Đó cũng chính là lý do lựa chọn đề tài luận văn: “Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng các trạm sạc xe điện tại Hà Nội” b Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng các trạm sạc
xe điện tại Hà Nội
ĐỖ QUỲNH ANH
Tuan.NA202575M@sis.hust.edu.vn
Ngành Quản lý kỹ thuật và công nghệ
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Quốc Minh
Trường : Điện – Điện tử
HÀ NỘI, 8/2022
Chữ ký của GVHD
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn: Đỗ Quỳnh Anh
Đề tài luận văn : Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây
dựng các trạm sạc xe điện tại Hà Nội
Chuyên ngành : Quản lý kỹ thuật và công nghệ
Mã số SV : 20202575M
Tác giả, Người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận tác giả đã sửa chữa, bổ sung luận văn theo biên bản họp Hội đồng ngày 10/08/2022 với các nội dung sau:
- Chỉnh sửa lỗi trùng lặp nội dung;
- Chỉnh sửa lỗi chính tả;
- Lỗi định dạng luận văn, đánh số;
- Bổ sung phần mở đầu, kết luận chung như quy định;
- Bổ sung các trích dẫn đưa vào luận văn
Hà Nội, Ngày 18 tháng 08 năm 2022
Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Quốc Minh
Tác giả luận văn
Đỗ Quỳnh Anh CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Nguyễn Đức Huy
Trang 3ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng các trạm sạc xe điện tại Hà Nội
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Nguyễn Quốc Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Minh, và những ý kiến về chuyên môn quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Điện – Trường Điện -Điện tử – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường đã định hướng, chỉ bảo, hướng dẫn khoa học trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên chia sẻ khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2022
Tác giả luận văn
Đỗ Quỳnh Anh
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài luận văn : Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng
các trạm sạc xe điện tại Hà Nội
Tác giả luận văn : Ngô Anh Tuấn Khóa: 2020B ETM
Người hướng dẫn : TS Nguyễn Quốc Minh
Nội dung tóm tắt :
a) Lý do chọn đề tài:
Trước nhu cầu sử dụng phương tiện bằng điện như ô tô điện ngày càng tăng cao, khi càng có nhiều mẫu xe điện được tung ra trên thị trường và được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi, thì nhu cầu sử dụng trạm sạc pin ô tô cũng được tăng theo Điều này thúc đẩy các nhà sản xuất quan tâm đến việc đầu tư
và phát triển hệ thống trạm sạc để gia tăng tiện ích cho người mua xe điện, góp phần phát triển tương lai xe điện tại mỗi quốc gia lẫn phạm vi toàn cầu Việc nghiên cứu tìm ra mô hình kinh doanh mang lại hiệu quả đầu tư cao vào thời điểm này là hết sức cấp thiết Đó cũng chính là lý do lựa chọn đề tài luận văn: “Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng các trạm sạc xe điện tại Hà Nội”
b) Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Luận văn hệ thống hóa những lý luận về phân tích hiệu quả kinh tế-xã hội, hiệu quả tài chính các dự án đã được triển khai trong nước và trên thế giới, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dự án xây dựng các trạm sạc xe điện và đánh giá hiệu quả đầu tư dự án tại phạm vi thành phố Hà Nội
c) Tóm tắt cô đọng các nội dung chính và đóng góp mới của tác giả:
Luận văn được trình bày thành 3 chương, nội dung chính như sau:
- Tổng quan về đầu tư xây dựng và quản lý dự án đầu tư xây dựng
- Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án
- Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng các trạm sạc xe điện tại Hà Nội
d) Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập các lý thuyết về cấu tạo, nguyên lý làm việc của hệ thống trạm sạc
xe điện
- Phương pháp thu thập dữ liệu: tổng hợp các nguồn thông tin, dữ liệu qua các nguồn khác nhau để phân tích, sử dụng trong đề tài
- Phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng phần mềm Microsoft excel
- Phương pháp hệ thống các bản báo cáo của các công trình
Trang 6- Phương pháp phân tích so sánh chi phí – lợi ích: để đánh giá hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án
e) Kết luận:
Việc phân tích mô hình kinh doanh của các trạm sạc xe điện, trên cơ sở đó đánh giá suất đầu tư cũng như lợi nhuận thu được từ các trạm sạc là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ đầu tư trong lĩnh vực xe điện Kết quả trong luận văn đã chỉ ra rằng với tỉ lệ tăng trưởng xe điện của Việt Nam hiện nay thì việc đầu tư các loại hình trạm sạc xe điện là khả thi, có thể đem lại lợi nhuận cao hơn các trạm xăng truyền thống
HỌC VIÊN
Đỗ Quỳnh Anh
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Minh, và những ý kiến về chuyên môn quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Điện – Trường Điện -Điện tử – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường đã định hướng, chỉ bảo, hướng dẫn khoa học trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên chia sẻ khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 7 năm 2022
Tác giả luận văn
Đỗ Quỳnh Anh
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong luận văn có trích dẫn một số tài liệu báo cáo từ các tổ chức uy tín trên thế giới
Các số liệu kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tất cả các trích dẫn được ghi rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Quỳnh Anh
Trang 9MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………… 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 4
1.1 Khái niệm về đầu tư và dự án đầu tư xây dựng 4
1.1.1 Khái niệm về dự án và dự án đầu tư 4
1.1.2 Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình 6
1.1.3 Các giai đoạn của dự án đầu tư 6
1.1.4 Các yêu cầu của dự án đầu tư 8
1.2 Tổng quan về đánh giá dự án đầu tư 9
1.2.1 Khái niệm về phân tích, đánh giá dự án đầu tư: 9
1.2.2 Mục đích phân tích, đánh giá dự án đầu tư: 9
1.2.3 Ý nghĩa phân tích dự án đầu tư 10
1.3 Tổng quan về phân tích, đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư……… 10
1.3.1 Khái niệm, mục đích, nội dung của phân tích tài chính 10
1.3.2 Xác định các yếu tố làm căn cứ phân tích, tính toán tài chính của dự án……… 11
1.4 Tổng quan về phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án đầu tư………… 15
1.4.1 Những khái niệm và các vấn đề chung 15
1.4.2 Giá kinh tế và tỷ suất chiết khấu xã hội: 18
1.4.3 Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 21
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN 22
2.1 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án: 22
2.1.1 Nhóm các chỉ tiêu hiệu quả tài chính: 22
2.1.2 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội: 25
2.2 Trình tự và phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình 27
2.2.1 Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu 27
Trang 102.2.2 Xác định nguồn vốn đầu tư của dự án: 27
2.2.3 Đánh giá hiệu tài chính của dự án 28
2.2.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 34
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH MÔ HÌNH KINH DOANH CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC TRẠM SẠC XE ĐIỆN TẠI HÀ NỘI 34
3.1 Tổng quan về xe điện và trạm sạc điện 35
3.1.1 Tổng quan về xe điện 35
3.1.2 Các chế độ sạc cho trạm sạc xe điện 37
3.1.3 Trạm sạc xe điện 45
3.1.4 Thực tế trạm sạc xe điện tại Hà Nội 50
3.2 Mô hình kinh doanh trạm sạc xe điện dành cho chủ đầu tư trạm sạc 52 3.2.1 Mô hình kinh doanh cho chủ các địa điểm bán lẻ 54
3.2.2 Phân tích mô hình kinh cho chủ các địa điểm bán lẻ 56
3.2.3 Lợi ích của việc triển khai các trạm sạc điện cho các chủ đầu tư trạm sạc……… 59
3.3 Xây dựng các mô hình kinh doanh lắp đặt trạm sạc điện và tính toán hiệu quả đầu tư dự án đầu tư xây dựng trạm sạc xe điện tại Hà Nội……… 60
3.3.1 Các mô hình trạm sạc 61
3.3.2 Phân tích mô hình kinh doanh trạm sạc 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 11KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AC Alternating current: Dòng điện xoay chiều
DC Direct current: Dòng điện một chiều
EV Electric Vehicle: Xe điện
EVSE Electric vehicle supply Equipment: Thiết bị cung cấp cho xe điện
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng quan các mức sạc trọng trạm sạc xe điện 38
Bảng 3.2 Thời gian sạc tính trên quãng đường di chuyển ở Sạc cấp 1 – Tính trung bình trên đường thành phố và đường cao tốc dòng điện sạc bé hơn 12A yêu cầu thời gian sạc dài hơn 41
Bảng 3.3 Thời gian sạc tính trên quãng đường xe điện di chuyển và công suất sạc tối đa của trạm sạc ở cấp 2 Tính trung bình trên đường thành phố và đường cao tốc 42
Bảng 3.4 Thời gian sạc và công suất sạc tương ứng với quãng đường di chuyển ở cấp 3 – Sạc nhanh; Tính trung bình trên đường thành phố và đường cao tốc 45
Bảng 3.5: So sánh lợi nhuận ròng của các cơ sở đặt các trạm sạc khi tính và không tính thêm doanh thu chia sẻ từ việc bán hàng cho khách hàng đến sạc 60
Bảng 3.6: Quy hoạch của Vinfast 63
Bảng 3.7: Tính NPV trong các tình huống khác nhau 65
Bảng 3.8: Đầu vào cho kịch bản 1 67
Bảng 3.9: Đầu ra của kịch bản 1 69
Bảng 3.10: Đầu ra của kịch bản 2 69
Bảng 3.11: Đầu ra của kịch bản 3 71
Bảng 3.12: Đầu ra của kịch bản 4 72
Bảng 3.13: Đầu ra của kịch bản 5 73
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Xe điện cơ bản sẽ có bộ pin đặt dưới sàn, cung cấp năng lượng cho
động cơ đặt phía trước hoặc sau 35
Hình 3.2: Một số xe BEV có thể nạp bằng bộ nạp DC: Tesla Model 3, BMW i3, Chevy Bolt, Nissan LEAF, Ford Focus Electric, … 37
Hình 3.3: Sơ đồ dòng sạc từ lưới điện 37
Hình 3.3: Sạc cấp 1 với ổ điện cắm thông thường 5-15 40
Hình 3.4: Sạc cấp 2 với ổ điện cắm 14-50 41
Hình 3.5: Sơ đồ sạc ở Cấp 2 42
Hình 3.6: Trạm sạc DC cấp 3 43
Hình 3.7: Sơ đồ sạc nhanh DC ở Cấp 3 44
Hình 3.8 Biểu đồ khoảng cách di chuyển xe điện tăng theo sau mỗi giờ sạc 45 Hình 3.9: Năng lượng điện - xu hướng của ngành công nghiệp ô tô tương lai 50
Hình 3.10: Sạc nhanh DC tiết kiệm thời gian sạc 52
Hình 3.11: Cấu trúc phí cho trạm sạc 55
Hình 3.12 : Tổng quan về phân tích các kịch bản 57
Trang 14MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Khí thải từ các phương tiện chạy bằng xăng và dầu diesel không chỉ có hại cho hành tinh của chúng ta mà còn tác động xấu đến sức khỏe của con người Việc sử dụng xe điện rộng rãi sẽ làm giảm đáng kể lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, hạn chế ô nhiễm môi trường Đó là những lợi ích không thể phủ nhận và cũng là lý do nhiều nước đưa ra những chính sách hấp dẫn khuyến khích người dân lựa chọn di chuyển bằng xe điện, mở ra một kỷ nguyên mới cho tương lai xe điện
Trong khi doanh số bán ô tô toàn cầu bị ảnh hưởng bởi đại dịch thì xe điện đã đi ngược dòng với xu hướng này Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), số tiền người dùng chi tiêu cho xe điện tăng 50% vào năm 2020, tương đương với 120 tỷ USD, số lượng xe điện đăng ký trên toàn cầu tăng ồ ạt trong năm 2020 và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thập kỷ tới Đứng trước triển vọng của tương lai xe điện, Ủy ban châu Âu dự tính trong 10 năm tới số lượng xe điện ở châu Âu sẽ tăng gấp 10 lần Theo dự báo từ ngân hàng đầu tư UBS, dự kiến đến năm 2025, 20% tổng số ô tô mới bán ra thị trường toàn cầu
sẽ là xe điện Con số này có thể tăng vọt lên 40% vào năm 2030 và đến năm
2040, gần như mọi chiếc ô tô mới được bán ra trên toàn cầu sẽ là xe điện Theo thống kê của Cục Đăng kiểm Việt Nam, số lượng xe điện hóa (hybrid, plug-in hybrid và xe thuần điện) ở Việt Nam hiện rất ít, năm 2019 là
140 xe điện, năm 2020 tăng lên 900 xe và hết Quý I năm 2021 là 600 xe Các thương hiệu có tiếng như Tesla, Smart, Renault và Nissan… đã tiến hành sản xuất đa dạng chủng loại từ xe thể thao đến các loại xe cỡ nhỏ cung ứng ra thị trường, nhưng hiện tại ở Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào ngoài Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh Vinfast đang tiến hành hoạt động sản xuất, lắp ráp xe điện Nhìn chung, hiện nay các dòng xe điện hóa chưa phổ biến tại Việt Nam Do đó, để thúc đẩy phát triển sản xuất và sử dụng xe điện tại Việt Nam, Bộ Công Thương đang phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất sửa đổi các quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng ưu đãi thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng trong thời hạn nhất định (05 năm) để khuyến khích phát triển xe điện tại Việt Nam
Trang 15Trước nhu cầu sử dụng phương tiện bằng điện như ô tô điện ngày càng tăng cao, khi càng có nhiều mẫu xe điện được tung ra trên thị trường và được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi, thì nhu cầu sử dụng trạm sạc pin ô tô cũng được tăng theo Điều này thúc đẩy các nhà sản xuất quan tâm đến việc đầu tư
và phát triển hệ thống trạm sạc để gia tăng tiện ích cho người mua xe điện, góp phần phát triển tương lai xe điện tại mỗi quốc gia lẫn phạm vi toàn cầu Song song với sự phát triển của xe điện thì việc tìm ra cách sạc những chiếc xe này cũng trở thành bài toán quan trọng cần giải quyết Hiện nay, nhiều hãng xe điện đã và đang lên kế hoạch triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng
ô tô điện, các giải pháp sạc mới - bao gồm việc bổ sung thêm nhiều điểm sạc công cộng tại các trung tâm mua sắm, nhà để xe, nơi làm việc, khu đô thị…
hệ thống phân phối năng lượng điện rải khắp trên những tuyến đường, khu vực mà ô tô điện hoạt động để đảm bảo sự vận hành thông suốt của xe điện Trước tốc độ phát triển mạnh mẽ dự kiến trong 3 tới 10 năm tới, việc kinh doanh trạm sạc pin ô tô đúng hướng hoàn toàn có thể đáp ứng được sự tăng lên không ngừng của nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông bảo vệ môi trường này Tại Hà Nội, mô hình các trạm sạc nhanh đã bắt đầu được triển khai lắp đặt, triển khai dưới các mô hình kinh doanh khác nhau Việc nghiên cứu tìm ra
mô hình kinh doanh mang lại hiệu quả đầu tư cao vào thời điểm này là hết sức cấp thiết Đó cũng chính là lý do học viên đã lựa chọn đề tài luận văn: “Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng các trạm sạc xe điện tại Hà Nội”
II Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu một cách hệ thống lý thuyết về dự án đầu tư, phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế, thực trạng của dự án Tổng hợp tài liệu nghiên cứu
đã có, lựa chọn phương pháp đánh giá hợp lý để xác định được hiệu quả kinh
tế của dự án
- Hệ thống hóa những lý luận về phân tích hiệu quả kinh tế-xã hội, hiệu quả tài chính của dự án tại Hà Nội và các dự án đã được triển khai trong nước
và trên thế giới
- Phân tích và đánh giá hiệu quả đầu tư dự án
III Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến dự án xây dựng các
Trang 16trạm sạc xe điện tại Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: phần đánh giá hiệu quả kinh tế dự án đầu tư các trạm sạc xe điện trong nước và trên thế giới
IV Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu là phạm vi thành phố Hà Nội
V Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Thu thập các lý thuyết về cấu tạo, nguyên lý làm việc của hệ thống trạm sạc xe điện
- Phương pháp thu thập dữ liệu: tổng hợp các nguồn thông tin, dữ liệu qua các nguồn khác nhau để phân tích, sử dụng trong đề tài
- Phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng phần mềm Microsoft excel
- Phương pháp hệ thống các bản báo cáo của các công trình
- Phương pháp phân tích so sánh chi phí – lợi ích: để đánh giá hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án
VI Nội dung chính của luận văn
VII Tài liệu phục vụ nghiên cứu
- Các sách hướng dẫn đã được xuất bản
- Các báo cáo đã được công bố trong Hội nghị khoa học, Tạp chí khoa học trong và ngoài nước, các đề tài khoa học các cấp, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ,… của các tác giả trong và ngoài nước
- Các tài liệu trên Internet
Trang 17CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1.1 KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1.1 Khái niệm về dự án và dự án đầu tư
1.1.1.1 Dự án
Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án 1T (project) là một ý
đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động
Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn ISO 9000:2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về dự án như sau:
Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành
để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực
Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích
thiết thực cho nhà đầu tư và xã hội
1.1.1.2 Dự án đầu tư
Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về
số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định
Qua những khái niệm nêu trên có thể thấy rằng, một dự án đầu tư không phải dừng lại là một một ý tưởng hay phác thảo, mà nó có tính cụ thể
và mục tiêu xác định Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng lặp lại, mà nó sẽ phải tạo nên một thực tế mới mà trước đó chưa từng tồn tại Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như: Xét về tổng thể, hình thức, quản lý, kế hoạch hóa, phân công lao động xã
hội Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư
Trang 181.1.1.3 Dự án đầu tư xây dựng công trình
Theo giải thích của Luật Xây dựng Việt Nam ngày 26/11/2003 thì: “Dự
án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”
Cũng cần hiểu rõ thêm khái niệm “Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước” là dự án có thành phần vốn nhà nước tham gia chiếm từ 30% tổng mức đầu tư của dự án trở lên và được xác định tại quyết định phê duyệt dự án Trong đó, vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý Như vậy có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng công trình có hai nội dung là đầu tư và hoạt động xây dựng Nhưng do đặc điểm của các dự án xây dựng bao giờ cũng yêu cầu một diện tích nhất định, ở một địa điểm nhất định (bao gồm đất, khoảng không, mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) do đó ta có thể thấy một dự án đầu tư xây dựng bao gồm các vấn đề sau:
1 Kế hoạch: được thể hiện rõ qua các mục đích được xác định, các mục đích này phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ được hoàn thành khi các mục tiêu cụ thể đạt được
2 Tiền vốn: Chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình Tiền vốn được coi là phần vật chất có tính quyết định sự thành công của dự án
3 Thời gian: Là một đặc điểm rất quan trọng cần được quan tâm bởi thời gian
4 Đất: Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng Đất ngoài các giá trị về địa chất, còn có giá trị về vị trí, địa lý, kinh tế, môi trường, xã hội…Vì vậy, quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những đặc điểm và yêu cầu riêng, cần hết sức lưu ý khi thực hiện dự án xây dựng
5 Công trình xây dựng: là sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng, được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt
Trang 19vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm: công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình giao thông, thủy lợi, năng lượng, công nghiệp và các công trình khác
1.1.2 Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình
a Theo quy mô và tính chất:
Theo tính chất, các dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành
dự án quan trọng Quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư và các dự án khác; còn theo quy mô vốn đầu tư, các dự án được phân thành 3 nhóm A, B, C; Công trình quan trọng quốc gia có 5 tiêu chí, trong đó
có tiêu chí về vốn có quy mô từ 20.000 tỷ VNĐ trở lên
b Theo nguồn vốn đầu tư:
Theo nguồn vốn đầu tư, các dự án được phân thành:
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn, vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh, vốn FDI
c Theo lĩnh vực: Xã hội; kinh tế; tổ chức hỗn hợp
d Theo loại hình: Giáo dục đào tạo; nghiên cứu và phát triển; đổi mới;
tổng hợp
e Theo thời hạn: Ngắn hạn (1-2 năm), trung hạn (3-5 năm), dài hạn (5
năm)
f Theo khu vực: Quốc tế; quốc gia; vùng; miền; liên ngành; địa phương
g Theo chủ đầu tư: Nhà nước; doanh nghiệp; cá thể riêng lẻ
h Theo đối tượng đầu tư: dự án đầu tư tài chính, dự án đầu tư vào đối
tượng cụ thể
1.1.3 Các giai đoạn của dự án đầu tư
Theo cách thông thường và theo cách phân kỳ của quy phạm pháp luật hiện hành, vòng đời của một dự án đầu tư được chia ra làm 3 giai đoạn khác nhau, đó là: giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc đầu tư (vận hành các kết quả đầu tư) Tuy nhiên, xét theo quá trình,
Trang 20thì từ khi hình thành ý tưởng đến khi kết thúc dự án của quản lý dự án, thông thường một dự án đầu tư xây dựng công trình phải trải qua các quá trình sau: Xác định dự án; Phân tích và lập dự án; Thẩm định và phê duyệt dự án; Triển khai thực hiện dự án; Nghiệm thu tổng kết và giải thể dự án
1.1.3.1 Xác định dự án
Xác định dự án là giai đoạn đầu tiên trong vòng đời dự án, trong giai đoạn này, chủ đầu tư và nhà quản lý dự án có nhiệm vụ phát hiện những lĩnh vực có tiềm năng để đầu tư, trên cơ sở đó hình thành sơ bộ các ý đồ đầu tư
1.1.3.2 Phân tích và lập dự án
Đây là giai đoạn nghiên cứu chi tiết những ý tưởng đầu tư đã được đề xuất trên các phương tiện: kỹ thuật, tổ chức - quản lý, thể chế xã hội, thương mại, tài chính, kinh tế Nội dung chủ yếu của giai đoạn phân tích và lập dự án là nghiên cứu một cách toàn diện tính khả thi của dự án Tùy theo quy mô, tính chất, cấp độ của dự án mà trong giai đoạn này có thể gồm 2 bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi Các dự án lớn và quan trọng thường phải thông qua hai bước này, còn các dự án nhỏ và không quan trọng thì trong giai đoạn này chỉ cần thực hiện bước nghiên cứu khả thi Chuẩn bị tốt và phân tích
kỹ lưỡng sẽ làm giảm những khó khăn và chi phí trong giai đoạn thực hiện đầu
tư
1.1.3.3 Thẩm định và phê duyệt dự án
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, giai đoạn Thẩm định và phê duyệt dự án được thực hiện với sự tham gia của các cơ quan nhà nước chuyên ngành, các tổ chức tài chính và các thành phần tham gia dự án Mục đích của việc thẩm định và phê duyệt dự án là nhằm xác minh, thẩm tra lại toàn bộ kết luận đã được đưa ra trong quá trình chuẩn bị và phân tích dự
án, trên cơ sở đó chấp nhận hay bác bỏ dự án Dự án sẽ được phê duyệt và đưa vào thực hiện nếu nó được thẩm định xác nhận là có hiệu quả và có tính khả thi Ngược lại, thì tùy theo mức độ đạt được, dự án có thể được sửa đổi cho thỏa đáng hay buộc phải làm lại cho đến khi được chấp nhận
1.1.3.4 Triển khai thực hiện dự án
Triển khai thực hiện dự án là giai đoạn bắt đầu triển khai vốn và các nguồn ldực vào để thực hiện dự án đã được phê duyệt đến khi dự án chấm dứt hoạt động Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích
Trang 21kỹ lưỡng, song thực tế rất ít khi được tiến hành đúng như hoạch định Nhiều
dự án không đảm bảo được tiến độ thời gian và chi phí dự kiến, thậm chí một
số dự án phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp kỹ thuật không thích hợp Thường có nhiều khó khăn, biến động, rủi ro thường xảy ra trong giai đoạn thực hiện dự án, vì thế, giai đoạn này đòi hỏi các nhà quản lý dự án phải hết sức linh hoạt, nhậy bén, thường xuyên giám sát, đánh giá uá trình thực hiện để phát hiện kịp thời những khó khăn, tình huống để đưa ra các biện pháp giải quyết, xử lý thích hợp, đôi khi phải quyết định điều chỉnh lại các mục tiêu và phương tiện
1.1.3.5 Nghiệm thu tổng kết và giải thể dự án
Giai đoạn nghiệm thu tổng kết và giải thể dự án tiến hành sau khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình nhằm: (1) Làm rõ những thành công và thất bại trong toàn bộ quá trình triển khai thực hiện dự án, qua đó rút ra những kinh nghiệm và bài học cho quản lý các dự án khác trong tương lai (2) Kết thúc và giải thể dự án và giải quyết việc phân chia sử dụng kết quả của dự án, những phương tiện mà dự án còn để lại và bố trí lại công việc cho các thành viên tham gia dự án
1.1.4 Các yêu cầu của dự án đầu tư
Một dự án đầu tư được xem là đảm bảo tính khả thi khi nó đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
Tính khoa học: Để đạt được tính khoa học của một dự án đầu tư đòi hỏi
những người tham gia soạn thảo, lập dự án phải tuân thủ một trình tự nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án, đặc biệt là nội dung
về tài chính và công nghệ kỹ thuật và môi trường Cần có sự tham gia tư vấn của các cơ uan chuyên môn về dịch vụ đầu tư trong uá trình soạn thảo, lập dự
án
Tính thực tiễn: Để một dự án lập ra đảm bảo tính thực tiễn, các nội dung
của dự án phải được nghiên cứu và xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trdực tiếp và gián tiếp tới hoạt động đầu tư, những cơ hội thách thức, những thuận lợi khó khăn và cả những rủi ro có thể gặp phải trong tương lai thực hiện dự án
Tính pháp lý: Một dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, có nghĩa là các
nội dung thực hiện của dự án phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà
Trang 22nước Điều này đòi hỏi những người lập dự án cần phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước và các văn bản pháp quy hiện hành liên quan tới hoạt động và quản lý đầu tư
Tính thống nhất: Để đảm bảo tính thống nhất, các dự án phải được tuân
thủ các uy định chung của các cơ uan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Đối với các dự án quốc tế thì chúng còn phải tuân thủ những uy định chung mang tính quốc tế
1.2 Tổng quan về đánh giá dự án đầu tƣ
1.2.1 Khái niệm về phân tích, đánh giá dự án đầu tư:
Phân tích đánh giá dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án, đề ra các quyết định đầu tư và cho phép đầu tư
Phân tích dự án đầu tư là một việc quan trọng trong hoạt động quản trị
dự án nói chung Việc phân tích dự án đầu tư được tiến hành trên tất cả các mặt hoạt động của dự án Nội dung phân tích trong dự án là các vấn đề liên quan, tác động đến dự án kể từ khi dự án hình thành cho đến khi dự án kết thúc quá trình vận hành khai thác, nghĩa là cả chu trình tồn tại của dự án nói chung
Nội dung phân tích dự án đầu tư bao gồm:
- Phân tích tổng quan kinh tế - xã hội liên quan đến việc hình thành dự
án đầu tư
- Phân tích các yếu tố về sản phẩm và thị trường sản phẩm của dự án;
- Phân tích các yếu tố kỹ thuật - công nghệ liên quan dự án;
- Phân tích tài chính và hiệu quả kinh tế - tài chính dự án đầu tư
1.2.2 Mục đích phân tích, đánh giá dự án đầu tư:
- Giúp cho Chủ đầu tư lựa chọn phương án tốt nhất để đầu tư
- Giúp cho các cơ quan hữu quan của Nhà nước đánh giá được tính phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chung của ngành, địa phương và của cả nước trên các mặt, các mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả
- Thông qua đánh giá, nhà đầu tư xác định tính lợi hại của dự án khi cho phép đi vào hoạt động trên cơ sở các khía cạnh: Công nghệ, vốn, ô nhiễm
Trang 23môi trường và các lợi ích kinh tế khác
- Giúp các nhà tài chính ra quyết định chính xác về cho vay hoặc tài trợ cho các dự án đầu tư
1.2.3 Ý nghĩa phân tích dự án đầu tư
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án ở tầm vĩ mô của nền kinh tế quốc dân đúng và đủ
- Bảo vệ các lợi ích kinh tế xã hội của quốc gia
- Phân tích đúng và đủ lợi ích và chi phí kinh tế của dự án trên cơ sở giá trị xã hội thực tế của chúng, nhằm điều tiết các chính sách kinh tế vĩ mô, cũng như chiến lược và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp
1.3 Tổng quan về phân tích, đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu
tƣ
1.3.1 Khái niệm, mục đích, nội dung của phân tích tài chính
1.3.1.1 Khái niệm
Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền
tệ với chức năng làm phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng quỹ tiền tệ đại diện cho sức mua của các chủ thể kinh tế-xã hội Tài chính phản ánh tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy hay tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội
Một trong những vai trò của tài chính là khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu đầu tư phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung Do đó tài chính là một trong những điều kiện tiên quyết sự thành công của mỗi dự án Thực tế cho thấy có nhiều dự án không đủ vốn không thể thực hiện được , mà thông thường nguồn vốn cho một dự án có từ nhiều nơi hoặc từ chính phủ, từ viện trợ hoặc huy động các cổ đông…cho nên tài chính phải phát huy vai trò tìm nguồn vốn và huy động nguồn vốn cho một dự án
Phân tích tài chính của một dự án đầu tư là một tiến trình chọn lọc, tìm hiểu về tương quan của các chỉ tiêu tài chính và đánh giá tình hình tài chính về một dự án đầu tư nhằm giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư có hiệu quả
Trang 241.3.1.2 Mục đích của việc phân tích tài chính
Các nhà đầu tư luôn mong muốn dự án thành công, phân tích tài chính
sẽ giúp họ thấy được các bước tiến triển của dự án để họ đưa ra các biện pháp thích hợp bằng cách dự tính trước các phương án khác nhau và lựa chọn phương án cụ thể cho dự án của mình
Phân tích tài chính sẽ giúp các nhà đầu tư thấy được hiệu quả dự án thông qua việc so sánh giữa mọi nguồn thu của dự án với tổng chi phí hợp lý của dự án(cả chi phí đột xuất)
Phân tích tài chính luôn diễn ra từ bước lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình cho đến khi đưa công trình vào vận hành, nên phân tích tài chính sẽ giúp nhà đầu tư dự tính được cho tương lai khi có sự thay đổi về thu nhập và chi phí để kịp thời điều chỉnh và rút kinh nghiệm
Phân tích tài chính là kế hoạch để trả nợ, bởi nó đưa ra các tiêu chuẩn
về hoạt động và những cam kết về những hoạt động của mình Người tài trợ căn cứ vào kết quả phân tích tài chính để đưa ra các quyết định tài trợ tiền(đầu
tư vốn tiếp hay không) Nếu vay và trả nợ đúng thời hạn cam kết thì lần sau vay sẽ dễ dàng hơn chứng tỏ sự thành công của dự án
1.3.1.3 Những nội dung cơ bản của phân tích tài chính trong phân tích tài chính cần xác định rõ các vấn đề sau:
- Xác định tổng mức đầu tư, cơ cấu các nguồn vốn và loại vốn của dự án
- Xác định các dòng thu chi của dự án
- Xác định các chỉ tiêu hiệu quả và lựa chọn phương án
- Phân tích độ an toàn về mặt tài chính
Phân tích tài chính là một nội dung kinh tế quan trọng của dự án Nó cho biết quy mô đầu tư, hiệu quả đầu tư và an toàn về đầu tư, giúp cho nhà đầu tư quyết định có đầu tư hay không, hiệu quả đến đâu, đồng thời cũng giúp cho các cơ quan thẩm định biết được tính thực thi của dự án về phương diện tài chính
1.3.2 Xác định các yếu tố làm căn cứ phân tích, tính toán tài chính của
dự án:
Phân tích đánh giá tài chính các dự án đầu tư trước hết phải dựa vào các Báo cáo tài chính của dự án Do đó phải đưa vào các Báo cáo tài chính các
Trang 25yếu tố kinh tế, kỹ thuật, xã hội, quốc phòng, phù hợp với yêu cầu của nhiệm
vụ đặt ra Báo cáo tài chính thể hiện dòng cân đối thu chi phản ánh lượng tiền
tệ có ở mỗi thời điểm trong thời gian hoạt động của dự án Như vậy, các báo cáo tài chính của dự án phản ánh kết quả tài chính của dự án tại mỗi thời điểm trong quá trình thực hiện và vận hành của dự án
1.3.2.1 Tổng mức đầu tư: Là một chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật tổng hợp
quan trọng, là căn cứ để lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án
1.3.2.2 Lập kế hoạch đầu tư: Trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật, kết quả
nghiên cứu thị trường … ta tiến hành lập kế hoạch đầu tư Kế hoạch đầu tư là danh mục các khoản chi phí cần thiết cho việc thực hiện dự án kể từ khi bắt đầu cho đến khi dự án hoàn thành đi vào hoạt động Nói khác đi, kế hoạch đầu
tư là kế hoạch bỏ vốn theo thời gian của dự án
1.3.2.3 Lập kế hoạch hoạt động: Kế hoạch hoạt động của dự án thể hiện
việc dự kiến mức huy động công suất /năng lực phục vụ hàng năm của dự án
và kế hoạch sản xuất, khai thác, cung ứng dịch vụ, cụ thể các yếu tố sản lượng, số lượng, chủng loại sản phẩm, dịch vụ tại mỗi thời điểm hoạt động
Kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm có liên quan mật thiết với việc xác định nhu cầu vốn lưu động và các kế hoạch khác như vận tải, cung ứng vật tư, vật liệu… Kế hoạch hoạt động là cơ sở để tính toán lợi ích thu được từ việc khai thác, vận hành dự án cũng như các chi phí cần thiết cho quá trình này Trên cơ
sở các chỉ tiêu thu (lợi ích), chi (chi phí) có thể phân tích, đánh giá lựa chọn phương án để quyết định đầu tư
1.3.2.4 Kế hoạch khấu hao và xử lý các khoản thu hồi: Về nguyên tắc,
mọi khoản chi phí đầu tư cho dự án cần được thu hổi để hoàn vốn Tuy nhiên, mỗi khoản chi phí có cách thức thu hồi riêng Các chi phí tạo ra tài sản cố định cảu dự án được thu hồi dưới hình thức khấu hao, tức là khoản tiền khấu trừ hàng năm theo mức độ sử dụng của tài sản Đối với dự án sử dụng nguồn vốn Nhà nước thì tỷ lệ trích khấu hao áp dụng theo quy định của Nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Đối với các dự án khác thì tỷ lệ và hình thức trích khấu hao do Chủ đầu tư quyết định
1.3.2.5 Vốn lưu động: Vốn lưu động là khoản tiền cần thiết hàng năm
để đảm bảo cho hoạt động của dự án Vốn lưu động bao gồm các khoản chi
Trang 26chủ yếu sau: Tiền mặt, hàng tồn kho, chênh lệch giữa khoản phải thu chi và khoản phải trả Vốn lưu động được xác định căn cứ vào nhu cầu chi phí hàng năm và thời gian dự trữ phù hợp với nhu cầu sản xuất
1.3.2.6 Kế hoạch trả nợ: Kế hoạch trả nợ được xây dựng trên cơ sở kế
hoạch vay nợ và các điều kiện tài trợ của từng nguồn vay Tuy nhiên, trong giai đoạn lập dự án nhiều điều kiện vay, trả cụ thể chưa được khẳng định mà chủ yếu dựa vào các điều kiện thông lệ những nguồn dự định vay Vì vậy, kế hoạch trả nợ thường là những dự tính mang tính chủ quan
Ngược lại, kế hoạch trả nợ cũng cho thấy điều kiện tài chính cần đảm bảo để dự án khả thi Những dự tính trước trong kế hoạch trả nợ cho phép chủ đầu tư xem xét các nguồn tài trợ thích hợp hoặc điều kiện cần phải đạt được khi đàm phán Hợp đồng cho vay cụ thể
1.3.3 Phân tích, đánh giá hiệu quả tài chính của dự án:
Bao gồm các bước sau:
- Xác định chi phí tài chính của dự án
- Xác định lợi ích tài chính của dự án
- Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính;
- Phân tích, đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
1.3.3.1 Xác định chi phí tài chính của dự án: Các khoản chi bao gồm
toàn bộ chi phí trong quá trình thực hiện đầu tư và các hoạt động của dự án + Vốn đầu tư ban đầu của dự án: Tổng vốn đầu tư dự án là khái toán chi phí của dự án bao gồm tổng chi phí xây dựng công trình (chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án và chi khác, chi phí dự phòng) và chi phí đền bù giải phóng mặt bằng tái định cư Phương pháp tính toán theo hướng dẫn tại của cơ quan có thẩm quyền (hiện tại tính theo Thông tư số 04/2005/TT-BXD ngày 1/4/2005 của Bộ Xây Dựng)
+ Chi phí quản lý vận hành hàng năm: Chi phí quản lý vận hành công trình hàng năm bao gồm các khoản chính như: Chi phí lương và các khoản tính theo lương của cán bộ và công nhân quản lý vận hành công trình; nguyên nhiên vật liệu, năng lượng; chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định; chi phí quản lý doanh nghiệp và các khoản chi phí khác Chi phí quản lý vận hành công trình hàng năm có thể tính bằng tỷ lệ % so với tổng vốn đầu tư xây dựng công trình
+ Chi phí thay thế là chi phí sửa chữa lớn hoặc thay thế hoàn toàn thiết
Trang 27bị nên phải đưa vào dòng chi phí của dự án và chỉ tính đối với các dự án Sau khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, cứ 5 năm đưa vào dòng chi phí của dự án một khoản chi phí thay thế Theo kinh nghiệm lấy trong khoảng
10 15 % vốn đầu tư thiết bị ban đầu đối với thiết bị nội và 7 10% đối với thiết bị nhập ngoại
1.3.3.2 Xác định lợi ích tài chính của dự án: Bao gồm doanh thu, mức
thay đổi của tài khoản thu, giá trị còn lại
1.3.3.3 Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính:
- Giá trị thu nhập ròng (NPV) cho biết lợi ích kinh tế ròng của dự án, chỉ tiêu này được đo bằng hiệu giữa tổng lợi ích kinh tế với tổng chi phí kinh
tế của dự án Do đó, yêu cầu của chỉ tiêu này là NPV > 0 và NPV càng lớn thì hiệu quả kinh tế của dự án càng cao
Biểu thức xác định giá trị của NPV:
Trong đó:
Bt : Thu nhập tăng thêm nhờ có dự án ở năm thứ t
Ct : Chi phí của dự án ở năm thứ t
n : Thời kỳ tính toán
r : Tỷ lệ chiết khấu (còn gọi là lãi suất chiết khấu)
lớn
kinh tế
- Suất thu lời nội tại (IRR%)
Nếu NPV là chỉ tiêu tuyệt đối thì IRR là chỉ tiêu tương đối biểu thị đầy
đủ hơn tính hiệu quả về mặt kinh tế của dự án Giá trị của IRR nhỏ hơn hoặc bằng chi phí cơ hội của vốn thì dự án không đạt hiệu quả kinh tế IRR càng lớn hơn thì hiệu quả kinh tế của dự án càng cao
IRR thường được so sánh với một mức lãi suất giới hạn do nhà nước quy
Trang 2812 %
Suất thu lời nội tại là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm suất chiết khấu
để quy đổi các dòng tiền tệ của phương án thì giá trị hiện tại của hiệu số thu chi NPV = 0 Hay nói cách khác IRR là nghiệm của phương trình:
- Tỷ số thu nhập/chi phí (B/C) : cho biết tỷ lệ giữa tổng lợi ích kinh tế
và tổng chi phí kinh tế của dự án Do đó, dự án có EBCR lớn hơn 1 mới được coi là có hiệu quả kinh tế và EBCR càng lớn hơn 1 thì hiệu quả kinh tế của dự
án càng lớn Nế ự án không đạt hiệu quả kinh tế
Tỷ số thu nhập/chi phí được tính theo công thức:
-Thời gian hoàn vốn nội bộ: Là thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi
đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra Thời gian hoàn vốn nội bộ được tính theo công thức:
- Hệ số đảm bảo khả năng trả nợ K: Là tỷ số giữa nguồn đảm bảo trả nợ tại một thời điểm và số nợ đến hạn phải trả tại thời diểm đó K được tính theo công thức sau:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đảm bảo trả nợ từ các nguồn thu của dự
án Nói chung vào các thời điểm trả nợ hệ số K ≥ 1 được xem là bảo đảm khả năng trả nợ, tuy nhiên hệ số này càng cao càng tốt
1.4 Tổng quan về phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án đầu tƣ
1.4.1 Những khái niệm và các vấn đề chung
1.4.1.1 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội:
Trang 29Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội các dự án đầu tư là công việc khó khăn và phức tạp xuất phát từ nhiều điểm:
Thứ nhất, cũng như xác định hiệu quả tài chính, xác định hiệu quả kinh
tế - xã hội của một dự án đầu tư đều có tính dự báo trong một tương lai có nhiều rủi ro không lường hết được
Thứ hai, tính phức tạp của phân tích hiệu quả kinh tê - xã hội của một
dự án đầu tư tăng lên so với phân tích hiệu quả tài chính do tính đa mục tiêu trong việc phân tích Các dự án được lựa chọn không phải theo một tiêu chuẩn
mà theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau Ra quyết định theo một tiêu chuẩn đơn giản nhiều hơn so với ra quyết định theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau Tính đa mục tiêu trong việc phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội đòi hỏi phải thu thập và
xử lý một khối lượng thông tin lớn và liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Để phân tích được hiệu quả kinh tế - xã hội, không những cần cung cấp những thông tin về kinh tế mà còn thông tin về xã hội, những thông tin trong nước mà cả những thông tin quốc tế, những thông tin liên quan trực tiếp đến dự án mà còn cả những thông tin liên quan gián tiếp Những thông tin này không phải bao giờ cũng có
Thứ ba, nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội đòi hỏi phải sử dụng những phương pháp phân tích hoàn toàn không đơn giản Những kiến thức về những phương pháp này thuộc loại những kiến thức cấp cao của những nhà kinh tế Điều đó có nghĩa là không phải ai cũng có thể hiểu và vận dụng được những kiến thức đó vào thực tiễn đánh giá dự án Đối với Việt Nam, tính khó khăn trong việc phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội còn tăng lên nhiều lần bởi vì tất cả là mới mẻ, từ khái niệm, phương pháp, thông tin và con người
Nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội rất phức tạp đòi hỏi nhiều thông tin, nhiều kiến thức nhưng bù lại ý nghĩa của nó thật lớn lao Việc xác định đúng đắn hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án đầu tư giúp cho các nhà quản lý vĩ mô lựa chọn được những phương tiện hữu hiệu nhất để thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định Vì vậy, hiệu quả kinh tế - xã hội là căn cứ chủ yếu để Nhà nước xem xét và cho phép thực hiện các dự án đầu tư Nó cũng là căn cứ chủ yếu
Trang 30để xác định chế tài chính quốc tế ADB, IMF, WB tài trợ
Các nhà lập dự án không chỉ luận chứng được tính hiệu quả tài chính của một dự án đầu tư được soạn thảo, mà quan trọng hơn là thảo luận chứng được hiệu quả kinh tế - xã hội mà dự án mang lại Nếu không, cần phải điều chỉnh hoặc phải đi tìm những dự án khác
Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội được tiến hành không chỉ ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lập dự án đầu tư mà được tiến hành ở tất cả các giai đoạn của quá trình này
1.4.1.2 Sự khác nhau giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế-xã hội:
- Mục tiêu của sự phân tích hiệu quả tài chính là đánh giá kết quả tài chính thực của dự án, trong khi đó phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội chỉ ra đóng góp thực sự của dự án vào tất cả các mục tiêu phát triển (kinh tế và không kinh tế) của đất nước, vào lợi ích chung của toàn xã hội Phân tích hiệu quả tài chính chỉ xét trên tầm vi mô còn phân tích kinh tế - xã hội phải xét trên tầm vĩ mô
- Phân tích hiệu quả tài chính chỉ xét lợi ích và chi phí trên góc độ của nhà đầu tư còn phân tích kinh tế - xã hội xem xét lợi ích và chi phí trên góc độ toàn xã hội Lợi ích và chi phí trong phân tích hiệu quả tài chính là lợi ích và chi cục bộ còn lợi ích và chi phí trong phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội là lợi ích và chi phí toàn bộ, tổng thể.Vì vậy chỉ tiêu chủ yếu trong phân tích hiệu quả tài chính là lợi nhuận còn trong phân tích hiệu quả kinh - xã hội là giá trị gia tăng Chỉ tiêu giá trị gia tăng cho phép loại trừ những khoản thanh toán chuyển giao ra khỏi chi phí tính toán lợi ích kinh tế - xã hội Những khoản mục này trong phân tích tài chính là chi phí còn trong phân tích kinh tế - xã hội được coi là thu nhập (lợi ích):
+ Thuế: là một khoản chi đối với chủ đầu tư, nhưng nó là một khoản thu nhập đối với ngân sách quốc gia Sự miễn giảm thuế để ưu đãi, khuyến khích nhà đẩu tư lại là một sự hy sinh của xã hội, một khoản chi phí mà xã hội phải gánh chịu
+ Lương: là một khoản thuộc chi phí sản xuất, nhưng trong phân tích kinh tế - xã hội lương là một khoản thu nhập đối với xã hội
Trang 31+ Các khoản lãi vay: Cũng là một khoản mục thanh toán chuyển giao, trong phân tích tài chinh nó được coi như là một khoản chi phí được tính trong giá thành sản phẩm, nhưng trong phân tích kinh tế - xã hội nó phải được cộng vào
+ Trợ giá bù giá: trong phân tích tài chính là thu nhập nhưng trong phân tích kinh tế - xã hội là chi phí
1.4.1.2.1.1 Việc phân tích hiệu quả tài chính chỉ tính toán những hiệu quả trực tiếp bằng tiền Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội còn được xem cả hiệu quả gián tiếp bao gồm hiệu quả có thể đo được và không đo được Việc phân tích hiệu quả tài chính giúp cho các nhà đầu tư tìm đến những dự án đầu
tư cho phép tối đa hoá lợi nhuận, còn phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội giúp cho các nhà quản lý vi mô và quản lý vĩ mô, chúng thống nhất trong một dự
án là điều lý tưởng, nhưng trong thực tiễn không phải lúc nào cũng đạt được điều đó, cần phải tìm đến một sự hợp lý nhất định
1.4.1.2.1.2 Vì mục tiêu và nhiệm vụ phân tích khác nhau nên phương tiện để phân tích cũng khác nhau nhất định: phân tích hiệu quả kinh doanh dựa vào giá thị trường, còn phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội dựa vào giá điều chỉnh và chúng được coi là tiệm cận với giá xã hội Với hiệu quả tài chính, ảnh hưởng của yếu tố thời gian được giải quyết bằng việc áp dụng lãi suất hiện hành trên thị trường vốn, còn trong phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội lại dùng tỷ suất chiết khấu xã hội
1.4.1.2.1.3 Hiệu quả kinh doanh được xem xét dưới góc độ sử dụng đồng tiền (đồng vốn) nên người ta còn gọi là hiệu quả vốn đầu tư, còn hiệu quả kinh tế - xã hội được xem xét dưới góc độ sử dụng các nguồn tài nguyên của đất nước
1.4.2 Giá kinh tế và tỷ suất chiết khấu xã hội:
1.4.2.1 Giá kinh tế:
Mục tiêu của phân tích kinh tế xã hội là đánh giá những đóng góp thực
sự của dự án cho nền kinh tế Vì vây, giá cả sử dụng trong phân tích kinh tế phải phản ánh được giá trị thực sự của hàng hóa dịch vụ, tức giá cả phải phản ánh được những chi phí hay lợi ích của chúng đối với nền kinh tế…Thực tế giá cả thị trường khi phản ánh được giá trị kinh tế thực sự của nó do nhiều yếu
tố, xuất phát từ tính không hoàn hảo của thị trường như độc quyền, thiếu
Trang 32thông tin và một phần cũng do sự can thiệp của nhà nước vào thị trường như hạn ngạch xuất nhập khẩu, các loại thuế khác…
Trong phân tích tài chính, giá cả được sử dụng là giá cả thị trường Khi phân tích kinh tế cần phải điều chỉnh giá thị trường thành giá để phân tích hiệu quả kinh tế-xã hội Giá này được coi là giá kinh tế, giá mờ hay giá ẩn Phương pháp xác định giá kinh tế là một vấn đề khó khăn phức tạp và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Một số vấn đề được thống nhất khi phân tích kinh tế:
Cần điều chỉnh giá thị trường khi phân tích kinh tế xã hội vì nó dẫn đến những lệch lạc trong đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án
Chỉ điều chỉnh một số loại giá thị trường có ảnh hưởng lớn đến phân tích kinh tế xã hội dự án nhằm đơn giản, tiết kiệm thời gian mà vẫn đảm bảo được tính chính xác có thể chấp nhận được
1.4.2.2 Tỷ suất chiết khấu xã hội
Suất chiết khấu xã hội là mức lãi suất dùng để tính chuyển các khoản lợi ích
và chi phí kinh tế-xã hội của dự án về cùng một mặt bằng thời gian Về nguyên tắc, suất chiết khấu xã hội được tính dựa trên chi phí xã hội của việc sử dụng nguồn vốn đầu tư
Trong phân tích tài chính dùng lãi suất tính toán, trong phân tích kinh tế dùng tỷ suất chiết khấu xã hội Lãi suất tính toán là giá sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tỷ suất xã hội sử dụng vốn của xã hội Chức năng kinh tế chủ yếu của tỷ suất chiết khấu xã hội là nhằm hỗ trợ cho việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư của nhà nước vào mục đích thiết yếu nhất Tỷ suất chiết khấu xã hội về nguyên tắc được quy định thống nhất trong cả nước và giữ không đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước
1.4.3 Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội
Để phân tích hiệu quả kinh tế-xã hội ta cũng sử dụng các chỉ tiêu:
- NPV
- IRR
- B/C
Trang 33Tuy nhiên, có những điểm khác nhau quan trọng khi đánh giá hiệu quả kinh tế:
- Cơ sở đánh giá khác nhau: Trong phân tích tài chính lấy lợi nhuận làm tiêu chuẩn cơ bản, phân tích kinh tế lấy giá trị gia tăng làm tiêu chuẩn cơ bản
- Giá cả khác nhau: Trong phân tích tài chính dùng giá thị trường, phân tích kinh tế dùng giá kinh tế, kể cả tỷ giá hối đoái
- Lãi suất ứng dụng: trong phân tích tài chính là lãi suất tính toán, trong phân tích kinh tế dùng tỷ suất chiết khấu xã hội gọi là lãi suất kinh tế
Ngoài ra, trong phân tích kinh tế - xã hội người ta còn sử dụng các chỉ tiêu như mức đóng góp cho ngân sách Nhà nước, làm tăng mức sống dân cư, tạo thêm công ăn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bảo vệ môi trường… Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này trong chương II: Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Phân tích đánh giá hiệu quả dự án đầu tư giữ vai trò rất quan trọng trong việc quyết định đầu tư của các cấp có thẩm quyền, quyết định sự thành bại của dự án và cũng nhằm định hướng thực hiện các chỉ tiêu tài chính huy động các nguồn tài trợ cho dự án trong suốt thời gian tiến hành xây dựng và khai thác dự án Trên cơ sở lý luận tổng quan về dự án đầu tư, tổng quan về đánh giá dự án đầu tư, tổng quan về phân tích đánh giá hiệu quả tài chính của dự
án đầu tư, tổng quan về phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án đầu tư, tác giả đề tài sẽ tập trung phân tích về cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả đầu tư của các dự án trong chương II
Trang 35CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN
2.1 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án:
2.1.1 Nhóm các chỉ tiêu hiệu quả tài chính:
2.1.1.1 Các chỉ tiêu tĩnh:
Chỉ tiêu tĩnh dùng trong phân tích, đánh giá dự án đầu tư là những chỉ tiêu chưa xem xét tới biến động của chúng cũng như biến đổi của dòng tiền tệ theo thời gian của các giá trị dòng tiền thu chi của dự án Ưu điểm của các chỉ tiêu tĩnh là đơn giản, phù hợp cho các khâu lập dự án tiền khả thi (báo cáo đầu
tư xây dựng công trình) hoặc cho các dự án nhỏ, ngắn hạn không đòi hỏi mức chính xác cao Nhóm các chỉ tiêu tĩnh dùng trong phân tích hiệu quả tài chính bao gồm:
- Lợi nhuận tính trên một đơn vị sản phẩm: được xác định bằng giá bán một đơn vị sản phẩm Gd trừ đi chi phí cho một đơn vị sản phẩm Cd Phương
án nào có chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một đơn vị sản phẩm lớn nhất là phương
Trong đó : V0 là vốn đầu tư cho tài sản cố định loại ít hao mòn
VM là vốn đầu tư cho tài sản cố định loại hao mòn nhanh
- Thời hạn thu hồi vốn đầu tư: Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa vốn đầu tư V cho dự án với lợi nhuận L và khấu hao cơ bản hàng năm D Phương án nào có chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn nhỏ nhất là phương án tốt nhất
Trang 36- Thời hạn thu hồi vốn đầu tư còn có thể là khoảng thời gian mà vốn đầu tư được trang trải chỉ bằng lợi nhuận thu được từ dự án
2.1.1.2 Các chỉ tiêu động: Phản ánh lợi ích trực tiếp từ doanh nghiệp
Chúng có thể đóng vai trò chỉ tiêu tài chính-kinh tế tổng hợp Khi quyết định phương án chủ đầu tư chỉ dùng một trong các chỉ tiêu trên làm chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu còn lại để tham khảo Các chỉ tiêu động bao gồm:
a) Giá trị hiện tại của hiệu số thu chi (còn gọi là giá trị thu nhập ròng hiện tại) – NPV:
Biểu thức xác định giá trị NPV:
Trong đó: Bt : Thu nhập tăng thêm nhờ có dự án ở năm thứ t
Ct : Chi phí của dự án ở năm thứ t
n : Thời kỳ tính toán
r : Tỷ lệ chiết khấu (còn gọi là lãi suất chiết khấu)
Ưu, nhược điểm của phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi:
- Ưu điểm:
+ Có tính đến sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian
+ Tính toán cho cả vòng đời của dự án
+ Có tính đến giá trị của tiền tệ theo thời gian
+ Có thể tính đến trượt giá và lạm phát thông qua việc điều chỉnh các chỉ tiêu: doanh thu, chi phí và trị số của suất chiết khấu
+ Là xuất phát điểm để tính các chỉ tiêu khác
+ Thường nâng đỡ các phương án có vốn đầu tư ít và ngắn hạn
+ Hiệu quả không được biểu diễn dưới dạng tỷ số, chưa được so với một ngưỡng hiệu quả có trị số dương khác 0
Trang 37b) Suất thu lời nội tại IRR:
Suất thu lời nội tại là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm suất chiết khấu để quy đổi các dòng tiền tệ của phương án thì giá trị hiện tại của hiệu số thu chi NPV = 0 Hay nói cách khác IRR là nghiệm của phương trình:
Về bản chất IRR là khả năng cho lãi của dự án, là lãi suất lớn nhất có thể vay vốn để đầu tư mà không bị lỗ Sự đánh giá của các phương án đạt hiệu quả khi thỏa mãn điều kiện sau: IRR ≥ MARR (MARR là lãi suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được)
Ưu, nhược điểm của phương pháp:
+ Trị số IRR được xác định từ nội bộ phương án một cách khách quan do
đó tránh được việc xác định suất chiết khấu rất khó chính xác như dùng chỉ tiêu NPV
+ Có thể tính đến trượt giá và lạm phát bằng cách thay đổi các chỉ tiêu của dòng thu chi qua các năm
+ Thường được dùng phổ biến trong kinh doanh
+ Giúp ta có thể tìm được phương án tốt nhất theo cả hai chỉ tiêu hiệu quá NPV và IRR trong các điều kiện nhất định
- Nhược điểm:
+ Phương pháp này chỉ cho kết quả chính xác với điều kiện thị trường vốn hoàn hảo
+ Khó ước lượng chính xác các chỉ tiêu cho cả đời dự án
+ Phương pháp này nâng đỡ các dự án ít vốn đầu tư, ngắn hạn, có tỷ suất doanh lợi cao so với dự án tuy cần nhiều vốn, dài hạn, có tỷ suất sinh lời thấp nhưng hiệu số thu chi cả đời dự án (số tuyệt đối) cao, nếu chỉ dựa vào các chỉ tiêu IRR một cách thuần túy
+ Đã giả định các hiệu số thu chi dương qua các năm (thu nhập hoàn vốn
Trang 38N) đã được đầu tư ngay vào phương án với chiết khấu bằng chính trị số IRR cần tìm Điều này không phù hợp với thực tế nếu IRR tìm ra quá lớn
+ Việc tính toán trị số IRR phức tạp nhất là khi dòng tiền tệ đổi dấu nhiều lần
c) Chỉ tiêu tỷ số thu chi (Tỷ số lợi ích/chi phí):
Phương pháp phân tích dựa trên tỷ số được sử dụng phổ biến đối
với các dự án phục vụ công cộng, các dự án mà Nhà nước không đặt ra các mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận Công thức thông thường nhất của chỉ tiêu
tỷ số thu chi có thể biểu diễn như sau:
Ưu, nhược điểm của phương pháp:
- Ưu điểm:
+ Có tính đến sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian
+ Tính toán cho cả vòng đời của dự án
+ Có tính đến giá trị của tiền tệ theo thời gian
+ Có thể tính đến trượt giá và lạm phát thông qua việc điều chỉnh các chỉ tiêu: doanh thu, chi phí và trị số của suất chiết khấu
- Nhược điểm: Phương pháp này ít sử dụng vì chỉ tiêu tỷ số thu chi không phải là chỉ tiêu xuất phát để tính các chỉ tiêu khác, chỉ là chỉ tiêu cho điều kiện cần và không phải là chỉ tiêu để lựa chọn phương án
2.1.2 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội:
Các chỉ tiêu NPV, IRR, cũng có thể dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của một số dự án đầu tư Trong trường hợp này chúng ta cần phải được xác định từ góc độ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của toàn xã hội Cũng như chỉ tiêu hiệu quả tài chính, các chỉ tiêu kinh tế-xã hội cũng có thể dùng làm chỉ tiêu kinh tế tổng hợp để quyết định phương án đầu tư
Ngoài ra trong phân tích kinh tế - xã hội người ta còn sử dụng các chỉ tiêu như:
- Chỉ tiêu giá trị sản phẩm hàng hóa gia tăng Ln:
Trong đó:
D - doanh thu của năm đang xét
Trang 39C1 – Chi phí khấu hao của năm ở mọi khoản mục chi phí
C2 – Chi phí sản phẩm vật chất do nguyên liệu, năng lượng hàng năm ở mọi khoản mục chi phí Nếu dự án phải nộp các loại thuế như thuế cơ sở hạ tầng, thuế tài nguyên và được trợ giá hay bù giá thì các khoản náy cũng được cộng vào chỉ tiêu C2 (được tính hàng năm)
Lg: Giá trị sản phẩm gia tăng thu được gián tiếp ở các lĩnh vực lân cận nếu có và nếu có thể tính được Việc tính toán này thường khó vì trị số Lg thu được ở các ngàng khác nhau nhiều khi còn do nhân tố khác gây nên
- Chỉ tiêu mức đóng góp cho ngân sách nhà nước: Nội dung các khoản đóng góp của dự án cho Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thuế(Như thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp), các khoản thuế tài sản của nhà nước như thuế đất, thuế tài nguyên, thuế cơ sở hạ tầng Các chỉ tiêu tính toán bao gồm:
+ Mức đóng góp cho ngân sách nhà nước tính theo số tuyệt đối với đơn
vị đo là tiền tệ với các khoản đóng góp như trên
+ Mức đóng góp cho ngân sách nhà nước tính theo số tương đối kí hiệu
là Kd:
Trong đó: Md: Mức đóng góp hàng năm tính theo số tuyệt đối V: Vốn đầu tư của dự án
G: Giá trị sản phẩm trung bình năm của dự án
- Chỉ tiêu thực thu ngoại hối:
Chỉ tiêu thực thu ngoại hối của dự án nằm ở t nào đó ký hiệu là NHtđược tính như sau:
NHt=Tnt-Cnt-Lnt (2.10) Trong đó: Tnt tổng thu ngoại hối ở năm t của dự án do xuất khẩu
Cnt: Tổng chi ngoại hối ở năm t do phải mua hàng hóa và dịch vụ ở nước ngoài, trả lãi vốn vay nước ngoài
Lnt: Lợi nhuận được chia cho người nước ngoài(dự án liên doanh với nước ngoài) nếu có và được đưa ra nước ngoài bằng ngoại tệ
- Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm dự án (Kí hiệu là
Kcq)
Trang 40Trong đó: Fvt: Chi phí cho yếu tố đầu vào ở trong nước của năm t cho sản xuất xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu của dự án Kcq phải lớn hơn 1 thì sản phẩm của dự án mới có khả năng cạnh tranh quốc tế
- Tăng cường khả năng xuất khẩu: Chỉ tiêu thực thu ngoại hối đã phản ánh khả năng tăng cường xuất khẩu Ngoài ra còn tính toán thêm một số chỉ tiêu khác như:
+ Góp phần khắc phục sự khan hiếm của sản phẩm hàng hóa xuất khẩu của đất nước
+ Tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sản xuất các ngành khác
- Tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế khác:
+ Dự án có thể làm xuất hiện những ngành sản xuất mới cung cấp cho dự
án và các ngành sản xuất mới sử dụng sản phẩm đầu ra cảu dự án
+ Dự án góp phần cải thiện chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh cảu các ngành lân cận thông qua các chỉ tiêu như gia tăng khối lượng sản phẩm, tăng thêm lợi nhuận và mức đóng góp cho Nhà nước, tận dụng công suất dư thừa hiện có…
- Góp phần phát triển kinh tế địa phương thực hiện dự án:
+ Xuất hiện các ngành nghề mới ở địa phương
+ Góp phần phát triển các doanh nghiệp có ở địa phương
+ Tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế cho địa phương
+ Tăng thêm mức đóng góp cho ngân sách địa phương
- Các lợi ích kinh tế do hiệu quả xã hội đem lại: Các hiệu quả xã hội về giải quyết nạn thất nghiệp cải thiện môi sinh, tăng cường y tế, giáo dục… luôn đem lại các hiệu quả kinh tế kèm theo Các hiệu quả này tương đối khó xác định
2.2 Trình tự và phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình:
2.2.1 Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu
2.2.2 Xác định nguồn vốn đầu tư của dự án:
- Nguồn vốn đầu tư cho dự án thường gồm các loại sau:
+ Vốn tự có của doanh nghiệp
+ Vốn ngân sách