HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ BÀI BÁO KHOA HỌC CUỐI KỲ HỌC PHẦN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM Đề tài Thị trường xuất khẩu lao động 2022 – Điểm khởi sắc cho Việt Nam sau đại dịch Covid – 19 Giả.
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-
BÀI BÁO KHOA HỌC CUỐI KỲ HỌC PHẦN: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
Đề tài: Thị trường xuất khẩu lao động 2022 – Điểm khởi sắc cho Việt Nam sau
đại dịch Covid – 19
Giảng viên hướng dẫn :ThS Nguyễn Thị Minh Hiền Sinh viên thực hiện :Vũ Thị Mỹ Linh
Lớp – Mã sinh viên :KT47A1 – 0208
Hà Nội – 2022
Trang 2MỤC LỤC
Tóm tắt 3
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
Đối tượng nghiên cứu 4
Phương pháp nghiên cứu 4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
1 Thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam trước và trong đại dịch Covid – 19 5
1.1 Giai đoạn trước đại dịch Covid – 19 (từ năm 2014 – 2019) 5
1.2 Giai đoạn trong đại dịch Covid – 19 (2020 – 2021) 6
2 Thị trường XKLĐ 2022 – điểm khởi sắc cho Việt Nam sau đại dịch 8
2.1 Kết quả khảo sát thực tế lao động Việt Nam tại nước ngoài 8
2.2 Thị trường XKLĐ Việt Nam tại Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc 9
KẾT LUẬN 9
1 Những thành tựu, khó khăn và giải pháp của chính phủ cho thị trường XKLĐ đến nền kinh tế Việt Nam 10
1.1 Những thành tựu 10
1.2 Những khó khăn của lao động Việt Nam 10
1.3 Giải pháp về hiệu quả hóa lao động Việt Nam ở nước ngoài 11
2 Định hướng cho lao động Việt Nam tại các thị trường nước ngoài 11
Abstracts 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Tài liệu tiếng Việt 13
Tài liệu tiếng Anh 14
Trang 3THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 2022 - ĐIỂM KHỞI SẮC CHO VIỆT NAM
SAU ĐẠI DỊCH COVID 19
Tóm tắt
Thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam đã và đang dần được phục hồi sau hơn 2 năm bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid – 19, mang lại nhiều cơ hội góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam Các quốc gia lớn hiện nay như Hàn Quốc và Nhật Bản đang đẩy mạnh thu hút nguồn nhân lực với chất lượng và trình độ chuyên môn cao hơn ở Việt Nam, do vậy đây chính là một dấu hiệu tốt cũng như cơ hội tích cực để nước ta tận dụng Với sự thay đổi chính sách nhằm phục hồi nền kinh tế và thích ứng với dịch bệnh, Việt Nam có mục tiêu hướng đến các thị trường xuất khẩu lao động bền vững Bài viết tập trung phân tích bối cảnh của thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam trước và trong đại dịch Covid – 19 cũng như đưa ra những ưu điểm, khó khăn và giải pháp trong năm 2022, đặc biệt tại ba thị trường chính đó là Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc Từ đó, tác giả đưa ra những định hướng xuất khẩu lao động của Việt Nam trong năm 2022
Từ khóa: thị trường lao động truyền thống, thị trường lao động bền vững, xuất khẩu lao động
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, xuất khẩu lao động là thị trường rất quan trọng, được Đảng và Nhà nước ta xác định là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại không thể thiếu, là một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm Không chỉ giải quyết việc làm cho người lao động mà bên cạnh đó còn thu được một lượng ngoại tệ tương đối đáng kể cho sự phát triển đất nước cũng như góp phần nâng cao trình độ làm việc và thiết lập mối quan hệ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong cộng đồng quốc tế Đặc biệt ngày nay, nền kinh tế phát triển với xu hướng toàn cầu hóa, hiện tượng xuất khẩu lao động (XKLĐ) lại càng phổ biến với người lao động (NLĐ) Việt Nam Vì vậy, giải quyết việc làm cũng như duy trì sự ổn định xã hội thông qua XKLĐ đang rất được chú trọng và chính phủ cần phải đưa ra những chiến lược quan trọng để hướng đến những thị trường XKLĐ bền vững, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác chuẩn bị các thủ tục đưa NLĐ làm việc ở nước ngoài nhằm đáp ứng các điều kiện quy định tiếp nhận lao động nước ngoài ở các quốc gia và khu vực Có thể thấy, XKLĐ mang đến những lợi ích đáng kể không chỉ cho chính NLĐ mà còn góp phần quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế cho đất nước, giải quyết việc làm cho NLĐ Nhưng kể từ khi đại dịch Covid – 19 xuất hiện và lan rộng vào cuối năm 2019, thị trường XKLĐ đã gặp phải rất nhiều khó khăn khi các nước lớn như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản tạm ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam để đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh, hầu hết các quốc gia “bế quan tỏa cảng” và các sân bay hay tàu quốc tế gần như đều dừng hoạt động2 Với sự đảo lộn do dịch bệnh gây ra, năm 2020, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội đã giảm chỉ tiêu xuống còn 50% trong việc đưa NLĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài
từ 130.000 xuống còn 70.000 người Nếu như từ năm 2014 đến 2019, tổng số NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 người thì năm 2020 số liệu này đã tụt giảm chỉ còn khoảng 78.641 người và tiếp tục giảm xuống còn 45.058 người trong năm 2021 (theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước) Qua đó, chính phủ Việt Nam cũng đã nỗ lực đưa ra những
1 Lớp KT47A1 - Khoa Kinh tế Quốc tế – Học viện Ngoại giao – Email: vuthimylinh21112002@gmail.com
2 Kiều Thị Thúy Hằng (2019), Quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động của Việt Nam tr.11,
https://www.slideshare.net/trongthuy1/luan-van-quan-li-nha-nuoc-voi-xuat-khau-lao-dong-cua-viet-nam-hay truy cập ngày 07/06/2022
Trang 4chủ trương, chính sách để giải quyết những vấn đề trên; hơn thế nữa, công tác đàm phán, triển khai và ký kết các thỏa thuận quốc tế cũng liên tục được thực hiện trong năm 2021 Bước sang năm 2022, dịch bệnh đã được kiểm soát tốt hơn, thị trường XKLĐ đang dần được phục hồi và một số nước đã tăng chỉ tiêu tuyển dụng tiếp nhận lao động Việt Nam Có thể thấy, đây là những bước đầu trong việc ổn định lại thị trường XKLĐ và phục hồi nền kinh tế Việt Nam Gần đây nhất, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam cùng với Bộ Ngoại giao và Thương mại (Australia) đã ký kết bản ghi nhớ giữa chính phủ hai nước về việc hỗ trợ công dân Việt Nam tham gia chương trình lao động nông nghiệp tại Australia, đây cũng là văn bản đầu tiên Australia
ký kết với các nước nhằm đưa người lao động làm việc tại quốc gia này theo chương trình thị thực nông nghiệp3
Có thể thấy, thị trường XKLĐ đóng một vai trò hết sức quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế cũng như đời sống của nhân dân Việt Nam Việc đưa ra các giải pháp hợp lý và phù hợp nhằm phát triển thị trường này là rất cần thiết đối với chính phủ Việt Nam và bên cạnh việc khắc phục những nhược điểm từ những năm trước, cần phải phát huy tốt những ưu điểm cũng như nắm bắt được cơ hội để hoàn thành được những mục tiêu đã đề ra trước đó Một trong
số những lý do chính khiến tổng số lao động giảm xuống đó là do dịch bệnh Covid – 19 gây nên,
vì vậy, từ việc nghiên cứu thực trạng thị trường XKLĐ trong dịch bệnh, đưa ra được những giải pháp cũng như triển vọng, định hướng cho thị trường này trong năm 2022
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bài viết được thực hiện dựa trên những số liệu và tài liệu của Cục Quản lý Lao động ngoài nước – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, một số báo cáo về tổng số người lao động làm việc
ở nước ngoài từ năm 2019 đến đầu năm 2022
Phương pháp nghiên cứu
Bài viết tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê và thống kê phân tích: Sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp được thu thập qua báo cáo về những nội dung liên quan của các cơ quan chuyên môn; tóm tắt, phân tích và trình bày các dữ liệu đã được thu thập từ đó rút ra được kết luận cho vấn đề đó; phân tích được mối liên hệ của vấn đề qua các năm và dự đoán từ kết quả đã thu thập được
Phương pháp suy luận: quan sát những ưu nhược điểm còn tồn tại của vấn đề từ đó khắc phục nhược điểm và phát huy ưu điểm; so sánh vấn đề qua các năm qua đó đưa ra kết luận và giải pháp phù hợp
Phương pháp khảo sát nghiên cứu, phân tích và tổng hợp: chia vấn đề đã nghiên cứu và khảo sát thành các bộ phận nhỏ để phân tích cụ thể qua từng giai đoạn, phát hiện ra những bản chất của từng vấn đề nghiên cứu; sau đó tổng hợp lại những vấn đề đã được bóc tách để thấy rõ được sự bao quát, cái chung của vấn đề cần nghiên cứu
3 Mở hướng đi mới cho thị trường xuất khẩu lao động (2022), https://baochinhphu.vn/mo-huong-di-moi-cho-thi-truong-xuat-khau-lao-dong-102220410100014165.htm, truy cập ngày 07/06/2022
Trang 5NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam trước và trong đại dịch Covid – 19
1.1 Giai đoạn trước đại dịch Covid – 19 (từ năm 2014 – 2019)
Việt Nam là một quốc gia có nguồn lực lao động dồi dào, có quy mô dân số lớn, tháp dân số thuộc loại trẻ và có thể nói Việt Nam là thị trường cung cấp lao động rất phong phú để tạo nên nguồn nhân lực dồi dào cho đất nước Tuy nhiên, tỉ lệ qua đào tạo nước ta lại khá thấp; lao động cần cù và tiếp thu nền công nghệ kỹ thuật nhanh nhưng tính kỷ luật lại chưa cao cũng như tác phong văn hóa còn yếu Có thể thấy, giai đoạn 2014 – 2019 số lượng NLĐ làm việc ở nước ngoài
đã vượt mức 100.000 người
Bảng 1: Quy mô XKLĐ giai đoạn 2014 – 2019
Đơn vị: người
Có thể thấy, thị trường XKLĐ tăng dần qua các năm và đạt đỉnh điểm trong năm 2019 với số lượng là 147.387 người mặc dù cuối năm 2019 có sự phát tán của dịch bệnh Covid – 19
Số NLĐ làm việc ở nước ngoài đã đạt 110% so với kế hoạch đã đề ra trước đó năm 2014 mặc
dù đây cũng là năm khá khó khăn về tình hình kinh tế Tuy nhiên, đây lại là mốc năm được coi là
“năm vàng” trong việc XKLĐ sang Nhật Bản, đã có khoảng gần 20.000 lao động Việt Nam đến Nhật làm việc (theo Hiệp hội xuất khẩu lao động) Chính vì sự tiếp nhận lao động đáng kể này dẫn đến việc gia tăng tuyển dụng lao động ở nước ta Bên cạnh Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan cũng là hai quốc gia chủ chốt mở ra cơ hội việc làm đến cho lao động Việt Nam Đài Loan là thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất và chiếm gần tới 50% lao động đi làm ở nước ngoài Với tình hình kinh tế khó khăn tại thời điểm đó, nhiều doanh nghiệp đã ngưng hoạt động
và phá sản, vì vậy XKLĐ đã giải quyết được lượng lớn số lượng việc làm trong thời gian này4 Năm 2015, số lượng NLĐ đã tăng thêm 9.140 người và đến năm 2016, số lượng NLĐ làm việc ở nước ngoài là 126.289 người, tăng khoảng 20.000 người so với năm 2014 Với mục tiêu lúc đó của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) đó là ổn định các thị trường truyền thống và mở rộng các thị trường có mức thu nhập cao, số lượng đã có sự tiếp tục gia tăng và vượt mức mong đợi ở năm 2017 Đặc biệt, nhu cầu tuyển dụng của các thị trường lớn ngày càng tăng thì đây chính là cơ hội lớn dành cho lao động Việt Nam với đa dạng các ngành nghề Theo Cục Quản lý Lao động ngoài nước (Cục QLLĐNN), nhiều thị trường có nhu cầu tuyển dụng các nhóm ngành nghề mới mà Việt Nam có thể đáp ứng tốt và có nhu cầu đăng ký như y tá, hộ lý và lao động trong một số lĩnh vực khác như nuôi trồng thủy sản, lao động có tay nghề, kỹ thuật
4 Năm 2014: Xuất khẩu lao động đạt kỷ lục, https://baochinhphu.vn/print/nam-2014-xuat-khau-lao-dong-dat-ky-luc-102176827.htm, truy cập ngày 07/06/2022
Trang 6cao… đã tạo thêm vô số cơ hội việc làm cho lao động Việt Nam lựa chọn đi làm việc ở nước ngoài Đồng thời, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong dịch vụ cũng đưa lao động qua nước ngoài làm việc theo hợp đồng và đã tích cực tìm kiếm cũng như phát triển thị trường lao động nước ngoài, đầu tư bài bản để tạo việc làm mới, đào tạo kỹ năng, ngoại ngữ cho người lao động trước khi xuất cảnh Các doanh nghiệp cũng chú trọng tăng cường đầu tư và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự và người hành nghề trực tiếp xuất khẩu lao động
Năm 2018, thị trường Nhật Bản dẫn đầu với 68.737 lao động Việt Nam, tiếp theo là Đài Loan với 60.369, lao động Hàn Quốc là 6.538 người (theo số liệu của Cục QLLĐNN) Đặc biệt trong năm 2018, tổng số lao động Việt Nam thực tập tại Nhật Bản khoảng 126.000 người Việt Nam đã vượt qua Trung Quốc để trở thành quốc gia có số lượng phái cử và số lượng thực tập sinh sang Nhật Bản nhiều nhất trong số 15 quốc gia phái cử Và năm 2019 là năm thứ sáu liên tiếp số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt 100.000 người/năm và là năm thứ tư liên tiếp vượt 120.000 người/năm (năm 2014: 106.840 lao động, năm 2015: 115.980 lao động, năm 2016: 126.289 lao động, năm 2017: 134.751 lao động và năm 2018: 142.860 lao động) bất chấp đại dịch Covid – 19 bùng phát vào cuối năm 20195
Để đạt được mốc 6 năm liên tiếp vượt 100.000 lao động ở nước ngoài, sự quản lý chặt chẽ của nhà nước đóng vai trò rất lớn Nhà nước đã thực hiện thành công và hiệu quả các chính sách cũng như mở rộng và nâng cao việc đưa NLĐ đi làm việc tại nước ngoài Chính phủ đã tập trung vào đào tạo nhân lực tay nghề cao, đẩy mạnh đào tạo về ngoại ngữ, giáo dục và xác định được kế hoạch lâu dài cũng như đầu tư đúng mức Chính phủ cũng thực hiện khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để những thành phần kinh tế và NLĐ tham gia tìm kiếm việc làm ở nước ngoài, vận động, tuyên truyền các bộ, ban, ngành thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức chính trị xã hội hiểu rõ được tầm quan trọng của thị trường XKLĐ đối với tác động, ảnh hưởng của kinh tế - xã hội
1.2 Giai đoạn trong đại dịch Covid – 19 (2020 – 2021)
Sự xuất hiện của đại dịch Covid – 19 đã khiến tình hình XKLĐ của Việt Nam trở nên tồi tệ hơn với việc thâm nhập vào một số thị trường trọng điểm vì hầu hết các quốc gia trên thế giới
“đình chỉ” những hoạt động ở trong nước Do vậy, việc gia nhập vào thị trường lao động nước ngoài của NLĐ Việt Nam trở nên khó khăn hơn và sau khi học nghề, học tiếng cũng như hoàn thành thủ tục xuất cảnh, NLĐ lại phải đồng ý thôi việc và chờ cơ hội đi lao động nước ngoài khi tình hình dịch bệnh ổn định trở lại hơn
Hình 1: Tình hình XKLĐ của Việt Nam năm 2019 đến nửa đầu năm 2021 6
5 [Biểu đồ] Xuất khẩu lao động của Việt Nam vượt mức 100.000 người trong 6 năm liên tiếp (2020), https://kinhtedothi.vn/bieu-do-xuat-khau-lao-dong-cua-viet-nam-vuot-muc-100-000-nguoi-trong-6-nam-lien-tiep.html, truy cập ngày 09/06/2022
6 Labour export restriction exacerbated (Biểu đồ), https://vir.com.vn/labour-export-restriction-exacerbated-84279.html
Trang 7Bộ LĐTBXH đã đứng trước lo ngại rằng không thể hoàn thành chỉ tiêu đưa 90.000 lao động
đi làm việc ở nước ngoài vào năm 2021 Theo Hiệp hội Xuất khẩu Lao động Việt Nam, Việt Nam chỉ đưa được hơn 29.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài vào năm 2021 Cũng theo đại diện của Hiệp hội, do ảnh hưởng của đại dịch nên việc XKLĐ sang Nhật Bản nói riêng từ tháng 2 đến năm 2021 gặp rất nhiều khó khăn Trong số gần 18.200 lao động sang Nhật Bản làm việc trong quý I, hầu hết đã được cấp visa trước đó và đã hoàn thành quy trình theo dõi sức khỏe nghiêm ngặt Ngược lại, Đài Loan được xem là thị trường xuất khẩu lao động tiềm năng cao nhờ kiểm soát dịch bệnh tốt và nhu cầu lao động nước ngoài ngày càng tăng, số lượng lao động Việt Nam tại Đài Loan trong 3 tháng qua đạt hơn 10.300 người, tăng hơn 200 người so với quý I/2020 Ngoài Nhật Bản và Đài Loan, tổng số lao động làm việc tại 15 thị trường còn lại chỉ có 1.748 người Cao nhất là Trung Quốc với 265 người, tiếp theo là Romania với 187 người, Hungary với
183 người và Hàn Quốc là 135 người.Bên cạnh nhu cầu tuyển dụng số lượng lớn lao động phổ thông, các doanh nghiệp Đài Loan cũng sẵn sàng thu xếp chỗ ở cho người lao động khiến thị trường được nhiều người biết đến hơn Trong khi đó, Nhật Bản và Hàn Quốc dù có nhu cầu tuyển dụng mạnh nhưng lại đặt ra yêu cầu cao hơn về trình độ, trong khi hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp vẫn đóng băng Theo Bộ LĐTBXH, đưa lao động ra nước ngoài là một trong những vấn đề nhức nhối sau lĩnh vực hàng không, du lịch và khách sạn, kể từ khi Covid - 19 xuất hiện vào đầu năm 20207
Năm 2020, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chỉ đạt 78.600 người, chỉ bằng 60% kế hoạch chính phủ đề ra và chỉ bằng một nửa so với năm 2019 Nguyên nhân dẫn đến đó là việc các doanh nghiệp, nhà máy ở nước tiếp nhận lao động bị thu hẹp hoặc ngừng sản xuất, phá sản đã có tác động tiêu cực, dẫn đến giảm nhu cầu tuyển lao động từ việt nam Đến năm 2021, tổng số lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài là 45.058 người, chỉ đạt 50,06% so với kế hoạch được lập ra năm 2021 (90.000 lao động), bằng 57,29% so với số lao động xuất cảnh từ năm 2020 Điều này đã tác động sâu rộng đến toàn bộ các khu vực, đặc biệt là các quốc gia và vùng lãnh thổ trọng điểm tiếp nhận lao động
Có thể thấy, đại dịch Covid – 19 đã gây ra sức ép lớn đến thị trường XKLĐ Việt Nam Tuy nhiên, chính phủ cùng các cơ quan ban ngành khác vẫn cố gắng thiết lập kế hoạch và các mục tiêu kiểm soát dịch bệnh hiệu quả Và năm 2021, Việt Nam đã ký gia hạn Bản Ghi nhớ về việc đưa lao động sang làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc (EPS); hoàn thiện hồ sơ, thống nhất nội dung gia hạn Bản Ghi nhớ
7 Xuất khẩu lao động năm 2020: Giảm gần 50% vẫn khó đạt được chỉ tiêu (2020), https://www.vietnamplus.vn/xuat-khau-lao-dong-nam-2020-giam-gan-50-van-kho-dat-duoc-chi-tieu/682135.vnp, truy cập 11/06/2022
Trang 8giữa Việt Nam và Malaysia về tuyển dụng lao động Cùng với đó, báo cáo chính phủ thành lập đoàn và bắt đầu đàm phán thỏa thuận giữa Việt Nam với Israel về việc tuyển dụng người lao động Việt Nam làm việc có thời hạn tại Israel; phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng dự thảo thỏa thuận tuyển dụng lao động giữa Việt Nam và Thái Lan8
2 Thị trường XKLĐ 2022 – điểm khởi sắc cho Việt Nam sau đại dịch
2.1 Kết quả khảo sát thực tế lao động Việt Nam tại nước ngoài
Biểu đồ 1: Khảo sát về sự lựa chọn quốc gia XKLĐ năm 2022
Biểu đồ khảo sát về phần trăm số lượng lao động muốn sang các quốc gia để XKLĐ Có thể thấy, ba nước truyền thống là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) chiếm đa phần hơn so với các thị trường lao động ngoài nước khác là Nga, Đức, Australia và Israel Trước đây
và cả bây giờ, thị trường XKLĐ truyền thống vẫn rất phát triển và những thị trường này tiếp tục
có nhu cầu lớn về tiếp nhận lao động của Việt Nam đặc biệt là ba nước lớn như Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc Khảo sát dựa trên ý kiến của 100 công dân Việt Nam trong độ tuổi từ 19 đến
25 tuổi đang có ý định sẽ sang XKLĐ và số lượng người muốn làm việc tại Nhật Bản chiếm tới 31% Lý do mà họ chọn Nhật Bản là điểm đến hầu như câu trả lời đều là do mức thu nhập trung bình cao hơn và chế độ đãi ngộ hấp dẫn, môi trường làm việc thân thiện an toàn Hàn Quốc cũng chiếm con số khá cao là 28% cũng với lý do là lương cao, học tiếng dễ hơn và là một quốc gia phát triển cũng như các chính sách về bảo vệ con người rất tốt vì chế độ pháp luật ở Hàn rất nghiêm khắc Số lượng người muốn sang Đài Loan để XKLĐ chiếm 19%, đa số đều chia sẻ rằng chi phí đi không quá cao và rẻ hơn khi sang các nước khác cũng như thời gian xuất cảnh được thực hiện nhanh hơn; điều kiện tuyển chọn lao động cũng không quá khắt khe và mức lương cũng hợp lý tùy vào từng loại công việc Các quốc gia còn lại là Australia, Nga, Đức và Israel lần lượt chiếm số lượng là 9%, 6%, 5% và 2%, đa phần chọn Australia do mức lương khá cao và muốn rèn luyện không chỉ về kỹ năng mà còn cả về ngoại ngữ để có thể quay trở lại Việt Nam làm việc sau một thời gian được đào tạo Ba nước còn lại với lý do là yêu cầu tuyển chọn lao động không quá khắt khe, trình độ chuyên môn không cần quá nhiều kinh nghiệm và chỉ cần tốt nghiệp từ cấp trung học trở lên là có thể lao động tại bên các quốc gia đó
8 Labour export restriction exacerbated (2021), https://vir-com-vn.translate.goog/labour-export-restriction-exacerbated-84279.html?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=op,sc, truy cập ngày 11/06/2022
Trang 9Qua cuộc khảo sát, đa phần mọi người lựa chọn XKLĐ vì mức lương cao và chế độ đãi ngộ tốt vì vậy việc bồi dưỡng kiến thức cho lao động Việt Nam về XKLĐ là rất cần thiết NLĐ cũng cần phải hiểu về chế độ luật pháp cũng như các phong tục tập quán của các quốc gia để có thể thích nghi một cách nhanh chóng và hiệu quả chứ không chỉ quan tâm đến mỗi mức lương của quốc gia đó Trong quá trình làm việc và sinh sống, cần phải làm gì để tránh những bất trắc, rủi
ro có thể xảy đến và biết cách tối đa hóa được lợi ích cho bản thân mình
2.2 Thị trường XKLĐ Việt Nam tại Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc
Kể từ sau hơn 2 năm bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid – 19, thị trường XKLĐ đang dần được hồi phục, Bộ LĐTBXH cho biết đang triển khai đồng thời nhiều biện pháp nhằm đạt mục tiêu đưa 90.000 lao động Việt Nam sang làm việc ở nước ngoài vào năm 2022 Trong quý I/2022, với thị trường xuất khẩu lao động có nhiều dấu hiệu khởi sắc, Việt Nam đã đưa được gần 2.500 lao động hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài Trong đó, tổng số lao động đi nước ngoài trong tháng 3/2022 là 1.096 người, chủ yếu là các nước truyền thống Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hungary, Trung Quốc Một thị trường vốn đã tiếp nhận nhiều nguồn lực lao động Việt Nam là Hàn Quốc vừa công bố rằng tổng chỉ tiêu tuyển lao động nước ngoài theo chương trình EPS 2022 so với năm 2021 sẽ tăng 7.000 chỉ tiêu, là 59.000 người Đây là thông tin vô cùng tích cực trong khi bối cảnh trước đó vào năm 2021, số lượng lao động Việt Nam qua Hàn Quốc đã giảm mạnh Do đó, việc tăng lao động sẽ giúp NLĐ có nhiều cơ hội làm việc tại Hàn Quốc hơn Nhiều doanh nghiệp tạo điều kiện đưa lao động sang Nhật Bản cho biết về những lao động đầu tiên xuất cảnh theo chương trình kỹ năng đặc biệt Đây là loại visa dành cho người lao động sang Nhật Bản với tư cách là người lao động làm việc có thời hạn 5 năm và làm việc trong các công ty,
xí nghiệp với mức giá rẻ vì đã được miễn nhiều khoản theo quy định Theo thị thực mới này, nhân viên phải đáp ứng các yêu cầu về kỹ năng và kinh nghiệm cũng như trình độ tiếng Nhật cao Visa kỹ năng này đặc biệt mở ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người lao động Việt Nam tại Nhật Bản với nhiều phúc lợi tốt và mức lương cao hơn9
Từ giữa tháng 2/2022, Đài Loan đã tiếp nhận lao động Việt Nam trở lại và xuất khẩu lao động Việt Nam năm 2022 có thể khởi sắc hơn năm 2021 Hiện thị trường nước ngoài đang dần mở cửa trở lại và nếu tình hình thị trường thuận lợi thì có thể rằng Việt Nam có thể đưa 90.000 lao động
ra nước ngoài Ngày 17/3, Hàn Quốc đã đón gần 100 lao động Việt Nam theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài (gọi tắt là lao động EPS) nhập cảnh tại sân bay quốc tế Incheon Đây cũng là chuyến bay có số lượng lao động EPS nhập cảnh vào Hàn Quốc đông nhất
kể từ khi nước này nối lại tiếp nhận lao động EPS Việt Nam (tháng 5/2021), sau khi tạm dừng từ đầu năm 2020 do ảnh hưởng của đợt bùng phát Covid – 19 Hàn Quốc hiện là một trong những thị trường xuất khẩu lao động quan trọng hàng đầu của Việt Nam Dự kiến số lao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo chương trình EPS sẽ tăng thêm rất nhiều vì dịch bệnh đã giảm đi đáng kể10
KẾT LUẬN
Bên cạnh việc ổn định thị trường lao động truyền thống và tiếp nhận một lượng lớn lao động Việt Nam, Cục QLLĐNN đang từng bước mở rộng sang các thị trường tiềm năng mới như Châu
Âu, Úc, Đức, Israel Hiện tại, Việt Nam cũng như hầu hết các nước, đã thay đổi chính sách để thích ứng với sự bùng phát của dịch Covid – 19, và nhiều nước đã mở cửa trở lại tiếp nhận lao
9 Mở hướng đi mới cho thị trường xuất khẩu lao động (2022), https://baochinhphu.vn/mo-huong-di-moi-cho-thi-truong-xuat-khau-lao-dong-102220410100014165.htm, truy cập ngày 14/06/2022
10 Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu lao động hấp dẫn với lao động Việt (2022), https://tuoitre.vn/han-quoc-la-thi-truong-xuat-khau-lao-dong-hap-dan-voi-lao-dong-viet-20220318140906031.htm, truy cập ngày 14/06/2022
Trang 10động nước ngoài nhằm vực dậy nền kinh tế của họ Các nước châu Âu vẫn sẽ tiếp nhận lao động
từ năm 2021 Hàn Quốc vẫn tiếp nhận lao động trên tàu và tàu đánh bắt xa bờ và ven bờ, nhưng chương trình EPS mới chỉ được chấp nhận từ tháng 5 Vì vậy, để chuẩn bị cho việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi có kết quả làm việc, Bộ LĐTBXH đã thường xuyên trao đổi, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong nước và khu vực để có hướng dẫn, chỉ đạo phù hợp việc tiếp nhận người lao động Với mục tiêu đề ra là hướng tới các thị trường XKLĐ bền vững như Nga, Đức, Israel, liệu mục tiêu này có đáp ứng được con số 90.000 lao động làm việc tại nước ngoài khi khảo sát cho ra con số lao động mong muốn làm việc ở các thị trường lao động truyền thống hơn?
1 Những thành tựu, khó khăn và giải pháp của chính phủ cho thị trường XKLĐ đến nền kinh tế Việt Nam
1.1 Những thành tựu
Mới đây, Bộ LĐTBXH Việt Nam và Bộ Ngoại giao và Thương mại (Australia) đã cùng ký kết bản ghi nhớ giữa hai chính phủ hai nước về hỗ trợ cho công dân Việt Nam tham gia chương trình lao động nông nghiệp tại Australia Australia là nước tiếp nhận lao động nước ngoài với mức lương tốt, hệ thống luật pháp rõ ràng đảm bảo quyền lợi cho NLĐ nhưng yêu cầu về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ rất khắt khe Để làm việc tại Australia, các hình thức và ngành nghề khác nhau (bao gồm cả ngành nông nghiệp) phải đáp ứng nhu cầu của nhiều NLĐ Bản ghi nhớ
đó là văn bản đầu tiên Australia ký kết với các nước đưa người lao động đi làm việc tại đây theo chương trình thị thực nông nghiệp Trước đấy, chính phủ nước Australia đã công bố chương trình thị thực cho lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và chọn Việt Nam trở thành một nước ưu tiên được tham gia sớm chương trình Theo như dự kiến, Australia sẽ tiếp nhận lao động ở Việt Nam
về lĩnh vực nông nghiệp với số lượng khoảng 1.000 lao động/năm với mức lương cơ bản (chưa trừ chi phí sinh hoạt) từ 3.200 - 4.000 AUD/tháng (tương đương với giá trị khoảng 52,8 – 66 triệu đồng/tháng) Đây là một mức chi phí thu nhập được đánh giá là cao so với các quốc gia tiếp nhận lao động khác11
Vào đầu năm 2022, Việt Nam và Malaysia cũng đã ký kết một Bản ghi nhớ về tuyển dụng, việc làm và hồi hương lao động Bản ghi nhớ này chính là sự tiếp nối của bản ghi nhớ lần đầu về tuyển dụng lao động Việt Nam đã được chính phủ hai bên ký vào tháng 12/2003 Từ thời gian đó đến nay, đã có khoảng hơn 100.000 lượt lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia
Trên thực tế, nhiều nhà doanh nghiệp cung ứng lao động gặp phải rất khó khăn trong việc tuyển nhân lực mới để đáp ứng được các nhu cầu của đối tác nước ngoài Nhiều doanh nghiệp đã
bỏ lỡ các hợp đồng hay các đơn hàng có mức chi phí thu nhập cao vì đã không tuyển được lao động phù hợp với yêu cầu của đối tác Thế mạnh của người lao động Việt Nam đó là rất cần cù, chịu khó và thông minh, nhanh nhẹn tuy nhiên, trình độ lao động, còn tuyển nhiều lao động phổ thông, làm những công việc đơn giản với thu nhập không cao
Một số những doanh nghiệp vẫn tuyển lao động tự do và đào tạo một cách ngắn hạn, sơ sài cũng như chưa giáo dục nghề nghiệp kỹ nên một số bộ phận đã vi phạm hợp đồng và vi phạm
11 Australia to receive Vietnamese workers in agricultural sector (2022), https://en.baochinhphu.vn/australia-to-receive-vietnamese-workers-in-agricultural-sector-111220328160820548.htm, truy cập ngày 16/06/2022
12 Khó khăn của lao động Việt Nam (2022), https://tuoitre.vn/xuat-khau-lao-dong-can-lam-gi-de-co-thu-nhap-cao-20220606230852897.htm, truy cập ngày 16/06/2022