1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận kinh tế vĩ mô THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG CÁC GIAI ĐOẠN

27 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Lạm phát Và Những Hậu Quả Của Lạm Phát Ở Việt Nam Trong Các Giai Đoạn
Tác giả Chu Thị Huyền
Người hướng dẫn Họàng Minh Đức
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường.Nó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụng chạm tới mọi hệ thống kinh tế dù phát triển hay không. Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoátiền tệ. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiểu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế độ xã hội nào. Trong thế kỷ XIX được đánh dấu là không có nạn lạm phát bởi giá cả tương đối ổn định (dù có những cơn sốt ngắn ) thì sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất là thời kỳ gia tăng quá trình lạm phát với quy mô lớn.Từ sau năm 1945, không còn có hiện tượng giá cả giảm nữa. Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 70 đã kéo theo sự gia tăng trở lại lạm phát rất rõ, sau đó nhờ những cố gắng của các chính sách ổn định mà một quá trình giảmlạm phát đã bắt đầu trong những năm 80. Lạm phát gây ra nhiều tác hại cho nền kinh tế như tình trạng khủng hoảng, công nhân đình công đòi tăng lương, giá nguyên liệu tăng đột biến, thảm hoạ tự nhiên, chi phí sản xuất tăng… Nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá sang kinh tế thị trường, vì vậy nghiên cứu lạm phát đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay để đánh giá sức khoẻ của nền kinh tế nước nhà.

Trang 1

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN KINH TÉ VĨ MÔ

ĐỀ TÀI: “THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG CÁC GIAI ĐOẠN”

Hưng Yên, 5/2022

Sinh viên thực hiện : Chu Thị Huyền

Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Minh Đức

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi.Các nộidung nghiên cứu trong đề tài “Thực trạng lạm phát và những hậu quả của lạm phát

ở Việt Nam trong các giai đoạn” của tôi là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳhình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phântích, nhận xét, đánh giá được cá nhân thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõnguồn gốc Các kết quả nghiên cứu trong tiểu luận do tôi tự tìm hiểu, phân tích mộtcách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Nếu phát hiện

có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung bài tiểuluận của mình

Sinh viên thực hiện

Huyền Chu Thị Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường ĐHSPKT Hưng Yên đãđưa môn học Kinh tế vĩ mô vào trương trình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lờicảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - thầy Hoàng Minh Đứcđã dạy dỗ, truyềnđạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trongthời gian tham gia lớp học kinh tế vĩ mô của thầy, em đã có thêm cho mình nhiềukiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là nhữngkiến thức quý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này

Bộ môn Kinh tế vĩ mô là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tếcao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên.Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế cònnhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó cóthể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong thầyxem xét và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU 6

1.1 Tính cấp thiết của chuyên đề nghiên cứu 6

1.2 Mục tiêu của chuyên đề nghiên cứu 6

1.3 Đối tượng nghiên cứu chuyên đề 6

1.4 Phương pháp nghiên cứu chuyên đề 6

1.5 Kết cấu của chuyên đề 7

PHẦN II: NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 8

1.1 Khái niệm và thước đo của lạm phát 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Thước đo 8

1.2 Phân loại lạm phát 8

1.2.1 Lạm phát vừa phải (Lạm phát cơ bản) 8

1.2.2 Lạm phát phi mã 9

1.2.3 Siêu lạm phát 9

1.3 Các lý thuyết về lạm phát 10

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH LẠM PHÁT TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA 11

2.1 Lạm phát ở nước ta trong thời kỳ đổi mới (1986) 11

2.2 Lạm phát ở nước ta từ đổi mới đến nay 11

2.2.1 Thời kì bắt đầu đổi mới 1986-1990 11

2.2.2 Thời kì kinh tế đi vào ổn định (1991-1995) 12

2.2.3 Thời kì kinh tế có nhiều dấu hiệu trì trệ (1996-2000) 13

2.2.4 Thời kì có bước phát triển mới (2001-2004) 14

2.2.5 Giai đoạn 2005-2015 15

2.2.6 Giai đoạn 2016-2020 17

2.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 17

CHƯƠNG 3: HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 19

3.1 Nguyên nhân gây ra lạm phát 19

3.2 Hậu quả 20

3.2.1 Tác động tích cực 20

3.2.2 Tác động tiêu cực 21

3.3 Một số giải pháp kiềm chế lạm phát 22

3.3.1 Giải pháp chính sách tiền tệ 22

Trang 5

3.3.2 Chính sách thắt chặt tài khóa 23

3.3.3 Cân bằng cung cầu trong nền kinh tế 24

3.3.4 Các giải pháp thương mại 24

3.3.5 Các giải pháp khác 25

PHẦN III: KẾT LUẬN 26

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 6

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của chuyên đề nghiên cứu.

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thịtrường.Nó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụngchạm tới mọi hệ thống kinh tế dù phát triển hay không

Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hànghoá-tiền tệ Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không cónhững giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiểu thì lạm phát cóthể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế độ xã hội nào

Trong thế kỷ XIX được đánh dấu là không có nạn lạm phát bởi giá cảtương đối ổn định (dù có những cơn sốt ngắn ) thì sau cuộc chiến tranh thế giới thứnhất là thời kỳ gia tăng quá trình lạm phát với quy mô lớn.Từ sau năm 1945, khôngcòn có hiện tượng giá cả giảm nữa Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 70

đã kéo theo sự gia tăng trở lại lạm phát rất rõ, sau đó nhờ những cố gắng của cácchính sách ổn định mà một quá trình giảmlạm phát đã bắt đầu trong những năm 80

Lạm phát gây ra nhiều tác hại cho nền kinh tế như tình trạng khủng hoảng,công nhân đình công đòi tăng lương, giá nguyên liệu tăng đột biến, thảm hoạ tựnhiên, chi phí sản xuất tăng…

Nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá sang kinh tế thịtrường, vì vậy nghiên cứu lạm phát đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay để đánhgiá sức khoẻ của nền kinh tế nước nhà

1.2 Mục tiêu của chuyên đề nghiên cứu.

 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về lạm phát

 Đánh giá thực trạng về lạm phát ở Việt Nam trong các giai đoạn Từ đó chỉ

ra được những hậu quả của lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam

 Từ những hậu quả ta có thể đưa ra một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát

ở Việt Nam

1.3 Đối tượng nghiên cứu chuyên đề.

Thực trạng và những hậu quả của lạm phát ở Việt Nam

1.4 Phương pháp nghiên cứu chuyên đề.

Đề tài kết hợp các phương pháp chủ yếu: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp thu thập tài liệu; phân tích, so sánh và tổng hợp; kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 7

1.5 Kết cấu của chuyên đề.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của bài tiểu luân gồm ba chương chính:

Chương 1: Cơ sở lí luận về lạm phátChương 2: Thực trạng tình hình lạm phát trong nền kinh tế nước taChương 3: Hậu quả của lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam

Trang 8

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LẠM PHÁT.

1.1 Khái niệm và thước đo của lạm phát

1.1.1 Khái niệm

“Lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian

và sự mất giá trị của một loại tiền tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là

sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc giakhác” Mức giá chung hay chỉ số giá cả để đánh giá lạm phát là các chỉ số sau: chỉ

số lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá hàng tư liệu sản xuất (PPI)

1.1.2 Thước đo

Thước đo tình trạng lạm phát chủ yếu trong một thời kỳ là tỷ lệ lạmphát Chính là tỷ lệ phần trăm về chênh lệch của một trong các chỉ số nêu trên ở haithời điểm khác nhau

Công thức tính tỷ lệ lạm phát (theo CPI) trong thời gian t:

CPIt = ( Chi phí mua hàng hóa thời kì tChi phí để mua hàng hóa kỳ cơ sở)100

1.2 Phân loại lạm phát

1.2.1 Lạm phát vừa phải (Lạm phát cơ bản)

Mức độ cao hơn từ trên vài % đến mức lớn hơn không nhiều so với tốc độtăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải hay lạm phát kiểm soátđược Đối với loại này thì tuỳ theo chiến lược và chiến thuật phát triển kinh tế mỗithời kì mà các chính phủ có thể chủ động định hướng mức khống chế trên cơ sởduy trì một tỉ lệ lạm phátlà bao nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế khác: Kíchthích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu và giảm tỉ lệ thất nghiệp trong cácnăm tài khoá nhất định.Tuy nhiên chỉ có thể chấp nhận có lạm phát vừa phải trongđiều kiện nền kinh tế còn chưa đạt tới giá trị sản lượng tiềm năng so với điều kiệnhiện tại-khi mà nhân tố của sản xuất vẫn còn nằm trong tình trạng ngủ yên hoặcchưa có phương án khả thi để phát huy các tiềm năngđó.Khối tiền tệ chung châu

Âu EC và một số nước Bắc Âu như Thuỵ Điển, Na Uy, ĐanMạch…đã điều hànhchính sách thị trường bằng cơ chế ngân hàng trung ương đảm bảo lạm phát mụctiêu-Nghĩa là ngân hàng trung ương sử dụng công cụ chính sách thị trườngđể duytrì và đảm bảo một mức lạm phát mục tieu dao đông xung quanh một chỉ sốCPIđược xác định là 2 hoặc 3%/năm và nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng GDP trong

Trang 9

năm.Cơ chế này đã và đang phát huy nhiều tác dụng tích cực ít nhất trong vòngnăm năm qua

1.2.2 Lạm phát phi mã

Lạm phát phi mã là cấp độ cao thứ 3 có tỉ lệ lạm phát bình quân/năm từ mứctrung bình của hai con số đến đỉnh cao của ba con số Đây là tỉ lệ lạm phát vượt xangoài khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương.Giải pháp để chống lại hiệntượng lạm phát nàyđòi hỏi phải là sự tổng lực của toàn nền kinh tế quốc dân trongcác nỗ lực thắt chặt tiềntệ,đẩy mạnh sản xuất,tăng cường đầu tư,thu hút mạnh cácnguồn vốn,kích thích đầu tưtrong nước,cải cách lại cơ cấu kinh tế,nâng cao trình độcông nghệ,tạo ra môi trường pháplý thuận lợi cho lưu thông hàng hoá và đẩy mạnhsản xuất hàng thay thế nhập khẩu để tăngcung cho nội bộ nền kinh tế đang trànngập quá mức tổng phương diện thanh toán …ởnước tâ từ 1985 đến 1988 đã phảichứng kiến và chống đỡ với cấp độ lạm phát này

1.2.3 Siêu lạm phát

Cấp độ siêu lạm phát là hiện tượng khủng hoảng kinh tế đã lên đến trên bacon số-thậm chí người ta không thể đo lạm phát bằng số % mà bằng số lần tăng giátrong năm.Thế giới đã từng kinh hoàng về nạn siêu lạm phát ở Đức trong các năm

1921 đến 1923 sau đại chiến thế giới thứ nhất Đây là mức siêu lạm phát lớn nhấttrong lịch sử tiền tệ thế giới tính cho đén nay-chỉ số giá trong vòng 22 tháng từtháng1 năm 1921 đến tháng 11 năm 1923 tăng tới 10 triệu lần.Kho tiền của Đứctrong 2 năm đó tăng 7 tỷ lần tổng giá trị danh nghĩa.Tính tước đoạt của cuộc siêulạm phát này được lượng hoá bằng con số kinh khủng: Nếu ai có một tấm ngânphiếu 300 triệu DM Thì chỉ 2 năm nói trên, giá trị thực củatấm ngân phiếu này hầunhư chỉ còn lại là con số không Cuộc siêu lạm phát lớn thứ 3 xảy ra ở Mỹ thời kìnội chiến 1860-Riêng trong năm 1860 giá cả hàng hoá tăng lên 20 lần=2000%.Người ta đã miêu tả bằng hình ảnh về cuộc lạm phát này rằng tiền mang đi chợphải đựng bằng sọt,còn hàng hoá mua được thì bỏ vào túi-Mọi hàng hoá trên thịtrường trởnên cực kỳ khan hiếm trừ tiền.Tiền hầu như đã trút bỏ mọi chức năngvốn có của nó kể cảchức năng trực tiếp nhất là làm phương tiện lưu thông hànghoá.Cuộc siêu lạm phát gần đây nhất và là cuộc lạm phát lớn thứ hai trong lịch sửkinh tế hàng hóa-tiền tệ thế giới.Tuy nhiên,siêu lạm phát là một hiện tượng kinh tếcực kì hiếm, nó thường xuất hiện gắn liền vớicác cuộc chiến tranh thế giới hoặc nộichiến khốc liệt.Tất nhiên hiếm không có nghĩa là không xảy ra

Trang 10

1.3 Các lý thuyết về lạm phát

 Lạm phát cầu kéo

Khi mức sản lượng cân bằng đạt hoặc vượt mức sản lượng tiềm năng, đườngtổng cung có đọ dốc rất lớn Do vậy nếu đường tổng cầu tăng lên thì giá sẽ tăng lênnhanh chóng gây ra lạm phát trầm trọng

 Lạm phát chi phí đẩy:

Lạm phát xảy ra khi xuất hiện biến động lớn ở giá cả các yếu tố đầu vào, sựtăng mạnh của giá cả các yếu tố đầu vào làm giảm đi trong khi đó cung tiền khôngkịp điều chỉnh càng làm giá cả tăng lên mạnh gây lên lạm phát trầm trọng

Khi chính sách tài khóa thực hiện trong thời kỳ suy thoái có thể dẫn đếnthâm hụt ngân sách, chính phủ sẽ phải phát hành tiền nhiều hơn để đảm bảo khảnăng chi trả làm giá cả hàng hóa tăng lên gây ra lạm phát một biện pháp của chínhphủ có thể làm giảm mức cung tiền là phát hành trái phiếu để giảm lượng cung tiền

là phát hành trái phiếu để giảm lượng cung tiền là phát hành trái phiếu để giảmcung tiền thực tế, nhưng nếu thâm hụt ngân sách kéo dài, những khoản vay nợtrong dân cùng với lãi suất sẽ là rất lớn và nếu không đảm bảo được việc chi trả chongân sách thâm hutjthif chính phủ buộc phải phát hành tiền nhiều hơn để đảm bảochi trả, lạm phát diễn ra rất mạnh có thể là lạm phát phi mã thậm chí khi khôngkiểm soát được sẽ thành siêu lạm phát

Khi xảy ra sự thay đổi của tổng cugn và tổng cầu với sự tăng lên ổn định vàđều nhau, sản lượng không thay đổi và giá cả tăng lên nhỏ , vì các tác nhân kinh tếđều có thể dự kiến được mức độ lạm phát nên gọi là lạm phát dự kiến, loại lạm phátnày thường xảy ra và ít gây ảnh hưởng xáo trộn đến nền kinh tế

Trang 11

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH LẠM PHÁT TRONG NỀN KINH

TẾ NƯỚC TA

2.1 Lạm phát ở nước ta trong thời kỳ đổi mới (1986)

Trước thời kỳ đổi mới,nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạchhoá tập trung quan liêu bao cấp nên vấn đề giá cả chưa chịu tác động của quy luậtthị trường, mà được định ra theo mệnh lệnh và qui định ,do vậy lạm phát khôngxuất hiện

Tuy nhiên bước vào giai đoạn 1976-1985,nền kinh tế đã có nhiều biểu hiệnsuy thoái, khủng hoảng và lạm phát Lạm phát thời kì này là lạm phát phi mã 700-800%.Lạm phát này phá vỡ hoàn toàn mọi cân đối và hệ thống tài chính-tiền tệ rốiloạn, kinh tế-xã hội có nhiều biến động xấu Sản xuất đình đốn, kinh doanh kémhiệu quả, năng suất lao động thấp, chi phí vật chất cao, thu nhập quốc dân tăngkhông đáng kể, đời sống của người dân giảm sút, giá cả ở thị trường chính thức vàthị trường chợ đen có khoảng cách khá xa Nông nghiệp với tỷ trọng chiếm trên40% tổng sản phẩm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân nhưng giá trị sảnxuất nông nghiệp tăng bình quân chỉ ở mức 3,8%/năm Độc canh cây lúa với tổngsản lượng lương thực chỉ đạt 18,2 triệu tấn vào năm 1985 nên tình trạng thiếulương thực và đói ăn của người dân kéo dài triền miên, công nghiệp cũng chỉ tăng5,2%/năm Dịch vụ hầu như không phát triển, xuất khẩu thì với số lượng nhỏ bé,chỉ đạt khoảng 746 triệu USD vào năm 1985, trong khi thâm hụt cán cân thươngmại lại cao(844 triệu USD năm1985) gấp 1,13 lần so với xuất khẩu Thời kì 1976-

1980, vay nợ và viện trợ nước ngoài chiếm 38,2% tổng số thu ngân sách Nhà nước

và bằng 61,9% tổng số thu trong nước Bội chi ngân sách Nhà nước vào 1980 là18,1% và năm1985 là 36,6% so với GDP Đây là tình trạng đất nước làm không đủ

ăn, tình hình kinh tế –xã hội khó khăn không thể kể hết

2.2 Lạm phát ở nước ta từ đổi mới đến nay

2.2.1 Thời kì bắt đầu đổi mới 1986-1990

Bước sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng

Sau Đại hội Đảng lần VI, công cuộc đổi mới đã đạt được những kết quả bướcđầu rất đáng khích lệ, nhất là từ năm 1989.Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn đang

ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế –xã hội: kinh tế phát triển chậm không ổnđịnh; bình quân thời kì 86-90 tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất nông nghiệp là3,5%, công nghiệp là 6,2% và tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9%, trong khi dân sốtăng 2,3% Trong giai đoạn này hầu hết các cân đối lớn đều căng thẳng: thâm hụt

Trang 12

ngân sách ở mức 8% so với GDP, kim nghạch xuất khẩu chỉ đạt ở mức thấp và chỉbằng 54% kim nghạch nhập khẩu(1986,kim nghạch xuất khẩu đạt 499 triệu USD vànăm 1990 đạt 1734 triệu USD Lạm phát phi mã tuy đã được đẩy lùi nhưng vẫn cònrất cao(từ 487,2% năm 1986 còn 67,1% năm 1990).

Giai đoạn 1986-1990, mặc dù Đảng và chính phủ đã có nhiều biện pháp đổimới về cơ chế chính sách và có nhiều giải pháp điều hành mới như :đề ra bachương trình kinh tế lớn (chương trình lương thực –thực phẩm, chương trình sảnxuất hàng tiêu dùng và chương trình sản xuất hàng xuất khẩu), nghị quyết 10 của

Bộ chính trị (5/4/1988) về đổi mới trong nông nghiệp, quyết định 217/HĐBT traoquyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp quốc doanh, luật đầu tưnước ngoài ra đời(12/1987), thả nổi giá cả đối với tấtcả các loại hàng hoá và vật tư,xoá bao cấp qua giá, nhưng đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, sốngười không có việc làm ngày càng lớn, chiếm trên 10% lực lượng lao động xãhội…Thu nhập bình quân trên đầu người thấp cộng với lạm phát cao nên mức sốngthực của người dân đã thấp lại còn thấp hơn

Trong giai đoạn 1986-1990,điểm đáng nhớ là hàng hoá sản xuất ra khôngbán được,hàng hoá tồn đọng, nhiều cơ sở phải thu hẹp hoặc ngừng sản xuất, tàichính doanh nghiệp rối ren, tình trạng ngăn sông cấm chợ vẫn còn diễn ra.Cuối giaiđoạn 1986-1990 tình hình kinh tế –xã hội đã có nhiều cải thiện, tổng sản phẩm xãhội tăng bình quân mỗi năm 4,8%,thu nhập quốc dân bình quân đầu người mỗi nămtăng 3,9%, sản lượng lương thực đã đạt 21,5 triệu tấn, phân phối lưu thông đã cónhững bước tiến quan trọng, nhu cầu tiêu dùng giả tạo đã giảm đáng kể, hoạt độngkinh tế đối ngoại có nhiều khởi sắc, tốc độ xuất khẩu có tăng nhanh hơn, các thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh bắt đầu phát triển

2.2.2 Thời kì kinh tế đi vào ổn định (1991-1995)

Bước sang giai đoạn 1991-1995, tình hình kinh tế –xã hội nước ta có nhiềuchuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và toàn diện, nền kinh

tế đã bắt đầu vượt qua khủng hoảng để đi vào thế ổn định Tổng sản phẩm trongnước thời kì 1991-19995 tăng bình quân 8,2%(năm 1991 tăng 6%,1992 tăng8,6%,1993 tăng 8,1%,1994 tăng8,8% và 1995 tăng 9,5%), giá trị sản xuất nôngnghiệp tăng bình quân hàng năm tang 5,2%,sản lượng lương thực hàng năm tăng4%, lương thực bình quân đầu người đã tăng liên tục từ 324,9kg năm 1991 lên400kg năm 1998, và từ nước nhập khẩu gạo đến giai đoạn này đã là nước xuất khẩugạo đứng thứ 2 trên thế giới, nhiều nhân tố mới trong nông nghiệp xuất hiện, hìnhthành nhiều hộ sản xuất kinh doanh giỏi và khoảng 11,5 vạn hộ phát triển kinhtế

Trang 13

trang trại Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm khoảng 13%, vượtqua nhiều thử thách gay gắt của thị trường, thích nghi dần với cơ chế mới, nhiềusản phẩm quan trọng tác động quyết định đến nền kinh tế đều tăng trưởng khá Cácngành dịch vụ phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và phục vụđời sống của nhân dân Lưu thông vật tư hàng hoá và dịch vụ phát triển phong phú,đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng của xã hội về số lượng, chất lượng và chủng loại đãgóp phần tạo nên những biếnđộng sâu sắc trên thị trường trong nước.

Trong giai đoạn 1991-1995, điểm nổi bật là sự tăng trưởng kinh tế vượt trộihơn tất cả các giai đoạn trước đó với tốc độ tăng trưởng cao nhất, ổn định và liêntục, tăng trưởng từ bản thân nền kinh tế ít dựa vào bao cấp và trợ lực từ bên ngoài.Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng từ 2,9% năm 1991 lên 6,6% năm 1995(năm 1992 tăng 8,4%, 1993 tăng6,7%,1994 tăng 4,9%) Sản lượng lương thực đãtăng từ 14,3 triệu tấn giai đoạn 1976-1980,17 triệu tấn/năm giai đoạn 1986-1990lên 25,1 triệu tấn giai đoạn 1991-1995

Thành công trong quá trình đổi mới của nền kinh tế giai đoạn 1991-1995 làbước đầu chặn được lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 67,1% năm 1990 xuống12,7% năm 1995 (năm 1991 tỉ lệ lạm phát là 67,5% , năm 1992 là 17,5%, năm

1993 là 5,2%, năm 1994 là 19,4%, năm 1995 là 12,7%) Mặc dù chỉ số giá tiêudùng vẫn ở mức hai con số, nhưng đây là một chỉ số rất nhỏ bé so với các nămtrước đó, tình hình kinh tế-xã hội đã có nhiều khởi sắc và đang càng ngày đi vàothế ổn định và phát triển, đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước Do vậy,giai đoạn này, tình hình chính trị xã hội đã có nhiều hứng khởi, lòng dân đượckhích lệ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hơn

2.2.3 Thời kì kinh tế có nhiều dấu hiệu trì trệ (1996-2000)

Bước sang giai đoạn này, tình hình kinh tế –xã hội đã đi vào thế ổn định vàphát triển Đây là giai đoạn được xác định là bước rất quan trọng của thời kỳ pháttriển mới-đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Năm 1996, kế thừanhững thành quả đã đạt được trong giai đoạn trước, tình hình kinh tế xã hội cónhững chuyển biến tích cực, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (9,3%) Tuynhiên khủng hoảng kinh tế khu vực đã có tác động không nhỏ đến nền kinh tế nước

ta Nền kinh tế nước ta đã phải đối mặt với những thách thức quyết liệt từ nhữngyếu tố không thuận lợi bên ngoài và thiên tai liên tiếp ở trong nước Bên cạnh đó lại

có những yếu kém từ nội tại nền kinh tế bộc lộ ra: Sản xuất kinh doanh một sốnghành có phần bị trì trệ, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, tốc độ tang thu hút vốnđầu tư nước ngoài chậm lại Trước tình hình đó, Đảng và chính phủ đã có nhiều

Ngày đăng: 09/01/2023, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w