Câu 1 Quan niệm, đặc điểm quyền lực nhà nước và tính thống nhất của quyền lực nhà nước Câu 1 Quan niệm, đặc điểm quyền lực nhà nước và tính thống nhất của quyền lực nhà nước Kế thừa và phát triển quan[.]
Trang 1Câu 1 : Quan niệm, đặc điểm quyền lực nhà nước và tính thống nhất của quyền lực nhà nước
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tổ chức quyền lực nhà nước, Đảng ta đã khái quát thành các nguyên lý cơ bản: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước của dân, do dân, vì dân: quyền lực nhà nước là thống nhất trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; tổ chức và hoạt động của nhà nước dười sự lãnh đạo của Đảng Những quan điểm đó đa được nhà nước ta triển khai trong quá trình xâu dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN
Quyền lực là cái mà nhờ đó buộc người ta phải phục tùng, là khả năng thực hiện ý chí của mình trong quan hệ với người khác
Quyền lực chính trị là một bộ phận của quyền lực trong xã hội, và bao giờ cũng mang tính giai cấp
Quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành nhà nước Do vậy xét về mặt bản chất, quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị và nó được thực hiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra Quyền lực nhà nước còn có nội dung xã hội hay nói đó là quyền lực công do có sự kết hợp giữa quyền lực chính trị của giai cấp thống trị với quyền lực xã hội, khi nó đại diện cho các nhóm lợi ích trong xã hội Quyền lực nhà nước khác các quyền lực chính trị khác ở chỗ quyền lực nhà nước được tổ chức thành cả một hệ thống thiết chế và có khả năng sử dụng các công cụ của nhà nước để buộc các giai cấp, tầng lớp xã hội khác phục tùng ý chí của giai cấp thống trị
Cấu trúc quyền lực nhà nước gồm hai bộ phận :
Một là, ý chí của giai cấp, của nhân dân là bộ phận cấu thành nên bản chất của quyền lực nhà nước; ý chí đó gắn chặt quyền lực với chủ thể quyền lực, biến sức mạnh quyền lực thành những yếu tố tác động hiện thực của sự tồn tại xã hội
Ý chí là bộ phận quan trọng nhất của bất kỳ quyền lực xã hội, nếu thiếu nó thì không thể hiểu được bản chất của quyền lực và hiện tượng quyền lực đó Ý chí đó có ý nghĩa đầu tiên trong sự hình thành mô hình chính quyền nhà nước Tính giai cấp của quyền lực nhà nước thể hiện một cách rõ ràng trong ý chí của nó Ý chí liên kết chặt chẽ quyền lực nhà nước với chủ thể của no; quyền lực thuộc về giai cấp nào thể hiện ý chí của giai cấp đó Quyền lực không thể không thuộc về một chủ thể nhất định Vì vậy chủ thể quyền lực chiếm một vị trí quan trọng trong quyền lực nhà nước
Chủ nghĩa Mác-Lênin trong khi không coi ý chí con người là yếu tố quyết định đời sống xã hội, nhưng nhấn mạnh vai trò to lớn của nó; nó được coi như là yếu tố mang tính quyết định tạo nên quyền lực nhà nước
Trang 2Ý chí giai cấp là bộ phận cấu thành ý thức xã hội, là mặt hoạt động tích cực của ý thức xã hội Như vậy, về thực chất, ý chí giai cấp là hiện tượng tâm lý xã hội, nó được hình thành trong quá trình đan xen phức tạp của tác động qua lại của các hiện tượng khách quan, chủ quan, sự thay đổi biện chứng của ý thức xã hội
Để trở thành yếu tố của quyền lực nhà nước, ý chí giai cấp cần phải được tiến hành thông qua nhà nước, các cơ quan nhà nước, tạo thành định chế quyền lực nhà nước
Hai là, bộ phận tạo nên cơ cấu tổ chức quyền lực bao gồm các cơ quan, tổ chức nhà nước cùng với các phương tiện vật chất và các quy phạm pháp luật
Các đặc điểm của quyền lực nhà nước :
Một là, ý chí chính trị của giai cấp thống trị được thể hiện thông qua
bộ máy quyền lực nhà nước và được tuyên bố chính thức nhân danh nhà nước
Hai là, về nguyên tắc, ý chí nhà nước đựơc thể hiện dưới hình thức pháp lý; về hình thức, nó trở thành ý chí của toàn xã hội
Ba là, việc thực hiện ý chí nhà nước được đảm bảo bởi sức mạnh của nhà nước
Quyền lực nhà nước với bộ máy nhà nước: Quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở kinh tế-xã hội Trên cơ sở đó các yếu tố như sức mạnh vật chất của quyền lực nhà nước, bộ máy công lực nhà nước: lực lượng quân đội, cảnh sát ra đời Ý chí giai cấp gắn với bộ máy nhà nước tạo thành nhân tố
tổ chức và điều chỉnh xã hội Trong thực tiễn và trong tổ chức quyền lực nhà nước không có bộ máy thực hiện thì quyền lực nhà nước chỉ là trống rỗng Mác nhấn mạnh, không thể thực hiện được quyền lực nhà nước trên thực thế nếu thiếu bộ máy tương ứng
Mối quan hệ qua lại giữa quyền lực nhà nước với bộ máy nhà nước rất phức tạp Các cơ quan nhà nước được tổ chức, nó như là sự thể hiện “ vật chất “ của quyền lực Cơ cấu quyền lực nhà nước, vai trò, vị trí của nó quyết định bản chất và nội dung quyền lực nhà nước
Như vậy, ý chí nhà nước của giai cấp và sức mạnh tập trung có mối liên kết tới bản chất, nội dung cơ bản của quyền lực nhà nước Còn công cụ
cơ bản của quyền lực này là cơ quan nhà nước và pháp luật
Quyền lực nhà nước không ngừng tác động lên các quá trình xã hội và bản thân nó được thể hiện dưới dạng đặc biệt của các quan hệ quyền lực Về mặt cấu trúc, quan hệ quyền lực được hình thành bởi các yếu tố sau:
- Chủ thể quyền lực nhà nước
- Khách thể các quan hệ quyền lực ( các giai cấp, cá nhân và mối liên kết của các tổ chức, cá nhân đó )
Trang 3- Về mặt nội dung, quan hệ quyền lực gồm hai phần:
+ Chuyển ý chí của chủ thể cầm quyền thành ý chí quyền lực + Sự lệ thuộc của chủ thể đó vào ý chí
Sự thống trị của quyền lực nhà nước trong xã hội, sự lệ thuộc của tất
cả vào ý chí chủ thể quyền lực là mục đích trực tiếp của các mối quan
hệ quyền lực
Tính thống nhất của quyền lực nhà nước
Lịch sử xã hội loài người đã chỉ ra rằng, có nhiều hình thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến quyền lực nhà nước bao gồm quỳên lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp tập trung nằm trong tay một nhà quân chủ Đến khi giai cấp tư sản nắm quyền, quyền lực nhà nước được phân chia thành quyền hành pháp, quyền lập pháp và quyền tư pháp; trong đó quyền lập pháp bị khống chế không thể kiểm tra, giám sát được hành động của hành pháp và tư pháp Các Mác – Lê Nin đã chỉ ra những hạn chế của thuyết phân quyền về lý luận cũng như thực tiễn Khi tổng kết kinh nghiệm của công xã Pari, Các Mác đã đưa ra quan điểm mới về tổ chức thực hiện quyền nhà nước của nhà nước kiểu mới; ‘ Công xã Pari không phải là cơ quan đại nghị, mà là một tập thể hành động vừa lập pháp vừa hành pháp “ Lê Nin đã kế thừa và phát huy tư tưởng đó, coi đó là cơ sở lý luận của quá trình tổ chức bộ máy nhà nước kiểu mới Như vậy, cả Các Mác và Lê Nin đều khẳng định quan điểm về sự thống nhất giữa các quyền của quyền lực nhà nước, sự thống nhất nội tại bởi bản chất giai cấp, tính xã hội của nó Sự thống nhất, xích lại gần giữa các quyền không phải là sự “ nhập cục “ tất cả các quyền đó để trao cho một cơ quan mà do nhiều cơ quan thực hiện
Quyền lực thuộc về nhân dân có nghĩa là mọi quyền binh trong xã hội
là của nhân dân, đó là quyền lực thống nhất, về căn bản đã thay đổi các quan
hệ quyền lực nhà nước, tạo nên cơ sở ý chí, tư tưởng để các thành viên trong
xã hội tự nguyện chấp hành quyền lực nhà nước của nhân dân Sự tuân thủ
đó được bổ sung thêm nội dung dân chủ, đó là sự chấp hành của thiểu số đối với đa số
Liên hệ thực tế
Quan nghiên cứu về quyền lực nhà nước, chúng ta càng khẳng định quan điểm của Đảng ta trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lê Nin là quan điểm đúng đắn, sáng suốt về tổ chức quyền lực nhà nước Xây dựng và hoàn thiện nhà nước CHXHCNVN theo hướng nhà nước pháp quyền, do dân, của dân và vì dân là quá trình lâu dài là công việc to lớn và quan trọng nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc các cơ sở lý luận này thành hành động thực tế để
Trang 4nhanh chóng đưa nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân hoạt động có hiệu quả đem lại no ấm, hạnh phúc cho mọi người dân
Câu 2: Tính nhân dân của quyền lực nhà nước và thiết lập quyền lực nhà nước của nhân dân
Quan điểm nhất quán, có tính nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của nhà nước CHXHCNVN được cá Đại hội Đảng chỉ rõ “ Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ” Những quan điểm trên đã từng bước được thể hiện trong quá trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước
Hiến pháp năm 1946 ghi rõ “ tất cả quyền binh trong nhà nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo “ Hiến pháp năm 1959 thể hiện khá đầy đủ và rõ nét quan điểm quyền lực thống nhất thuộc nhân dân, quan điểm tập quyền, tập trung quyền lực cao nhất vào Quốc Hội, thể hiện trong những quy định: “ tất cả quyền lực trong nước đều thuộc về dân nhân “ “ Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ” Hiến pháp năm 1992 đã kế thừa những tư tưởng tổ chức quyền lực nhà nước trong những hiến pháp trước đây; đồng thời thể hiện rõ nét và đầy đủ hơn về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước như bước chuyển về sự phân công lao động trong bộ máy nhà nước, nhưng vẫn đảm bảo quyền lực thống nhất thuộc về nhân dân
Từ thực tiễn tổ chức vận hành nhà nước ta có thể rút ra những cách thức cơ bản để tổ chức quyền lực nhân dân
Một là, nhân dân thành lập nhà nước bằng phổ thông đầu phiếu Nhân dân bằng lá phiếu của mình bầu ra những người đại diện cho mình vào các
cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Một cuộc bầu cử dân chủ trước hết là lựa chọn ứng cử viên theo ý dân Nhưng ý dân không thể là ý chí rời rạc cho từng người dân, cũng không phải là số cộng của các ý chí cộng đồng Ý chí của dân được hình thành thông qua các yếu tố: sự lãnh đạo của Đảng, sự thể chế của nhà nước, sự tham gia của các tổ chức và cá nhân người dân Các yếu tố đó tác động qua lại hình thành ý dân Khi tổ chức tìm kiếm ứng cử viên, cơ chế tác động đó vận hành trên cơ sở kết hợp hài hoà, cân nhắc mọi khách quan ý muốn của Đảng và ý muốn của dân ( Đảng cử, dân bầu ) Do vậy chế độ bầu cử là vấn
đề hiến định và được cụ thể hoá trong luật bầu cử cơ quan dân cử
Đại biểu nhân dân là nhà chính trị, là người tham gia hoạch định chính sách, chủ trương, biện pháp lớn của quốc gia và của từng địa phương vì vậy phải có các tiêu chuẩn chính trị, tiêu chuẩn về chuyên môn
Trang 5Hai là, nhân dân trao quyền lực cho nhà nước, trở thành quyền lực nhà nước – trung tâm của quyền lực chính trị, được thực hiện thông qua pháp luật, trước hết là hiến pháp, quy định về tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lý của công dân và mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước với đời sống dân sự Sự trao quyền của nhân dân cho nhà nước sẽ tạo nên xu hướng lạm quyền Để ngăn chặn xu hướng đó, pháp luật quy định quyền lực quản lý nhà nước đối với xã hôi; đồng thời với việc chế định các quy tắc hạn chế quyền lực, đặt quyền lực của bộ máy cưỡng chế đảm bảo nó vào trong một khuôn
hổ hạn định Đó là nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền Nhà nước có quyền lực mạnh mẽ, nhưng luôn bị lệ thuộc vào pháp luật, quyền hiến định của công dân rất rộng rãi,nhưng có thể bị hạn chế bằng các đạo luật trong các trường hợp cụ thể
Ba là, các quyền chỉ thuộc về công dân cần được pháp luật ghi nhận Quyền lực là của nhân dân Nhân dân bàn giao quyền lực cho nhà nước, nhưng nhân dân vẫn có các quyền khác đó là quyền trưng cầu dân ý, quyền bãi nhiệm đại biểu nhân dân, quyền giám sát quyền khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện Những quyền này được ghi nhận trong pháp luật, đồng thời pháp luật cũng quy định nhà nước nghĩa vụ tổ chức thực hiện cá quyền đó cho dân
Liên hệ thực tế
Nghiên cứu về tính nhân dân của quyền lực nhà nước và thiết lập quyền lực nhà nước của nhân dân, ta càng nhận thức sâu sắc quan điểm cơ bản có tính nguyên tắc của Đảng về xây dựng XHCN của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãn đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giư nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm tổ quốc Đây là kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước ta
Câu 3: Tính thông nhất của quyền lực nhà nước và sự phân chia quyền lực nhà nước
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: “ Nhà nước
ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” Trong tổ chức và hoạt động thực tiễn, việc xác định đúng đắn địa vị pháp lys của từng cơ quan nhà nước không có ý nghĩa trong quản lý, phân công
rõ chức năng, phân định thẩm quyền tránh đc tình trạng trùng lặp, mâu thuẫn
về thẩm quyền, chức năng
Tính thống nhất của quyền lực nhà nước
Trang 6Tính thống nhất về quyền lực đã được để cập trong các hiến pháp
1946 1959, 1980 và đặc biệt trong Hiến pháp 1992 chỉ rõ nguyên lực đó là quyền lực nhà nước Nguyên tắc này khẳng định nhân dân là cội nguồn, chủ thể của mọi quyền; Quyền lực nhà nước của nhân dân phải được thống nhất
Quyền lực thống nhất đòi hỏi nhà nước phải tập quyền, tập trung dân chủ, nhưng ko độc quyền, tập trung quan lieu Nguyên tắc tập trung quyền lực dẫn đến việc thừa nhận các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là quốc hội – đại diện cao nhất của nhân dân, nắm toàn quyền lập pháp, thực hiện giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước,nhưng ko có nghĩa là Quốc hội có quyền phân công thẩm quyền cho các cơ quan nhà nước, định cho mình quyền hạn ngoài quy định của hiến pháp, pháp luật Quốc hội cũng là cơ quan hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật
Các cơ quan đại biểu nhân dân đc hình thành từ bầu cử theo nguyên tắc dân chủ, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp bỏ phiếu kín, luân phiên và bãi miễn, có đầy đủ khả năng thực thi lập pháp, quyết định quốc kế dân sinh và giám sát cao nhất hoạt động của bộ máy nhà nước
Hoạt động hành pháp đc phân biệt với đời sống dân sự, kinh doanh, phải lien tục đc giải quyết công việc của công dân và phục vụ công cộng, cần phải phân biệt hành chính quản lý với hành chính tài phán trong quyền lực của nhà nước Để xây dựng một hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước mạnh mẽ, vững chắc, thống nhất, có thứ bậc từ trung ương xuống cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong lập quy, áp dụng pháp luật, tổ chức, chỉ huy và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước
Quyền lực thống nhất của nhà nước đc đảm bảo bằng hoạt động tư pháp đặc biệt là xét xử Xét xử có mục đích cuối cùng là đảm bảo sự tuân theo luật của xà hội và nhà nước
Sự phân chia quyền lực nhà nước
Quyền lực thống nhất của nhà nước được phân công cho các cơ quan,
tổ chức nhà nước để thực hiện ba quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp Việc phân công quyền lực nhằm thực hiện tổ chức quyền lực chứ ko phải giải quyết vấn đề quyền lực đó thuộc về ai
Quyền lập pháp là thẩm quyền ban hành các quy phạm pháp luật, được thực hiện bằng các hoạt động quyết định về luật của quốc hội và ủy quyền cảu quốc hội cho Ủy ban thường vụ Quốc hội ra pháp lênh Tuy nhiên, trong quá trình lập pháp ko chỉ có Quốc hội mà còn nhiều cơ cấu nhà nước tham gia, phổi hợp bằng việc thực hiện các thẩm quyền : kiến nghị về luật, soạn thảo và trình dự án luật, thẩm tra dự án luật,…
Trang 7Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật và tổ chức đời sống xã hội theo pháp luật Quyền hành pháp đc thưc hiện bởi các thẩm quyền: ban chính sách quản lý, ra quyết định quy phạm pháp luật bằng hoạt động lập quy, áp dụng pháp luật bằng việc quyết định hành chính cá biệt, cụ thể, tổ chức phục vụ đời sống xã hội, để đảm bảo thực hiện lợi ích công cộng
Quyền hành pháp đc thực hiện bởi bộ máy hành chính nhà nước và sự kết ước bằng hợp đồng hành chính tạo thành hoạt động công vụ nhà nước, trong đó nền hành chính có vai trò quyết định
Quyền tư pháp là quyền tài phán bằng hoạt động xét xử theo pháp luật
tố tụng của cac tòa án Đó là sự phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của các quyết định pháp luật và sự phán quyết về: hành vi tội phạm, tranh chấp dân
sự, kinh tế, lao động và tranh chấp về hành chính Quyền tư pháp còn đc thực hiện bởi các cơ cấu quyền lực bằng hoạt động trực tiếp lien quan đến xét xử như: điều tra, giám định, pháp y, luật sư, công chứng phục vụ trực tiếp các vụ xét xử
Sự phân công các quyền theo đơn vị hành chính nhà nước
Quyền lập pháp: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì quyền lập pháp chỉ thuộc về Quốc hội và chỉ được ủy quyền cho Ủy ban thương vụ quốc hội Do vậy, quyền lập pháp ko đc phân xuống cho địa phương
Quyền hành pháp đc triển khai xuống địa phương và được thực hiện bởi các cơ quan chính quyền địa phương và các cơ cấu, tổ chức ngoại thuộc ( thuộc hệ thống ngành dọc trên trung ương) Chính quyền địa phương bao gồm hai loại cơ quan: hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân được bầu ra từ hội đồng nhân dân thực hiện quyền hành pháp theo các hướng:
Một là, thực hiện pháp luật và thực hiện quyết định của các cơ quan nhà nước cấp trên
Hai là, quyết định của chủ trương, biện pháp bằng việc ra nghị quyết
để giải quyết để giải quyết các vấn đề quan trọng thuộc quyền tự chủ cộng đồng hành chính
Ba là, giám sát hoạt động thi hành pháp luật và quyêt định của chính quyền địa phương đối với tất cả các cơ quan tổ chức, công dân trên lãnh thổ hành chính
Quyền tư pháp xét xử là quyền lực thống nhất, quyền lực nhà nước,
ko phải là quyền của từng cộng đồng địa phương, do vậy quyền này ko được phân chia cho địa phương
Liên hệ thực tiễn
Câu 4: Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước ở nước ta
Trang 8Tinh thần các Nghị quyết đại hội toàn quốc của Đảng đã chỉ rõ xây dựng nhà nước ta là nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp
và quyền tư pháp Mỗi cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể Hệ thống các cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể Hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước
Những đặc điểm của cơ quan nhà nước
Một là, cơ quan nhà nước là một tổ chức có quyền lực nhà nước, có tính độc lập tương đối trong hệ thống cơ quan nhà nước, có cơ cấu tổ chức, được giao những quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ và chức năng nhà nước theo quy định của pháp luật
Hai là, mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền do pháp luật quy định Đó là quyền ban hành những văn bản quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung, văn bản áp dụng pháp luật phải thực hiện đối với chủ thể có liên quan Thẩm quyền của cơ quan nhà nước có những giới hạn về không gian, thời gian, đối tượng chịu sự tác động…
Ba là, mỗi cơ quan nhà nước có hình thức và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định
Địa vị pháp lý của các cơ quan quyền lực nhà nước:
Địa vị pháp lý của mỗi cơ quan nhà nước là vị trí của cơ quan đó trong bộ máy nhà nước và được xác lập trên cơ sở, cấp của cơ quan (trung ương, tỉnh, huyện, xã…); tính chất chính trị của cơ quan (do nhân dân trực tiếp bầu hay
do cơ quan cấp trên thành lập); trách nhiệm của cơ quan (chế dộ báo cáo, chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức); quyền kiểm tra, giám sát; thẩm quyền của cơ quan; hệ thống văn bản dưới hình thức pháp lý và quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản, văn bản do nó ban hành bị ai đình chỉ hay bãi bỏ; nguồn tài chính phục vụ cho cơ quan hoạt động; biểu tượng nhà nước mà cơ quan được sử dụng…
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước của nước ta:
Quốc hội: là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam; quốc hội do nhân dân cả nước bầu ra theo chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín Quốc hội có các chức năng cơ bản như sau:
Một là, lập hiến và lập pháp
Hai là, quyết định những vấn đề hệ trọng nhất của đất nước, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức
Trang 9và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Ba là, thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước
Ủy ban thường vụ quốc hội: là cơ quan thường trực của quốc hội, do quốc
hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội
Các quyền của ủy ban thường vụ quốc hội:
Năm là, quyền quyết định một số vấn đề trong thời gian Quốc hội không họp…
Chủ tịch nước: là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCN VN
về đối nội và đối ngoại
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ Quốc hội Chủ tịch nước chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Quốc hội
Chính phủ: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước CHXHCN VN Chính phủ phải chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban
thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; đồng thời Chính phủ có toàn quyền giải quyết các vấn đề quản lý nhà nước trên phạm vi toàn quốc trừ những vấn đề thuộc quyền giải quyết của Quốc hội, ủy ban thường
vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Chính phủ chỉ đạo tập trung thống nhất các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương
Thủ tướng được Quốc hội bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước Các phó thủ tướng, các Bộ trưởng bà thủ tướng cơ quan ngang Bộ là thành viên Chính phủ được Quốc hội phê duyệt theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, thông qua các phiên họp định kỳ và đột xuất Thủ tướng, các phó thủ tướng điều hành công việc chung của
Chính phủ; các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm mọi mặt về ngành, lĩnh vực phụ trách
Trang 10Bộ, cơ quan ngang Bộ: là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước, quản lý các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực…
Bộ trưởng là thành viên Chính phủ, là người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang
Bộ có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách, đồng thời điều hành hành chính nhà nước đối với
ngành, lĩnh vực được giao theo đúng quy định của pháp luật
Tòa án: là cơ quan xét xử của nhà nước ta Hệ thống Tòa án gồm: Tòa án
nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân tại địa phương, các tòa án quân sự, các tòa án khác theo luật định Tòa án là cơ quan quyền lực nhà nước, chỉ tuân thủ luật pháp, không phụ thuộc vào cơ quan hoặc cấp hành chính nào
Nguyên tắc hoạt động của các Tòa án là khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo
đa số
Viện kiểm sát nhân dân: là cơ quan nhà nước làm việc theo chế độ thủ
trưởng, có đặc điểm, đặc thù riêng, được tổ chức theo hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện
Các cơ quan Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật của các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan hành chính địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang, thực hành
quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Hội đồng nhân dân: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Ủy ban nhân dân: do Hội đồng nhân dân đồng cấp bầu ra Là cơ quan chấp
hành của Hội đồng nhân nhân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm thực thi các Nghị quyết của HĐND, báo cáo kết quả hoạt động và chịu sự giám sát của HĐND; là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm thực thi các văn bản pháp luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, thực hiện chế độ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên ( tỉnh báo cáo Chính phủ), điều hành các quá trình kinh tế - xã hội, hành chính – chính trị ở địa phương theo sự chỉ đạo chung của Chính phủ
Câu 5: Kiểm soát đối với hành chính nhà nước
Mỗi loại cơ quan nhà nước được thành lập để thực hiện những chức năng nhất định Trong bộ máy hành chính, hoạt động của mỗi cơ quan nhà nước không biệt lập, có liên hệ hoạt động với cơ quan nhà nước khác Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, tài phán đối với các cơ quan khác theo quy định của pháp luật
Trang 11Kiểm soát đối với hành chính nhà nước để đánh giá tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước, đánh giá tính tích cực và tiêu cực của nó trong việc thực hiện hoạt động chấp hành các quyết định pháp luật của các
cơ quân quyền lực nhà nước và điều hành các quá trình phát triển xã hội trên
cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật
Phải tiến hành kiểm soát vì:
- Kiểm soát là chức năng bắt buộc của lãnh đạo trong công tác quản lý
- Hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng nhiều quyền lực nhà nước, nên có nhiều khả năng kéo theo sự lạm dụng quyền lực nhà nước và phát sinh những tiêu cực
- Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện hoạt động quản
lý nhà nước do nhiều con người khác nhau đảm nhận, phải kiểm soát
để đảm bảo tính thống nhất quyền lực từ Trung ương đến các địa phương, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng buông lỏng, phát sinh vấn đề trong hoạt động quản lý
- Hoạt động quản lý nhà nước có tính toàn diện, diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi địa phương, phải thực hiện kiểm soát để đảm bảo sự công bằng, hạn chế tiêu cực
- Quản lý hành chính nhà nước còn là hoạt động lệ thuộc vào chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự tham gia của các tổ chức xã hội, công dân Vì vậy ngoài hoạt động kiểm tra của Đảng, giám sát của công dân có mục đích tăng cường tính hợp pháp, hợp lệ, hợp lý và hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước
- Hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước gắn liền với nguồn tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, do đó phải
có hoạt động kiểm soát trên lĩnh vực này để tránh những sai sót, tiêu cực có thể xảy ra
Tóm lại, kiểm soát đối với hoạt động hành chính nhà nước là hoạt động đặc biệt thuộc chức năng của nhà nước và xã hội nhằm đảm bảo tính hợp
Trang 12pháp, hợp lý và hiệu quả trong quản lý nhà nước, thiết lập trật tự trong quản lý, bảo vệ các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước và xã hội
Các phương pháp kiểm soát đối với nền hành chính nhà nước
Có các phương thức kiểm soát là: giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát Giám sát: là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án, các
tổ chức xã hội, công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý xã hội Giám sát là sự tác động quyền lực nhằm chấn chỉnh những lệch lạc, trái pháp luật, sai trái mục tiêu của hệ thống đối với
hệ thống khác, nằm ngoài hệ trực thuộc theo ngành dọc Giám sát là hoạt động đánh giá nhưng không quyết định, chỉ xem xét, tổng hợp kiến nghị những vấn đề đã phát hiện trong quá trình giám sát
Kiểm tra: là hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước cấp trên với
cơ quan nhà nước cấp dưới nhằm xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi cần thiết hoặc kiểm tra cụ thể việc thực hiện một quyết định hành chính nào đó Hoạt động kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc
Thanh tra: là hoạt động của các tổ chức thuộc Tổng thanh tra nhà nước và thanh tra nhà nước chuyên ngành Cơ quan thanh tra và đối tượng bị thanh tra không có quan hệ trực thuộc, nhưng các cơ quan thanh tra do thủ trưởng cơ quan hành chính thành lập, hoạt động với tư cách là cơ quan chức năng giúp thủ trưởng cùng cấp
Kiểm toán: là hoạt động kiểm soát tài chính mang tính chất chuyên môn cao của hệ thống các tổ chức chuyên hoạt động trên lĩnh vực này Có hai hình thức kiểm toán là kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
Ngoài ra, để tăng cường hiệu lực, hiệu quả, các cơ quan hành chính nhà nước phải tự tổ chức kiểm soát chính hoạt động của họ; tổ chức kiểm tra nội bộ, kiểm soát hoạt động sử dụng ngân sách, tài sản của nhà nước Đây là một trong những đòi hỏi có tính chất quyết định đối với công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí tài sản, ngân sách nhà nước hiện nay
Câu 6: Tổ chức hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương Những vấn đề chú ý trong thiết kế xây dựng hệ thống hành chính nhà nước
Tư tưởng chỉ đạo cảu Đảng về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản lý của nhà nước là: “Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt; hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ và công chức; phương thức hoạt động Định rõ những việc nhà nước phải làm và bảo đảm đủ các điều kiện để làm tốt, khắc phục tình trạng buông lỏng hoặc làm thay,
Trang 13chồng chéo về chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan của Đảng và cơ quan nhà nước; hiện đại hóa nền hành chính nhà nước” Quan điểm đó
đã được từng bước thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp lại tổ chức hành chính nhà nước
Hành chính theo nghĩa rộng là một quá trình có tổ chức gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu, kế hoạch và hiệu lực bên trong của tổ chức; là năng lực để phối hợp nhiều nguồn lực khác nhau của xã hội trong một tổ chức nhằm làm cho mọi sự nỗ lực này hoạt động như một đơn vị thống nhất
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước – các cơ quan thực thi quyền hành pháp – hành pháp hành động
Những đặc trưng của tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
- Là hệ thống tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước; quyền hành pháp; tính chấp hành – điều hành cao; tính hệ thống thức bậc chặt chẽ; thong điệp giấy tờ và nhiều thủ tục hành chính;
- Cung cấp dịch vụ công cho xã hội;
- Hoạt động mang tính cưỡng chế, độc quyền;
- Có ảnh hưởng xã hội rộng lớn;
- Hoạt động của công chức bị điều tiết chặt chẽ bởi pháp luật;
- Sự đa dạng về chuyên môn và phạm vi hoạt động;
- Tính chuyên môn hóa cao;
- Hoạt động bằng ngân sách nhà nước
Những mục đích của quá trình phân tích tổ chức hành chính nhà nước
- Giải thích quá khứ của tổ chức
- Tìm hiểu thực trạng hiện tại của tổ chức và bản sắc văn hóa tổ chức
- Xác định các điều kiện, nhân tố tác động đến tổ chức
- Tạo lập cơ sở khoa học và thực tiễn để dự báo tương lai của tổ chức
- Đề xuất những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của tổ chức
Tổ chức hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
Trang 14- Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương: bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và một số cơ quan khác do Thủ tướng Chính phủ thành lập nhằm giúp Thủ tướng trên những lĩnh vực cụ thể
- Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương bao gồm UBND các cấp và cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND
Những vấn đề cần chú ý trong thiết kế xây dựng hệ thống hành chính nhà nước
- Nguyên tắc để xác định cơ cấu tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước
+ Trong mối quan hệ với hệ thống cac cơ quan thực thi quyền lập pháp và tư pháp
+ Đảm bảo hoạt động thống nhất từ TW đến cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật
+ Tạo nên hệ thống thứ bậc hành chính, đòi hỏi phải bảo đảm thực hiện các văn bản quản lý của cấp trên trong điều kiện cụ thể của địa phương
+ Đảm bảo tính khoa học trong thiết kế cơ cấu tổ chức
- Nguyên tắc thiết kế cơ cấu tổ chức của từng cơ quan hành chính nhà nước
- Một trong những nguyên tắc cơ bản là: xác định rõ ràng, cụ thể nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận, từng con người trong cơ
Trang 15quan và mối quan hệ lãnh đạo quản lý, báo cáo giữa các bộ phận con người trong tổ chức
- Cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước còn phụ thuộc rất lớn vào hai yếu tố:
+ Đầu vào mà các cơ quan hành chính nhà nước nhận được
+ Những sản phẩm đầu ra mà các cơ quan đó phải cung cấp
- Cơ cấu tổ chức phải được xem xét thường xuyên cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội mà trong đó hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động quản lý
- Số lượng các cơ quan thuộc chính phủ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
- Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; vai trò tự quản của địa phương trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
- Mối quan hệ ngành, lãnh thổ về bộ máy hành chính nhà nước
Câu 7: Năng lực chính sách của hệ thống hành chính nhà nước
Năng lực là thuật ngữ để chỉ tất cả khả năng của cá nhân, tổ chức thực hiện công việc, nhiệm vụ một cách có kết quả, hiệu quả và vững chắc
Năng lực của cá nhân, tổ chức không cố định mà luôn thay đổi cùng với sự phát triển của cá nhân, tổ chức
Trong tổ chức hành chính nhà nước, năng lực được xác định ở 3 cấp đô:
- Năng lực của các hệ thống
- Năng lực của từng cơ quan
Trang 16- Năng lực của từng cá nhân
Năng lực ban hành chính sách của hệ thống hành chính nhà nước được hiểu như là toàn bộ các khả năng mà các cơ quan thuộc chính phủ, cá nhân
có được gắn liền với quá trình chính sách Đó là các khả năng thực hiện một cách tốt nhất các vấn đề sau:
- Xác định vấn đề chính sách
- Xây dựng các phương án chính sách và lựa chọn chính sách
- Triển khai thực hiện chính sách từ Trung ương đến cơ sở
- Đánh giá chính sách gồm: đánh giá lựa chọn, triển khai và tác động của chính sách đế khi kết thúc chính sách
Sự thể hiện cụ thể của năng lực chính sách của công chức cao cấp trong bộ máy nhà nước
Năng lực triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước
- Chính sách do Chính phủ ban hành nhằm triển khai các chính sách vĩ
mô của Đảng và Nhà nước
- Năng lực triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chính là năng lực biến các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước thành các chính sách, quyết định quản lý
cụ thể phù hợp với đặc điểm của ngành, địa phương trong từng giai đoạn, không trái với chính sách của chính quyền cấp trên và hệ thống pháp luật nhà nước
Năng lực tiếp thu sáng kiến chính sách và huy động sự tham gia triển khai, đánh giá chính sách từ nhân dân
- Sự tham gia của công dân đến sáng kiến, đến quá trình chính sách thong qua nhiều hình thức khác nhau và đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đề ra các sáng kiến chính sách, gồm các hình thức: sự tham gia trực tiếp, chính thức của công dân thong qua các đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; hoạt động của các tổ chức chính trị, đoàn thể, xã hội và sự phản ánh ý nguyện của họ; thong tin đại
Trang 17chúng để bày tỏ tư duy, suy nghĩ, quan điểm về các vấn đề chính sách; những diễn đàn, hội thảo, hội nghị; tổ chức lấy ý kiến công dân thong qua trưng cầu dân ý; điều tra dư luận xã hội; hòm thư góp ý, đường day nóng, qua mạng thong tin Internet…
- Nhân dân tham gia triển khai thực hiện chính sách Tuyên truyền, động viên, thuyết phục để công dân hiểu rõ chính sách, có như vậy mới tham gia, ủng hộ các biện pháp thực thi chính sách
- Nhân dân là người tham gia đánh giá chính sách vì: nhân dân là người chịu tác động lớn của chính sách; là người quyết định sự thành công hay thất bị của nhiều chương trình dự án của nhà nước; phản ánh khách quan những lợi ích chính sách mang lại
Khả năng phân tích chính sách: phân tích chính sách là một quá trình được xây dựng theo nhiều bước, có thể tiến hành ở tất cả các giai đoạn của quá trình chính sách Nhưng ở giai đoạn hoạch định chính sách có vai trò hết sức quan trọng, cụ thể ở một số bước như sau:
- Xác định vấn đề chính sách
- Thu thập số liệu liên quan đến vấn đề chính sách
- Xây dựng hay thiết kế khả năng đánh giá, lựa chọn phương án tối ưu
- Dự kiến hay dự báo kết quả của các phương án chính sách
- Phân tích để xác định lại tính hợp lý của phương án lựa chọn
- Khuyến nghị quyết định của chính sách
Khả năng hoạch định chính sách: là sử dụng kiến thức để giải quyết vấn
đề chính sách Hoạch định chính sách có lien quan đến nhiều vấn đề, trong
đó sử dụng những thông tin, tiếp nhận và xử lý chúng là vấn đề hết sức quan trọng trong hoạch định chính sách
Khả năng tổ chức triển khai thực hiện chính sách
- Triển khai chính sách nhằm biến ý tưởng, mực tiêu chính sách thành kết quả cụ thể; giải quyết các vấn đề đặt ra của chính sách; huy động nguồn lực để đạt mục tiêu ở mức tối ưu trên cơ sở chi phí, hiệu quả,; biến ý tưởng chính sách thành sản phẩm; quá trình ra quyết định; triển
Trang 18khai các chương trình, dự án liên quan đến mục tiêu chính sách trong khuôn khổ nguồn lực xác định
- Một số cách tiếp cận trong tổ chức triển khai thực hiện chính sách: tăng khả năng lựa chọn các cách thức triển khai hay tìm được nhiều cách giải quyết; tăng cường vai trò công dân trong các hoạt động triển khai thực hiện chính sách; tăng cường tính kỷ luật, kỷ cương, long trung thành, liêm khiết của đội ngũ công chức trong nên công vụ Khả năng đánh giá chính sách Đánh giá chính sách nhằm xác định đích thực giá trị của chính sách để làm tốt hơn chính sách trong tương lai, bao gồm đánh giá trước khi quyết định, trong triển khai và ngay cả khi kết thúc chính sách
- Mục đích đánh giá chính sách: hoàn thiện chính sách; tiếp tục mở rộng hay thể chế hóa chính sách; kiểm tra tính xác thực của chính sách; lựa chọn các khả năng; quyết định cung cấp tài chính; xác định trách nhiệm trên các lĩnh vực tài chính, pháp lý; đánh giá được kết quả của chính sách
- Các mô hình đánh giá chính sách: mô hình dựa vào mục tiêu chính sách và đánh giá việc đạt mục tiêu; đánh giá các tác động phụ kèm theo đạt được mục tiêu chính sách; đánh giá tự do theo tình huống cụ thể của sự tác động của chính sách đối với đời sống kinh tế - xã hội;
mô hình đánh giá toàn diện; phương pháp đánh giá tập trung vào khách hàng, vào những người có liên quan đến chính sách; phương pháp đánh giá dựa vào hiệu quả chính sách
- Những hoạt động đánh giá chính sách: đánh giá để lựa chọn chính sách; đánh giá triển khai thực hiện chính sách; đánh giá kết thúc và hậu chính sách; đánh giá sự thất bại của một chính sách
Câu 8: Khái niệm, đặc điểm của chính sách kinh tế và các chính sách kinh tế ở nước ta hiện nay