngaytrong đêm ngài có thể giao phối Ngay sau giao phối thì đêm thứ hai có thể đẻtrứng từ 2 - 6 đêm liền, nhiều nhất là đêm thứ 2 và thứ 3 Mỗi ngài cái có thể đẻ
từ 1 – 5 ổ trứng và số lượng trứng mỗi ổ thay đổi tùy theo các lứa, càng đẻ vềsau số lượng trứng càng ít đi Ngài thích đẻ trứng ở những ruộng xanh non rậmrạp
Trứng của sâu đục thân lúa 2 chấm được đẻ thành ổ ở gần ngọn lá lúa.Thời gian phát dục của pha trứng theo nghiên cứu các tác giả khác nhau thìkhông giống nhau và biến động từ 5 ngày đến 8 ngày (Dale, 1994; Reissig et al.,1986) [38] Theo Grist et al (1969), thời gian phát dục pha trứng hơi dài hơn và
là 7 - 10 ngày [39]
Thời gian sinh trưởng phát dục các giai đoạn của sâu đục thân hai chấm
có liên quan mật thiết đến điều kiện nhiệt độ, độ ẩm Ở nhiệt độ 26-300C thờigian phát dục sâu đục thân hai chấm các giai đoạn như sau: trứng 7 ngày, sâunon 25-33 ngày, nhộng 8-10 ngày, bướm vũ hóa đẻ trứng 3 ngày Thời gian phátdục của pha sâu non kéo dài khoảng từ 30 ngày (Dale, 1994; Reissig et al.,1986) [38], đến 35 - 46 ngày (Grist et al., 1969) [39] Tuổi sâu non của sâu đụcthân lúa 2 chấm cũng khác nhau Theo (Dale, 1994; Reissig et al., 1986) [38] thìsâu non có 5 tuổi.Vòng đời trung bình của sâu đục thân 2 chấm từ 43- 66 ngày
Sâu non qua đông vì nhiệt độ thấp, nếu thức ăn có chất lượng kém sâunon có số lần lột xác nhiều hơn so với bình thường 1- 2 lần Nhiệt độ thấp dưới
130 C và cao hơn 450 C có thể làm sâu non chết Nhiệt độ dới 40 C không ảnhhưởng lớn đến hoạt động của sâu non Sâu non có tập quán hóa nhộng ở dướigốc thân lúa 1 – 2cm.Trước khi hóa nhông sâu non đục sẵn một lỗ ở thân lúachừa lại lớp biểu bì mỏng để khi vũ hóa đục chui ra Độ ẩm tối thiểu để sau nonqua đông hóa nhộng là trên 90%, nếu dưới 90% sâu non không lột xác được, tỉ
Trang 9lệ chết cao Độ ẩm càng cao số lượng sâu non hóa nhông càng nhiều, tỉ lệ chếtcàng thấp Nhiệt độ dưới 150C nhộng không thể vũ hóa thành ngài, nhộng dầnbiến thành màu đen, khô lại Ở nhiệt độ 170C tỉ lệ vũ hóa nhanh.
Theo Dale (1994), sau khi thu hoạch không còn thức ăn và nhiệt độ khôngthuận lợi cho sự phát triển của sâu non thì sâu non tuổi cuối rơi vào trạng tháiđình dục ở trong gốc rạ Trong những tháng mùa đông sâu non đẫy sức thườngnằm trong gốc rạ và đình dục Hiện tượng đình dục trong mùa đông của sâu nonđục thân 2 chấm đã quan sát được ở Ấn Độ, đài Loan, Nhật Bản, và Trung Quốc(Dale, 1994; Yu L(1980) [38]
Tiếp đến phải kể đến một loài dịch hại nữa cũng gây ra những thiệt hại
đáng kể trên cây lúa trong những năm gần đây đó là rầy nâu (Nilaparvata lugens
Stal) thuộc họ Delphacidae, bộ Homoptera Hiện nay rầy nâu có mặt ở hầu hếtcác nước trồng lúa vùng Nam Á và Đông Nam Á như: Nhật Bản, Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonexia, Thái Lan, Việt Nam, Philippin Ký chủ quan trọng đầu tiêncủa rầy nâu là cây lúa, ngoài ra người ta còn tìm thấy rầy nâu trên các loại câydại khác: cỏ chân vịt, cỏ dừa, cỏ môi
Theo Jutaro Hirao từ năm 1940 dịch rầy nâu bắt đầu xuất hiện ở NhậtBản Từ 1956-1976 tình hình rầy nâu đã biến động rất nhiều Hàng thế kỷ qua ởNhật Bản rầy nâu là một đối tượng sâu hại nguy hiểm, thế nhưng chúng chỉ trởthành một mối đe dọa chính ở những nơi nào áp dụng kỹ thuật tăng năng suấtlúa Đặc biệt rầy nâu đã phá hoại, ngăn cản sự phát triển của cây lúa và gâythành dịch nặng ở Ấn Độ, Việt Nam, Philippin, Indonexia, khoảng từ năm 1973-
1976 thiệt hại ước tính trên 400 triệu đôla [33]
Mới đây tại Băng Cốc (Thái Lan) viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI và tổchức nông lương quốc tế (FAO) đồng chủ trì hội nghị chuyên đề “Rầy nâu hạilúa bộc phát và chính sách quản lý thuốc bảo vệ thực vật “ Tại hội nghị này đãchính thức công bố rầy nâu và rầy lưng trắng hại lúa đã và đang bộc phát tại cácnước trồng lúa Đông Nam Á và Trung Quốc từ năm 2006, sự bộc phát này đã
Trang 10kéo theo dịch bệnh virus, vàng lùn, lùn xoắn lá do rầy nâu truyền bệnh và bệnhlùn sọc đen phương nam do rầy lưng trắng truyền bệnh ngày càng phát sinh gâyhại nặng ở các nước này.[4]
Cùng với các nhà khoa học trên thế giới, các nhà khoa học Nhật Bản đã
có nhiều công trình nghiên cứu về rầy nâu và đã thu được nhiều kết quả nghiêncứu Khi nghiên cứu về phương pháp và triệu chứng gây hại của rầy nâu, cácnhà khoa học đã chỉ ra rằng: rầy nâu có thể gây hại ở tất cả các giai đoạn sinhtrưởng của cây lúa đặc biệt là giai đoạn mạ, làm đòng, trỗ và chín.Rầy trưởngthành và rầy non dùng miệng chích vào thân cây lúa để hút dịch.Cây bị hại nhẹ
lá dưới bị héo.Bị hại nặng chúng gây hiện tượng “cháy rầy” cả ruộng khô héo,màu trắng tái hoặc trắng , năng suất có thể giảm 50 % hoặc mất trắng.Thôngthường khi bị hại chúng tạo nên các vết hại màu nâu đậm Nếu bị hại nặng thìphần dưới thân cây lúa có màu nâu đen Do tổ chức dẫn nhựa cây bị phá hạinghiêm trọng làm cây lúa bị khô héo và chết Lúa ở thời kì làm đòng và trỗ nếu
bị rầy nặng thì tác hại càng nghiêm trọng hơn
Khi nghiên cứu về tác hại của rầy, đặc biệt là rầy nâu, viện nghiên cứulúa quốc tế (IRRI) 1972 đã đưa ra kết luận rầy nâu là vector truyền bệnh vànglùn, lùn xoắn lá làm cho cây lúa tuy giữ được màu xanh nhưng bị thấp lùn, cónhững lá bị xoăn nhiều vòng, trỗ bông muộn nhưng không thoát , ít hạt và hạt bịlép Năm 1977 ở Thái Lan đã phát hiện bệnh vàng lùn xoắn lá do rầy nâu truyềnbệnh trên ruộng lúa thuộc tỉnh Chacheongao.[34]
Trong những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của rầy Mochida (1964)nhận thấy rằng: rầy nâu thường đẻ trứng vào bẹ lá lúa, khi mật độ rầy cao chúng
có thể đẻ trên phiến lá và gân chính của lá Số lượng đẻ phụ thuộc vào loại hìnhcánh dài hay ngắn: con cái cánh dài đẻ khoảng 400 quả, con cái cánh ngắn đẻkhoàng 300 quả.[37]
Theo Duck thì số lượng trứng của rầy nâu có thể biến động từ 108 – 599quả trên một con cái Giai đoạn trứng của rầy nâu kéo dài từ 1-14 ngày Thời
Trang 11gian nở và tỉ lệ trứng nở phụ thuộc rất chặt chẽ vào nhiệt độ Cụ thể ở nhiệt độbằng 9.1-10,05o C trứng ngừng phát dục, ở nhiệt độ bằng 25o C là thích hợp nhấtvới tỉ lệ nở 91,5% Giai đoạn non kéo dài khoảng 12- 13 ngày Rầy non có 5tuổi, mới nở có màu nâu sáng hoặc trong suốt, lưng màu nâu đậm sau biến dầnthành màu nâu Rầy trưởng thành sống khoảng 3 tuần.Tùy theo nhiệt độ màvòng đời của rầy nâu có thể thay đổi: nếu nuôi ở nhiệt độ là 25o C thì vòng đờicủa nó từ 23-32 ngày, ở nhiệt độ 28oC là 23-25 ngày.[38]
Trưởng thành của rầy có hai loại: cánh ngắn và cánh dài Khi nghiên cứu
về điều kiện sinh sản rầy cánh ngắn và rầy cánh dài các tác giả Nasu vàKisimoto đã chỉ ra rằng: sau khi trứng nở điều kiện sống sẽ quyết định dạngcánh Dinh dưỡng, mật độ cư trú và quá trình rầy non ngủ nghỉ là những yếu tốquyết định đến sự thay đổi dạng cánh [35]
Sự biến động rầy đực và cái theo mức độ dinh dưỡng cũng đã được cácnhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo tài liệu nghiên cứu của sở nông nghiệp
Hồ Nam (Trung Quốc) lúa thời kỳ đẻ - ngậm sữa có nghĩa lúc dảnh lúa còn nonmềm thì số lượng rầy cái lớn hơn nhiều so với rầy đực (tỷ lệ: 3,7-1) Lúa thời kỳchín thân lúa đã cứng thì số lượng giữa rầy đực và rầy cái là tương đương (tỉ lệ:1,01-1)
Những nghiên cứu về diễn biến của rầy nâu được tiến hành nhiều năm theo tàiliệu IRRI đã cho thấy: mỗi vụ lúa cho 2-3 thế hệ rầy trong vòng 40 ngày đầu có
1 lứa rầy phát sinh nhưng mật độ không đáng kể, đỉnh cao của rầy non khoảng
30 ngày sau cấy, đỉnh cao lúa sau khoảng 60-85 ngày sau cấy [34]
Theo Dyck và CTV (1997) ở vùng nhiệt đới rầy nâu thường hoạt độngquanh năm Mỗi năm rầy có 11-12 lứa, vòng đời của mỗi lứa từ 20-30 ngày.Một số tác giả khác lại cho rằng: rầy nâu có khoảng từ 6-7 lứa/năm trong mộtnăm thường có hai thời kỳ cao điểm của rầy nâu tương đương với hai vụ lúachính [38]
Trang 12Nghiên cứu về sự phát sinh , phát triển và gây hại của rầy nâu các tác giả Pathak(1968) Ho và Lee (1969), Chiu (1977) đã đi đến kết luận rằng: sự phát sinh pháttriển và gây hại của rầy nâu phụ thuộc vào các yếu tố sinh vật, phi sinh vật cũngnhư chế độ canh tác, trình độ thâm canh [32]
Yếu tố phi sinh vật đầu tiên phải kể đến là nhiệt độ Nhiệt độ có ảnhhưởng chặt chẽ tới sự phát sinh, phát triển của rầy nâu trên đồng ruộng TheoMochida và Suennaga thì nhiệt độ thích hợp cho sự phát dục của rầy nâu là 25-
300C Nhiệt độ cao hoặc thấp 15-180C đều không thích hợp cho sự phát triển củachúng Bên cạnh đó độ ẩm cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh phát triển củarầy nâu [39]
Theo Heinricks, Pathak và Duck (1973) thì việc mở rộng diện tích gieotrồng các giống lúa mới với năng suất cao có tương quan chặt chẽ tới sự pháttriển và phá hoại của rầy nâu Cũng theo một số tác giả thì việc tăng thời vụ câylúa trong năm có thể dẫn đến tăng số lượng rầy vì khi thời gian gieo trồng cây
ký chủ càng dài, càng ổn định thì quần thể rầy nâu càng có điều kiện phát triểnmạnh mẽ Ngoài ra việc sử dụng phân bón không cân đối, bón nhiều đạm, cấyhay gieo vãi dài cũng là những nguyên nhân quan trọng làm tăng số lượng cây.[38]
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cũng chứng minh rằngbiện pháp sinh học có tầm quan trọng trong phòng trừ sâu hại nói chung và rầynâu nói riêng Các công trình nghiên cứu về biện pháp sinh học được tiến hành
từ năm 1970-1980 ở các nước trồng lúa như: Thái Lan, Indonexia, TrungQuốc đã khẳng định vai trò to lớn của ký sinh ăn thịt trong sự đảm bảo cânbằng tự nhiên trên đồng lúa
Qua nghiên cứu của các tác giả này đã phát hiện được 342 loài nhện lớnbắt mồi trên lúa ở vùng Đông Nam Á Ở Trung Quốc đã phát hiện được 293loài, Hàn Quốc 175 loài, Nhật Bản 90 loài, Đài Loan 75 loài, Thái Lan có 62loài (Barion et al 1984, 1995, Lee, Kim, 2001).Trong số này theo Mochida và
Trang 13Osaka thì nhện sói vân đinh ba Lycosa pseudoannulata, nhện Tetragnatha spp là
những loài nhện có vai trò quan trọng trong hạn chế số lượng rầy [37]
Ký sinh trứng chủ yếu gặp ở một số loài thuộc họ Eulophidae Mymaridae, Trichogrammatidae như ong ký sinh rầy Anagrus, Gronatocerus spp Theo Lin
(1976) ở Nhật Bản tỷ lệ trứng ký sinh dao động từ 45-60%, ở Thái Lan tỷ lệtrứng ký sinh thấp nhất là 11%, cao nhất là 100% Ngoài ra các loại tuyến trùng,nấm cũng là nhóm vi sinh vật có vai trò quan trọng trong hạn chế số lượng rầynâu
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa ở khu vực Đông Nam Á với đặcđiểm khí hậu và địa hình rừng núi phân cách tạo nhiều sinh cảnh đa dạng đã làmcho Việt Nam trở thành một trung tâm hình thành và phát triển nhiều hệ độngthực vật phong phú Đặc điểm khí hậu nhiệt đới làm cho côn trùng phát triểnmạnh mẽ, nhiều loài gần như phát triển quanh năm
Lúa là một trong những cây lương thực quan trọng trên thế giới và làmột trong những cây lương thực quan trọng hàng đầu của Việt Nam nóiriêng và Đông Nam Á nói chung
Tại Việt Nam có khoảng 7,7 triệu ha diện tích trồng lúa, lúa cung cấp bìnhquân 80% cacbonhydrat và 40% lượng protein cho khẩu phần ăn người ViệtNam Với việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, hàngnăm sản lượng lúa vẫn không ngừng tăng góp phần đưa Việt Nam trở thànhnước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới
Việt Nam được coi là một trong những nơi phát sinh cây lúa, nó đượcthuần hoá và trồng cấy từ hơn 4.000 năm nay Với điều kiện khí hậu nhiệtđới của miền Nam, có mùa đông lạnh ở miền Bắc, lượng mưa hàng năm lớn,rất thích hợp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển Cùng với việc tăngcường đổi mới về giống, đầu tư phân bón để đạt được năng suất cao, thì việcphải đầu tư vào công tác bảo vệ thực vật là không thể tránh khỏi Mặc dù
Trang 14phạm vi và biện pháp phòng chống sâu bệnh hại đã và đang được tiến hànhrộng rãi với hiệu quả ngày càng cao, song tổn thất về mùa màng do sâu bệnhgây ra cho cây lúa vẫn còn rất lớn
Sản lượng lúa cả nước năm 1990 là 19,22 triệu tấn , đến năm 2000 đã tănglên 32,5 triệu tấn, đặc biệt năm 2009 sản lượng đạt 38,8 triệu tấn (Tổng cụcthống kê, 2011) Năng suất lúa tăng không ngừng, bên cạnh sự đóng góp to lớncủa công tác giống, tiến bộ kỹ thuật về trồng trọt, bố trí cơ cấu trà lúa, giống lúathích hợp thì vai trò của công tác bảo vệ thực vật đã được khẳng định Trongnhững năm dịch hại phát sinh thành dịch trên diện rộng công tác bảo vệ thực vậtcòn có tính quyết định năng suất và sản lượng lúa
Tập đoàn sâu hại lúa ở Châu Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng rấtphong phú, có tới 461 loài sâu hại cây trồng thì 96 loài gây hại cây lúa nước,làm giảm đáng kể năng suất và phẩm chất của lúa
Các chuyên gia của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI cho biết, Châu Á làchâu lục sản xuất nhiều gạo nhất Như vậy cây lúa có ý nghĩa vô cùng to lớn vàkhông thể thiếu được trong đời sống con người, đặc biệt là người Châu Á Tuynhiên, những năm gần đây, trước yêu cầu tăng năng suất và chất lượng, đảm bảo
an ninh lương thực và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nhiềugiống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt nhưng nhiễm dịch hại đã được bốtrí với tỉ lệ cao cơ cấu gieo trồng, bên cạnh đó việc lạm dụng phân bón, thuốcBảo vệ thực vật cũng là nguyên nhân dẫn đến dịch hại có diễn biến phức tạp và
có xu hướng gia tăng Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật (2008), chỉ tínhriêng ở miền Bắc, diện tích lúa bị nhiễm dịch hại năm 1993 là 1.526.000 ha, đãtăng lên 2.079.766 ha năm 2001 và 2.093.069 ha năm 2008; một số đối tượngdịch hại phát sinh với mức độ cao trên diện rộng như : bệnh bạc lá, bệnh khôvằn, bệnh đạo ôn, gần đây có thêm một số đối tượng như vàng lùn, lùn xoắn lá,nhện gié, dịch châu chấu, ốc bươu vàng
Hàng năm, ở Việt Nam có khoảng 30 vạn ha (chiếm 10% diện tích gieo
Trang 15trồng cây nông nghiệp) bị sâu bệnh phá hoại Riêng miền Bắc, sâu bệnh làm tổnthất 1,2 triệu tấn thóc hàng năm Những nguyên nhân cơ bản gây nên tổn thấtlớn lao về năng suất và phẩm chất là do dịch hại phá [14] Trong khi chúng taphấn đấu vất vả để tăng năng suất cây trồng nói chung, cây lương thực nói riêng,thì tổn thất do sâu bệnh, cỏ dại gây ra còn quá lớn, chiếm 20-25% có khi tới30% tổng sản lượng [25] Trong hơn nửa thế kỷ qua, sản xuất nông nghiệp thếgiới đã có những biến đổi mạnh về kỹ thuật so với canh tác cổ truyền như trồngdày, bón nhiều đạm, gieo trồng trên diện tích lớn v.v… Tất cả những thay đổi đó
đã tạo điều kiện cho nhiều loài sâu bệnh phát triển thuận lợi và bùng phát thànhdịch Trong số các loài sâu bệnh đó thì sâu cuốn lá nhỏ là một loài sâu gây hạithường xuyên cho ruộng lúa vùng Đông Nam Á nói chung và cho cây lúa ViệtNam nói riêng
Sâu cuốn lá lúa loại nhỏ, chủ yếu là loài C medinalis đã trở thành loài gây
hại chủ yếu đối với cây lúa thuộc vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới trong nhiều nămqua Những vụ dịch do sâu cuốn lá nhỏ gây ra đã thành phổ biến ở miền BắcViệt Nam trong các vụ lúa 1981, 1983, 1984 và cả sau này Mật độ sâu cao, gâyhại rộng trên khắp các tỉnh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Tỷ lệ lá bị cuốntrung bình từ 15 - 25%, cục bộ có những nơi tỷ lệ lá bị cuốn lên tới 80 - 100%,nhiều diện tích lúa bị mất trắng, làm giảm nghiêm trọng sản lượng lúa Sâu cuốn
lá nhỏ gây hại trên cây lúa chỉ ở pha sâu non, mức độ gây hại phụ thuộc tỷ lệphần trăm lá bị hại hay giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Theo báo cáo tổng kết của Cục BVTV 1992 thì vụ chiêm - xuân năm
1989 - 1990 sâu cuốn lá nhỏ phá hại thành dịch, hơn 300 ngàn ha lúa bị phá hạithuộc các vùng trồng lúa từ Thừa Thiên Huế đến Cao Bằng, Lạng Sơn Diện tíchlúa bị hại nhiều gấp 2-3 lần năm 1986, 1989 Vụ chiêm xuân 1991 - 1992 (riêngcác tỉnh phía Bắc) sâu cuốn lá nhỏ gây hại nhẹ hơn nhiều so với các vụ trước,diện tích bị nhiễm cuốn lá nhỏ chỉ khoảng 83 ngàn ha, chỉ bằng 1/4 diện tích sovới vụ chiêm xuân 1990 - 1991 Diện tích bị cuốn lá nhỏ hại nặng chỉ có 1100
Trang 16ha, gây hại chủ yếu vùng trồng lúa ven biển Song tới vụ chiêm xuân 1992
-1993, sâu cuốn lá nhỏ lại gây hại nặng ở nhiều nơi, diện tích bị hại lên tớikhoảng 200 ngàn ha Mật độ và mức gây hại cao hơn năm 1990 - 1991 Như vậyđối với miền Bắc Việt Nam, sâu cuốn lá nhỏ vẫn là đối tượng gây hại chủ yếu,đáng được quan tâm nghiên cứu để phòng chống chúng
Hàng năm tại miền Bắc Việt Nam sâu cuốn lá nhỏ có thể phát sinh 8 lứa:
7 lứa trên ruộng lúa và 1 lứa trên cỏ dại vào mùa đông, trong đó lứa thứ 2 và lứa thứ 6 có mật độ sâu non cao nhất, còn lứa 3 và lứa 7 rơi vào giai đoạn làm đòng
và trỗ.Hiện tượng gối lứa thường xuất hiện, nhất là từ lứa 6 trở đi
Đối với sâu cuốn lá nhỏ, việc xác định sâu non làm chỉ tiêu quyết địnhphòng trừ là hợp lý vì mật độ bướm cao không đi đôi với mật độ sâu non cao, tỷ
lệ nở phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết, tỷ lệ kí sinh trứng Việc phun trừsâu cuốn lá nhỏ có hiệu quả nhất vào giai đoạn sâu non mới nở rộ
Theo Phạm Văn Lầm [15] ở nước ta qua các tài liệu nghiên cứu cho thấy
đã phát hiện 344 loài thiên địch sâu hại lúa, trong đó 199 loài bắt mồi ăn thịtchiếm 57,8% tổng số loài ăn thịt và 137 loài côn trùng kí sinh chiếm 39,8% cònlại là nhóm vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại Cụ thể: sâu cuốn lá nhỏ có tới 23loài thiên địch bắt mồi, 74 loài ong kí sinh các pha và 54 loài vi sinh vật, nấm…gây bệnh và được phát hiện ở hầu hết các nước châu Á.
Trong 15 loại thuốc sâu được sử dụng phổ biến trên đồng ruộng hiện nay
có tới 5 loại có độ độc cấp 4 và 5 loại có độ độc cấp 3 với bọ rùa đỏ và bọ cánhcứng cánh ngắn (Phạm Văn Lầm, 2002) [19] Đặc biệt gần đây thuốc nhómPyrethroid được sử dụng ngày càng nhiều trên đồng ruộng để trừ các loại sâu ăn
lá và chích hút đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thiên địch trên đồng ruộng Dovậy có được một chiến lược phòng trừ hợp lý với sâu cuốn lá nhỏ là một yêu cầubức thiết và có tầm quan trọng đặc biệt với sản xuất lúa hiện nay
Có nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng cao đã được đưa vào gieo
Trang 17trồng với diện tích lớn ở các tỉnh phía Bắc như Khang dân 18, BC15, Nhị ưu
903, … nhưng hầu hết mức độ nhiễm sâu bệnh thường nặng hơn các giống khác
Trong các loại sâu hại trên đồng ruộng, sâu đục thân hai chấm “Tryporyza
incertulas Walker” cũng là đối tượng gây hại chủ yếu và khá phổ biến tại các
địa phương, chúng vẫn luôn được coi là dịch hại nguy hiểm trên lúa
Theo tài liệu, kết quả điều tra thì ở Việt Nam đến nay trên cây lúa đã ghinhận được 8 loài sâu đục thân lúa, các tỉnh phía Bắc có 4 loài và ở các tỉnh phíaNam 7 loài Chúng thuộc họ Pyralidae (7 loài) và Noctuidae (1 loài) của bộ cánh
vảy (Lepidoptera) Đó là các loài Ancylolomia chrysographella Koll., sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilotraea polychrysus (Meyr.), sâu đục thân 5 vạch đầu nâu Chilo suppressalis (Walk.), sâu đục thân 5 vạch Chilo sp., sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilotraea auricilia Dudg., sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza incertulas (Walk.), sâu đục thân lúa bướm trắng Scripophaga innotata (Walk.)
và sâu đục thân cú mèo Sesamia inferens (Walk.) (Viện Bảo vệ thực vật, 1976,
Sâu đục thân hai chấm là loại phổ biến nhất trong các loài sâu đục thân.Loài này được ghi nhận có mặt tại 44 tỉnh thành trồng lúa trong cả nước từ miềnnúi đến đồng bằng và các tỉnh ven biển (Phạm Văn Lầm, 2002) [19]
Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Bình Quyền (1976) [17], thời gian cácpha phát dục của sâu đục thân hai chấm nuôi trong điều kiện khác nhau cho kếtquả như sau: ở nhiệt độ 20 – 280C, ẩm độ không khí trung bình 75 – 80%, thờigian pha trứng từ 6,2 – 20,4 ngày: pha sâu non từ 27,5 – 73,5 ngày: thời gian
Trang 18nhộng từ 6,6 – 22 ngày; vòng đời của sâu đục thân hai chấm từ 41,5 – 115,9ngày.
Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật, (2008) [24], sâu đục thânhai chấm có thời gian phát triển của các pha như sau: pha trứng 6 – 7 ngày(29,20C), 9 – 10 ngày (25 – 260C), và 13 – 14 ngày (21,30C); pha sâu non 25 –
35 ngày (23 – 290C), 21 ngày (29 – 350C); pha nhộng khoảng 8 – 11 ngày Nuôitrong phòng một năm có 6 lứa như sau: lứa 1: 32 ngày; lứa 2: 61 ngày; lứa 3: 38ngày; lứa 4: 46 ngày; lứa 5: 49 ngày; lứa 6: 98 ngày
Trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm chỉ giao phối 1 lần Ngay sau vũhóa có thể giao phối trong đêm đó Hoạt động giao phối mạnh nhất là sau 9 giờđêm Sau khi giao phối thì đêm thứ 2 có thể đẻ trứng, đẻ 2 – 6 đêm liền, nhiềunhất là đêm thứ 2 và thứ 3 Mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng , trứng được đẻ trên mặt lá,gần gân lá Mỗi ổ trứng sâu đục thân hai chấm có từ 60 – 100 quả trứng.Sốlượng trứng thay đổi tùy theo các lứa
Mỗi ngài cái có thể đẻ từ 1 – 5 ổ, mỗi ổ có số trứng trung bình cao nhấttheo dõi năm 1973 trên 7 lứa sâu trong năm với 1854 ổ trứng của trạm BVTVvùng đồng bằng biến động từ 89 – 285,2 quả /ổ, theo dõi 676 ổ trứng năm 1974
Khả năng gây dảnh héo và bông bạc của sâu non từ 1 ổ trứng : 12 dảnh hạihoặc 4,2 dảnh héo khi lúa đẻ nhánh: 9,2 bông bị hại hay 3,1 bông bạc/m2 khi mật
độ ổ trứng thấp hơn 5 ổ/m2 Cây lúa có khả năng phục hồi khi bị hại 15,9 – 17,6%
Trang 19trong giai đoạn đẻ nhánh.
Trong các vụ lúa (chiêm xuân, hè thu, mùa) sâu đục thân lúa 2 chấm phá hạinặng trên lúa hè thu, lúa mùa hơn lúa chiêm xuân Trong mỗi vụ tỷ lệ hại giữa thời
vụ sớm, đại trà và muộn có sự khác nhau
Theo Nguyễn Đức Khiêm, từ năm 1961 trở về trước, tác hại của sâu đục thânlúa nói chung và sâu đục thân 2 chấm nói riêng có thể gây thiệt hại biến động từ 3 –20%, có nơi, có vụ thì thiệt hại cao hơn
Biện pháp phòng trừ phổ biến hiện nay vẫn là phun thuốc trừ sâu theo dựtính dự báo 1 tuần sau khi trưởng thành ra rộ Thực tế việc phun thuốc trừ sâu có
1 số nhược điểm như phụ thuộc nhiều vào thời tiết, vào sự sẵn có của công cụnhư bình phun thuốc, ảnh hưởng trực tiếp tới thiên địch… trong khi người dânkhông quan tâm nhiều tới việc rắc 1 số loại thuốc hạt có hiệu quả Rắc thuốc cóthể có 1 số ưu điểm khác mà việc phun thuốc không có được
Ngoài các biện pháp phổ biến trong phòng trừ sâu đục thân 2 chấm nhưbiện pháp hóa học, biện pháp canh tác, sử dụng giống kháng… thì biện phápsinh học sử dụng Pheromone thu bắt trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấmvào bẫy cũng có tác dụng làm giảm nguồn sâu cho lứa sau và không gây ônhiễm môi trường
Tại Việt Nam, ứng dụng thành công pheromone trong phòng trừ sâu hạingoài đồng phải kể đến ứng dụng Pheromone giới tính để dự tính dự báo vàphòng trừ sâu tơ, sâu khoang hại rau họ hoa thập tự và sâu xanh đục quả cà chua
đã được áp dụng thành công tại Hải Phòng
Ứng dụng Pheromone giới tính trong phòng trừ sâu đục thân hai chấm làbiện pháp hiện nay đang rất được quan tâm Với đặc tính thân thiện với môitrường Biện pháp này đã bắt đầu thử nghiệm từ vụ mùa 2008 tại Hải Phòngtrên diện tích 12ha với sự giúp đỡ của trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, tuynhiên hiệu quả của biện pháp này chưa rõ rệt, vì vậy biện pháp này vẫn đangtiếp tục được thử nghiệm
Trang 20Rầy nâu đã được ghi nhận ở Việt Nam từ năm 1931 nhưng cho mãi đếnđầu những năm 70 khi nhập những giống lúa lai cải tiến có năng suất cao cùngvới sự thay đổi của kỹ thuật áp dụng trong thâm canh chúng mới trở thành sâuhại quan trọng trên cây lúa.[12]
Trong các năm cuối thập kỷ 70, 80 diện tích nhiễm rầy dao động quanh 1triệu ha Diện tích bị nhiễm nặng thường từ vài trăm ha đến hàng nghìn ha.Trong các năm 1999, 2000 diện tích bị nhiễm rầy nâu và một phần cả rầy lưngtrắng cả nước là 570 000 ha, trong đó có 34 000 ha bị nhiễm nặng và 420 hacháy rầy Mật độ rầy phổ biến là 100 – 4000 con/ m2
Ngoài tác hại trực tiếp do rầy nâu gây ra, người ta cũng phát hiện bệnh lúalùn xoắn lá do rầy nâu truyền bệnh sau các đợt dịch 1977 – 1978 ở nhiều tỉnhĐồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, với diện tích bị nhiễm lên tới 40
000 ha Trong những năm gần đây dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá đãlàm giảm sản lượng ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều nơi khác.Năm 2005 Việt Nam bị tổn thất 700 000 tấn lúa vì dịch này
Với sự xuất hiện từ lâu và thường gây hại nặng trên quy mô lớn, rầy nâu
đã và đang được các nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu tương đốitoàn diện và đồng bộ về mọi mặt
Theo tác giả Nguyễn Văn Luật đã có những nghiên cứu về đặc điểm hìnhthái và sinh học của rầy nâu đã cho thấy: rầy nâu có kích thước nhỏ, chiều dàithân chừng 4-5mm, cơ thể có màu nâu nhạt hoặc màu nâu tối, đôi khi màu nâuđậm hoặc xám đen tùy theo điều kiện môi trường [10]
Vòng đời rầy nâu có 3 giai đoạn: trưởng thành, trứng và rầy non
Rầy trưởng thành có 2 dạng: cánh dài và cánh ngắn Sự xuất hiện của 2dạng cánh phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, ẩm độ và dinh dưỡng
Theo tác giả Nguyễn Đức Khiêm: nhiệt độ, ẩm độ cao thức ăn phong phúthì xuất hiện dạng cánh ngắn nhiều và ngược lại thì dạng cánh dài sẽ chiếm ưuthế.Sự thay đổi tỉ lệ 2 loại hình trong quá trình phát triển cây lúa có sự thay đổi
cụ thể như sau: đầu vụ 90 – 100% cánh dài, bắt đầu đẻ rộ 15 – 20% cánh ngắn
Trang 21và tới khi lúa chín tỉ lẹ cánh ngắn còn 20 – 25% Tuy nhiên khi mật độ quá caomặc dù lúa còn đang trong giai đoạn đẻ rộ đến chín sữa tỉ lệ rầy cánh dài có xuthế tăng mạnh, chúng cần phải bay đi tìm nơi có thức ăn thích hợp hơn.[12]
Các nghiên cứu về đặc điểm phát sinh gây hại của rầy nâu đã cho thấy: sựphát triển của quần thể rầy nâu trong ruộng lúa có liên quan chặt chẽ tới sinhtrưởng cây lúa Qua theo dõi của bộ môn côn trùng Viện bảo vệ thực vật tại HàNội và Long An trong những năm 1979 – 1982 cho thấy, trong vụ Đông Xuâncũng như Hè Thu và vụ mùa, rầy nâu thường có 3 lứa với mật dộ quần thểthường đạt tới đỉnh cao sau khi lúa trỗ bông Ở thời kỳ 25 – 30 ngày sau khi xạhoặc cấy, mật dộ rầy thường chỉ 2-3 con/ khóm, sau khi lúa trỗ mật độ có thể lêntới hàng trăm hoặc hàng ngàn con / khóm
Bên cạnh đó thì kiện khí hậu và cơ cấu mùa vụ là những yếu tố chủ yếuxác định số sự biến động quần thể theo mùa vụ của rầy nâu Theo tác giảNguyến Đức Khiêm thì ruộng luôn đủ nước ở giai đoạn đẻ nhánh – làm đòng cómực nước ruộng từ 5 – 10cm là thuận lợi nhất cho rầy phát triển [ 9]
Yếu tố giống cũng ảnh hưởng rất lớn đến diễn biến của rầy nâu Két quảnhiều thí nghiệm cho thấy khi nuôi rầy trên các giống kháng như: IR36, IR38,IR42 chúng bị chết phần lớn ngay từ khi tuổi 1 – tuổi 3
Chỉ một tỷ lệ rất nhỏ sống sót tới giai đoạn trưởng thành ( Nguyễn VănHuỳnh, 1982; Nguyễn Công Thuận và cộng sự,1985) Những rầy trưởng thànhnày có kích thước nhỏ bé, sinh sản kém thường không phát triển sang thế hệ sau.[2]
Cũng theo viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã cho thấyrằng độc tính của quần thể rầy nâu có chiều hướng gia tăng trên giống chỉ thịASD7 (gen bph2), Rathu heenati (bph3) và giống chuẩn kháng (bph2 và bph3)
Từ lâu sử dụng giống kháng đã là biện pháp chủ yếu để phòng chống rầynâu trong thực tế sản xuất ở nước ta Ở miền Bắc đã xác định được 322 giống vàdòng lai có tính kháng rầy trong số 905 giống và dòng lại được đánh giá Ở ViệtNam đã xác định được 78 dòng có tính kháng rầy trong số 1134 giống và dòng
Trang 22lai được đánh giá Tuy nhien cùng với sự xuất hiện biotype mới của rầy nâuđồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long như đã nói ở tren đã làmcho hầu hết những giống kháng hiện trồng trong sản xuất trở nên nhiễm Vì vậy,việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu tuyển chọn, lai tạo các giống kháng mới làrất cần thiết khi mà tính kháng của giống tỏ ra không bền vững trước sự tiến hóacủa rầy nâu.
Song song với công tác tuyển chọn giống, những năm gần đây công tácnghiên cứu thiên địch của rầy nâu cũng đang phát triển
Theo tác giả Phạm Văn Lầm: thiên địch của rầy nâu, rầy lưng trắng gồm
84 loài trong đó có 65 loài bắt mồi, 14 loài ký sinh và 5 vi sinh vật và tuyếntrùng Trong số đó có 16 loài thiên địch chính Nhóm ký sinh trứng gồm có 6loài trong đó có 4 loài thường xuyên xuất hiện trên ruộng lúa Đáng chú ý nhất
là 2 loài Anagrus flaveolus và A.optabilis.Số liệu thu thập từ năm 1980-1992cho thấy tỷ lệ trứng kí sinh khác theo àng thấp nhất là Hưng Yên(1,4-16,8%) vàcao nhất là Cần Thơ (20,3-67.8%).Nhóm bắt mồi có vai trò quan trọng đặc biệt
là hai loài bọ xít mù xanh Cyorhinus lividipennis và nhện sói vân đinh baPardosa peseudonnulata Đây là các loài chiếm vị trí số lượng khá cao và có sức
ăn rầy cao
Theo tác giả Phạm Văn Lầm: nhện sói vân đinh ba ở pha trưởng thànhmột ngày ăn từ 6.9-34.1 rầy nâu tuổi 4, tuổi 5, ở pha ấu trùng tăng từ 3,2-9,2 rầynâu tuổi 3-4 Một bọ xít mù xanh ở pha trưởng thành hay ấu trùng có thể tiêudiệt 12,81-15 trứng rầy nâu hay 1,59-2 con rầy trong vòng 24 giờ.[15]
Thuốc hóa học tuy ảnh hưởng đến thiên địch của rầy, tính kháng thuốccủa rầy nhưng vẫn là biện pháp có hiệu quả khi rầy phát sinh với số lượng cao
Trang 23PHẦN THỨ BA VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Sâu cuốn lá nhỏ ( Cnaphalocrocis medinalis Guene )
+ Sâu đục thân lúa hai chấm (Trypozya incertulas Walker )
+ Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống lúa TBR 45, nếp DT 22, DH 18, Bắc thơm số 7
- Thuốc trừ sâu: Vitako 40WG, Prevathon 35WG, Tasieu 1,9EC, Takumi
20WG, Bonus 40EC, Reasgant 3,6EC
3.2.2 Dụng cụ nghiên cứu
+ Vợt, khung điều tra
+ Kính lúp, khay
+ Ống nghiệm, Bình tam giác
+ Dao, kéo, bút lông, thước dây
+ Bao Polyetylen
+ Bút chì, bút bi, sổ ghi chép
+ Cồn 45oC
3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.3.1 Thời gian nghiên cứu
-Đề tài được tiến hành vào vụ mùa năm 2011 (từ tháng 6/2011 đến tháng 10/2011)
Trang 243.3.2 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện tại Chi cục bảo vệ thực vật Hải Phòng – số 42 PhanĐăng Lưu, Kiến An, Hải Phòng và tại thôn Đại Điền, xã Tân Viên, huyện AnLão, thành phố Hải Phòng
3.4 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần sâu hại chính trên các giống lúa: TBR45, nếp DT22, DH18, Bắc thơm số 7
- Điều tra biến độ mật độ, tình hình sâu hại chính trên các giống chủ yếu gieo trồng ở xã Tân Viên: TBR45, nếp DT22, DH18, Bắc thơm số 7
- Xác định hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ của một số loại thuốc BVTV vụmùa 2011
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch sâu hại lúa vụ mùa năm 2011 tại xã Tân Viên huyện An Lão thành phố Hải Phòng
Chọn 3 ruộng đại diện cho 3 giống lúa, điều tra định kỳ 7 ngày một lần,điều tra mỗi ruộng theo 5 điểm chéo góc mỗi điểm 1 m2 (5 m2/ruộng), quan sát
từ xa đến gần, sau đó đếm trực tiếp các loại sâu hại và thiên địch
Thu thập mẫu các loài sâu hại và thiên địch trên ruộng lúa về giám địnhtại phòng Kỹ thuật - Chi cục Bảo vệ thực vật Hải Phòng
Tiến hành điều tra bổ sung bằng cách vợt 10 vợt, điểm trên những diệntích ngoài điểm điều tra
Phương pháp điều tra theo QCVN 01-38:2010/BNN&PTNT quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng(National technical regulation on Surveillance method of plant pest)
+ Giai đoạn mạ: Điều tra bằng khung 40cm x 50cm = 0,2m2/điểm
+ Giai đoạn lúa cấy: Mỗi điểm điều tra 1 m2
Trang 253.5.2 Điều tra diễn biến của sâu trên đồng ruộng
-Trên các giống lúa:
- Điều tra sâu cuốn lá, rầy nâu, sâu đục thân, tương tự như trên giống đại trà-Thời gian điều tra: lúa đẻ nhánh xong, lúa đứng cái,lúa làm đòng già, lúa trỗthoát
-Trên các trà lúa:
- Điều tra sâu cuốn lá, rầy nâu, sâu đục thân tương tự trên giống đại trà
- Thời gian điều tra: đẻ nhánh xong, lúa đứng cái, lúa làm đòng già, lúa trỗthoát
3.5.3.Chỉ tiêu theo dõi:
+ Thành phần các loài sâu hại lúa
+ Tần xuất hiện các loài sâu hại và thiên địch theo thời gian điều tra
+ Mật độ sâu: con/m2
+ Tỷ lệ lá hại: %
+ Tỷ lệ dảnh héo, bông bạc: %
Trang 263.5.3.1 Tần suất sâu xuất hiện :
Tổng số điểm có sâu
Tổng số điểm điều tra
- Theo mức thang quy định:
+ : Ít phổ biến có tần suất xuất hiện từ 0 - 10%
++ : Tương đối phổ biến có tần suất xuất hiện từ >10% - 25%
+++ : Phổ biến có tần suất xuất hiện từ >25% - 50%
++++ : Rất phổ biến có tần suất xuất hiện > 50%
Trang 273.6 Khảo nghiệm hiệu lực phòng trừ của một số thuốc BVTV đối với sâu cuốn lá nhỏ
Khảo nghiệm 7 loại thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ Bốtrí khảo nghiệm trên giống Bắc thơm số 7 theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnhRCB, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, diện tích mỗi ô là 30 m2
- CT6: phun Bonus 40EC,
-CT7: phun Reasgant 3,6EC
-CT8: phun nước lã làm đối chứng
3.6.1 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
3.6.1.1 Tính hiệu lực thuốc bằng công thức Henderson - Tilton
Ta x Cb
Hiệu lực (%) = (1- ) x 100
Ca x Tb
Trong đó:
Ta: Mật độ sâu sống (con/m2) ô xử lý sau khi phun
Tb: Mật độ sâu sống (con/m2) ô xử lý trước khi phun
Ca: Mật độ sâu sống (con/m2) ô đối chứng sau khi phun
Cb: Mật độ sâu sống (con/m2) ô đối chứng trước khi phun
3.6.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Áp dụng các phương pháp tính toán thông thường
- Tính toán, xử lý theo IRRISTAT
- Giá trị trung bình:
Trang 28Xi: Giá trị quan sát ở mức i
ni: Số lần quan sát có cùng mức i
n: Tổng số lần quan sát
S: Phương sai mẫu
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1.Tình hình cơ bản của xã Tân Viên – An Lão – Hải Phòng
4.1.1 Vị trí địa lý
Tân Viên là một xã thuộc vùng đồng bằng ven biển, nằm về tả ngạn sôngThái Bình, có đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đi qua.Về vị trí địa lý xã tiếpgiáp với các xã: phía Đông: giáp xã Mỹ Đức, phía Bắc giáp xã Tân Dân, phíaTây: giáp xã Quốc Tuấn (An Lão), phía Nam: giáp huyện Tiên Lãng
4.1.2 Điều kiện kinh tế
Tân Viên là một xã thuần nông đại đa số nhân dân trong xã làm nôngnghiệp, số lao động làm nghề nông chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu độ tuổi lao động.Bên cạnh đó có một số hộ kinh doanh cá thể, một số hộ tham gia vào lĩnh vựcdịch vụ
4.1.3 Điều kiện xã hội
Tân Viên là một xã ngoại thành của thành phố Hải Phòng với tổng số dânlà:7346 nhân khẩu, 2224 hộ sinh sống ở các thôn: Đại Điền, Lương Câu, LyCâu
Hiện tại tình hình xây dựng cơ bản của xã đang trong giai đoạn hoànthiện Đường giao thông nông thôn đã được bê tông hoá, chợ dân sinh đangđược xây dựng Hệ thống các trường học và trạm y tế khá hoàn thiện với kết cấuxây dựng khang trang, sạch đẹp
4.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Tân Viên
* Tình hình sử dụng đất đai
Trang 30Bảng 1: Điều tra tình hình sử dụng đất cơ bản của xã Tân Viên
1 Tổng diện tích tự nhiên 801
2 Đất canh tác 2 vụ lúa 365 Đất sản xuất 2 vụ lúa
Trang 31Qua bảng 1 ta thấy trong tổng số diện tích đất hiện có của xã Tân Viên,diện tíchđất sản xuất nông nghiệp (đất lúa, đất vườn và đất nông nghiệp khác) chiếmtổng diện tích là 407,8ha bằng 50,9% tổng diện tích Trong đó, diện tích đất 2 vụlúa chiếm phần lớn đất sản xuất nông nghiệp.
Đất phi nông nghiệp phục vụ kinh doanh chiếm tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 0,05%,điều này cho thấy cơ cấu kinh tế và thu nhập chủ yếu vẫn là sản xuất nôngnghiệp, các ngành kinh doanh nông nghiệp chưa phát triển
Cũng theo bảng trên ta thấy, xã Tân Viên có tỷ lệ diện tích đất dành cho phúc lợi
xã hội rất lớn, loại đất này bao gồm các công trình phục vụ các mục đích côngcộng như nhà trẻ, trường học, trạm y tế, Điều đó cho thấy sự quan tâm lớn củacác ngành chức năng đến đời sống văn hóa xã hội của nhân dân trên địa bàn.Ngoài lúa là cây trồng chính, xã Tân Viên chủ yếu trồng một số loại cây rau màuphục vụ nhu cầu tại chỗ là chính, kết quả điều tra một số loại cây trồng chủ yếucủa xã được thể hiện ở bảng 2
Bảng 2: Diện tích một số loại cây trồng 6 tháng đầu năm 2011 của xã Tân Viên
Stt Loại cây Diện tích(ha) Năng suất(tạ/
ha)
Sảnlượng(tấn)
Trang 32tích 5,24 ha, trong đó, nhóm rau ăn lá là chủ yếu, có diện tích 3,88ha, sau đó đếnkhoai tây (1,15ha) Cây cà chua có diện tích trồng là 0,21ha.
Như vậy, có thể nhận xét sơ bộ rằng sản xuất nông nghiệp của xã Tân Viên cómức phát triển thấp-trung bình Nền nông nghiệp hàng hóa chưa thực sự pháttriển, các cây nông nghiệp có giá trị hàng hóa cao chưa nhiều, các cây có giá trịthấp, phục vụ nhu cầu tại chỗ chiếm diện tích lớn trong cơ cấu
Với vai trò là cây trồng chính, cây lúa chiếm diện tích rất lớn và là trung tâm củasản xuất nông nghiệp của xã Kết quả điều tra tình hình sản xuất lúa tại xã TânViên năm 2011 được thể hiện tại bảng 3
Bảng 3: Tình hình sản xuất lúa năm 2011 của xã Tân Viên-An Lão-Hải
Phòng
Mùa vụ Giống lúa Diện tích(ha) Năng suất (tạ/
ha)
Sản lượng(tấn)
Trang 33giống có tỷ lệ lớn nhất là khang dân 18 và Bắc thơm số 7, ngoài ra, một số giốngđược sử dụng với tỷ lệ nhỏ là BC 15, Nếp, Xi23 và TBR36.
Về năng suất, ta thấy nhìn chung năng suất lúa vụ xuân luôn cao hơn năngsuất vụ mùa Tuy nhiên mặc dù lúa lai chưa được sử dụng nhiều trong cơ cấugiống cây trồng hiện tại song về năng suất lúa lai luôn đứng đầu bảng và làgiống có tiềm năng Cụ thể, lúa lai đã đạt 75 tạ/ha vào vụ xuân và dự kiến sẽ đạt66,7 tạ/ha vào vụ mùa, trong khi đó các giống cũ chỉ đạt 50-60 tạ/ha Năng suấtthấp nhất là giống Nếp, trung bình là 50 tạ/ha vào vụ xuân và 44,5 tạ/ha vào vụmùa
Giống vừa đạt năng suất cao nhưng phải có chất lượng gạo ngon, chịuđược sâu bệnh đang là mục tiêu cần đạt được Cho nên việc nghiên cứu, theo dõithành phần và mức độ phổ biến các loài sâu, bệnh hại chính trên vùng đất trồnglúa thuộc xã Tân Viên huyện An Lão, thành phố Hải Phòng năm 2011 là rất cầnthiết cho công tác bảo vệ cây trồng, đảm bảo năng suất và chất lượng gạo
4.2 Thành phần sâu hại trên các giống lúa TBR 45, nếp DT 22, DH 18 vụ mùa năm 2011 tại xã Tân Viên – An Lão – Hải Phòng
Vụ mùa 2011 trên các giống lúa chính: TBR 45, nếp DT 22, DH 18, đãbắt gặp và thu thập được những loài sâu hại sau:
Trang 34Bảng 4: Thành phần sâu hại trên các giống TBR45, DH18, nếp D22 vụ mùa
năm 2011 tại xã Tân Viên - An Lão – Hải phòng
Trong đó: +++: Mức độ xuất hiện thường xuyên
++: Mức độ xuất hiện trung bình+: Mức độ xuất hiện ít
Qua bảng 4 ta thấy, vụ mùa 2011 trên các giống lúa TBR 45, nếp DT 22, DH 18tại xã Tân Viên – An Lão – Hải Phòng xuất hiện 7 loài sâu hại thuộc 4 bộ trong
đó bộ Lepidoptera có 3 loài: sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá lớn, sâu đục thân 2 chấm, bộ Homoptera gồm 2 loài: rầy nâu, rầy lưng trắng, bộ Hemiptera gồm 1 loài bọ xít đen và bộ Orthoptera gồm 1 loài châu chấu Trong đó sâu cuốn lá
Trang 35nhỏ, rầy nâu xuất hiện ở mức thường xuyên; sâu đục thân hai chấm, rầy lưngtrắng xuất hiện trung bình, còn lại các đối tượng khác xuất hiện ít.
4.3 Thành phần thiên địch sâu hại lúa vụ mùa năm 2011 tại xã Tân Viên –
An Lão – Hải Phòng
Thiên địch là yếu tố quan trọng trong việc điều hòa số lượng các loài dịch hại,giữ cho mật độ của chúng không bùng phát thành dịch Khi thành phần thiênđịch phong phú, số lượng đủ để khống chế các loài dịch hại dưới ngưỡng phòngtrừ, hạn chế việc phun thuốc hóa học, giảm chi phí sản xuất
Vụ mùa 2011 điều tra tại Tân Viên, đã bắt gặp những loài thiên địch của
sâu hại được ghi ở bảng 5
Bảng 5: Thành phần thiên địch sâu hại lúa vụ mùa năm 2011 tại xã Tân
Viên - An Lão – Hải Phòng
1 Nhện chân dài Tetragnatha spp Araneida Tetragnathidae
3 Nhện linh miêu Oxyopes javanus Thorell Araneida Oxyopidae
4 Bọ xít mù xanh Cytorhinus lividipennis
Reuter
Hemiptera Miridae
5 Bọ ba khoang Ophionea indica Thunberg Coleoptera Carabidae
Như vậy, vụ mùa 2011 tại xã Tân Viên – An Lão – Hải Phòng xuất hiện 6 loài
thiên địch sâu hại thuộc 3 bộ trong đó: bộ Araneidae gồm 3 loài là: nhện chân
Trang 36dài, nhện sói vân đinh ba, nhện linh miêu, bộ Hemiptera gồm 1 loài bọ xít mù xanh, bộ Coleoptera có 2 loài là bọ ba khoang và bọ rùa đỏ
4.4 Kết quả điều tra diễn biến sâu cuốn lá nhỏ hại lúa trên giống TBR 45, nếp DT22, DH 18 vụ mùa năm 2011 tại xã Tân Viên – An Lão – Hải Phòng 4.4.1 Đặc điểm sinh học sâu cuốn lá nhỏ
- Trưởng thành có màu vàng nâu Ngài cái có thân dài 8,6-9,5mm, sải cánhrộng 18,7-19,5mm; ngài đực có thân dài 9,2-10,0mm, sải cánh rộng 18,3-19,2mm Khi đậu mép sau của hai cánh có viền nâu đen do các vân ngắn, thẳngxếp song song liền nhau tạo thành, ngoài cùng có một đường diềm mỏng, vânngang trong và vân ngang ngoài màu nâu đen, giữa 2 vân ngang có một vânngắn cụt cùng màu
Trưởng thành cuốn lá nhỏ (nguồn chi cục BVTV Hải Phòng)
Trứng hình bầu dục dài chừng 0,5mm Khi mới đẻ có màu trắng đục, sauchuyển dần sang mùa vàng nhạt, khi sắp nở một đầu xuất hiện một chấm đen, đó
Trang 37chính là một đầu của sâu non, sâu cắn vỏ chui ra từ phía có chấm đen đó Trứng
có hình bầu dục hơi dài, được đẻ ở lá lúa nhưng chủ yếu ở mặt dưới lá Trứngđược đẻ rải rác từng quả một, cũng có khi đẻ 2 quả xếp lộn xộn cạnh nhau Dùngkính lúp điện soi thấy mặt trên quả trứng có vân mạng lưới rất mảnh
Trứng của sâu cuốn lá nhỏ (nguồn chi cục BVTV Hải Phòng)
-Sâu non đẫy sức dài khoảng 19mm, màu xanh mạ, mảnh lưng ngực trướcmàu nâu Lưng ngực giữa và ngực sau có 8 phiến lông Thân gày mảnh,chânbụng phát triển Sâu non có 5 tuổi, trải qua 4 lần lột xác, sâu có 3 đôi chân ngực
và 4 đôi chân bụng, thân mảnh gầy, chân bụng phát triển, sâu non nhả tơ kéo 2mép lá lúa (hoặc mạ) dệt tành bao và nằm trong đó gây hại Sâu có thể gây hại
cả ngày đêm
Sâu non tuổi 1: Sâu non mới nở rất nhỏ (dài khoảng 1,1-1,3mm) có màu
từ trắng ngà đến vàng nhạt, đầu màu đen, về cuối màu của đầu nhạt dần Sâunon mới nở rất linh hoạt, nhanh nhẹn có thể bò khắp mép lá, ăn diệp lục của lá.Sau đó chúng bò lên chóp lá hoặc bò xuống gần bẹ lá