1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TIỂU LUẬN CNXH KH Đề tài PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ TƢ DUY BIỆN CHỨNG SỰ VẬN DỤNG CỦA LÝ THỊ KIM ĐỨC LỚP MARKETING 63B Tác giả Lý Thị Kim Đức Mã sinh v[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN CNXH KH
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ TƯ DUY BIỆN CHỨNG- SỰ VẬN DỤNG CỦA
LÝ THỊ KIM ĐỨC LỚP MARKETING 63B
Tác giả: Lý Thị Kim Đức
Mã sinh viên: 11217235
Mã học phần: LLNL1105_26 Lớp chuyên nghành: Marketing 63B Khoa: Marketing
GVHD: TS Lê Ngọc Thông
Lạng Sơn,tháng 12, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
I.PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG
1 Khái niệm biện chứng, phép biện chứng
2 Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
II.PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.Phép biện chứng duy vật
2.Những đặc trƣng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật
3 Những nội dung chính của phép biện chứng duy vật
III TƢ DUY BIỆN CHỨNG
1,Khái niệm
2,Các hình thức và các quy luật của tƣ duy
IV.VAI TRÒ VÀ SỰ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ TƢ DUY BIỆN CHỨNG VÀO HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN
1, Vai trò của phép biện chứng và tƣ duy biện chứng
2, Sự vận dụng vào thực tiễn của bản thân
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tri thức, cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sinh viên cần phải không ngừng nâng cao năng lực bản thân, không những giỏi về chuyên môn mà còn đòi hỏi khả năng vận dụng tri thức khoa học vào giải quyết những vấn đề trong đời sống thực tiễn một cách tối ưu và đạt hiệu quả nhất Phép biện chứng duy vật và năng tư duy biện chứng có vai trò to lớn đối với nhận thức và hoạt động của sinh viên nói riêng và toàn nhân loại nói chung Việc nghiên cứu phép biện chứng và nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên là vấn
đề quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, giúp sinh viên có tư duy khoa học trong quá trình học tập và làm việc sau này Cụ thể là, nó giúp sinh viên khắc phục lối tư duy siêu hình, phiến diện… nhìn nhận, xem xét sự việc một cách đúng đắn, lý trí, tránh sự phỏng đoán thiếu cơ sở khoa học và nguy cơ rơi vào ảo tưởng; nhìn nhận đối tượng một cách khách quan và khoa học,đồng thời giúp việc học tập và nghiên cứu các môn khoa học khác có hiệu quả hơn và
có khả năng gắn kết lý luận với việc học tập thực tiễn Vì vậy việc nghiên cứu
chủ đề “ Phép biện chứng và tư duy biện chứng – sự vận dụng của Lý Thị Kim Đức lớp Marketing 63B” sẽ phần nào giúp sinh viên xây dựng được năng lực tư
duy, nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện hơn
Do còn thiếu kinh nghiệm nên khó tránh khỏi còn nhiều thiếu xót em rất mong
sẽ nhận được sự nhận xét và góp ý của thầy để em rút kinh nghiệm cho những lần sau
Em xin cảm ơn thầy!
Trang 4I,PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN CỦA
PHÉP BIỆN CHỨNG
1 Khái niệm biện chứng, phép biện chứng
Biện chứng là khái niêm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác,
chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan
*Biện chứng khách quan( Biện chứng tự nhiên): là biện chứng của
bản thân thế giới tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người
* Biện chứng chủ quan( Tư duy biện chứng):Là biện chứng của tư
duy, sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế
giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Với nghĩa như vậy, phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan, đồng thời nó cũng đối lập với phép siêu hình – phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập và bất biến
2 Lịch sử phát triển của phép biện chứng
Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức cơ bản
(1) Phép biện chứng tự phát thời cổ đại
Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” và “ngũ hành luận” của Âm dương gia Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học phật giáo, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, „nhân duyên”… Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện một cách sâu sắc tinh thần của phép biện chứng tự phát Tuy nhiên, những tư tưởng biện chứng đó về căn bản vẫn còn mang tính ngây thơ, chất phác, tự phát và trừu tượng
Trang 5Phép biện chứng chất phác cổ đại nhận thức đúng về tính biện chứng nhưng bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, ngây thơ, không phải dựa trên những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên
Từ cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi sâu vào phân tích, nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của thế giới tự nhiên, dẫn tới sự ra đời của phương pháp siêu hình Đến thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị trong tư duy triết học và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, khi khoa học tự nhiên chuyển từ việc nghiên cứu đối tượng riêng biệt sang nghiên cứu quá trình thống nhất của các đối tượng đó trong mối liên hệ thì phương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợp mà phải chuyển sang một hình thức tư duy mới cao hơn là tư duy biện chứng
(2) Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Kant và hoàn thiện ở Hégel Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống
Trong triết học nhị nguyên của Kant, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về
sự thống nhất giữa các mặt đối lập, theo đó, sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập (lực hút và lực đẩy) là động lực của sự vận động, phát triển và động lực đó có trước vật chất; vận động tách rời vật chất Trong triết học duy tâm chủ quan của Phíchtơ, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng cho rằng, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển Mâu thuẫn và phát triển chỉ tồn tại trong ý thức, mâu thuẫn thể hiện sự vận động tiến bộ của tư duy trong quá trình nhận thức Trong triết học duy tâm khách quan của Sêlinh, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và về sự phát triển; tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tự nhiên, về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong tự nhiên
Về hình thức, phép biện chứng của Hêghen đã bao quát cả ba lĩnh vực, bắt đầu
từ các phạm trù lôgíc đến lĩnh vực tự nhiên, tinh thần và kết thúc bằng biện chứng của toàn bộ quá trình lịch sử Tính chất duy tâm trong triết học Hégel biểu hiện ở chỗ ông coi biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đôí”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan Theo Hégel, “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới
tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần “Tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm” Các nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao nhất là Hégel, đã xây dựng phép
Trang 6biện chứng duy tâm với hệ thống phạm trù, qui luật chung, có logic chặt chẽ của
ý thức, tinh thầnỞ Hégel, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”
Sự cống hiến của phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức là họ đã
áp dụng phép biện chứng vào nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội và qua đó đã xây dựng được hệ thống phạm trù, quy luật có lôgíc chặt chẽ của nhận thức tinh thần, và trong một ý nghĩa nào đó, là của cả hiện thực vật chất Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã tạo ra bước quá độ chuyển biến về thế giới quan và lập trường từ chủ nghĩa duy vật siêu hình sang thế giới quan khoa học duy vật biện chứng
Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức, cũng như trong triết học Hégel là hạn chế cần phải vượt qua Mác và Ăngghen đã khắc phục hạn chế đó
để sáng tạo nên phép biện chứng duy vật Đó là giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa trên tinh thần phê phán đối với phép biện chứng cổ điển Đức
(3) Phép biện chứng duy vật
Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức, cũng như trong triết học Hêghen là hạn chế cần phải vượt qua C.Mác và Ph Ăngghen đã khắc phục , loại bỏ đi những tính chất thần bí và giữ lại những ưu điểm của phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức để hình thành nên nên phép biện chứng duy vật ngày nay Đó là giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa trên tinh thần phê phán đối với phép biện chứng cổ điển Đức.Ngoài ra sự ra đời của phép biện chứng duy vận còn là sự kế thừa những yếu tố tích cực của các lĩnh vực khoa học khác như trong lịch sử học, xã hội học Phép biện chứng duy vật được Các Mác và Anghen xây dựng và sau đó được Lê-nin phát triển
II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Khái niệm phép biện chứng duy vật
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng…là môn khoa học về những qui luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Trang 7Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac-Lênin còn có một số định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật
Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”
Trong khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển Lênin đã khẳng định: “Trong số những thành quả đó thì thành quảchủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”…
2 Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật
Xét từ góc độ kết cấu nội dung, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin có hai đặc điểm cơ bản sau đây:
- Phép biện chưng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học
=> Với đặc trưng này, phép biện chứng duy vật chẳng những có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của Hégel mà còn có sự khác biệt về trình độ phát triển so với nhiều
tư tưởng biện chứng đã từng có trong lịch sử triết học từ thời cổ đại
- Trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan và phương pháp luận, do đó, nó không dừng lại
ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Mỗi nguyên lý, qui luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới Trên
cơ sở khái quát các mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những qui luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin cung cấp những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, đó không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận khách quan mà còn là phương pháp luận toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể, phương pháp luận phân tích mâu thuẫn nhằm tìm ra nguồn gốc, động lực cơ bản của các quá trình vận động phát triển,…
Trang 8=> Với tư cách đó, phép biện chứng duy vật chính là công cụ vĩ đại để giai cấp cách mạng nhận thức và cải tạo thế giới
Với những đặc trưng cơ bản đó mà phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mac-Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mac-Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học
3, Những nội dung chính của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật đã đề ra ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là:
+Mối liên hệ cùng tồn tại và phát triển
+ Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau
+ Mối liên hệ chuyển hóa vận động và phát triển
Các mối liên hệ này đã được làm rõ hơn trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là:
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến;
- Nguyên lý về sự phát triển
Ngoài ra những mối liên hệ trên còn được cụ thể hóa bằng những quy luật căn bản :
* Khái niệm quy luật: Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi
sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng
-Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
- Quy luật phủ định của phủ định
Các nguyên lý và quy luật trên của thế giới khách quan không chỉ được khái niệm khái quát hóa mà nó còn được các nhà triết học nghiên cứu đưa ra những tiền đề lý luận và các các tính chất, ý nghĩa phương pháp luận của chúng để làm
Trang 9rõ hơn những mối liên hệ đó Ngoài những nguyên lý về các quy luật được rút
ra từ những mối liên hệ này các nhà triết học còn phát triển và đặt ra sáu các cặp phạm trù đó là :
Phạm trù: Phạm trù là những khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định
Sáu cặp phạm trù: Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả ;Cặp phạm trù cái riêng cái chung; cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên; cặp phạm trù nội dung- hình thức ; cặp phạm trù bản chất- hiện tượng và cặp phạm trù khả năng và hiện thực
Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, lý luận nhận thức (hay nhận thức luận) là một nội dung cơ bản của phép biện chứng Đó là lý luận nhận thức duy vật biện chứng, tức là học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn; lý giải bản chất, con đường và quy luật chung của quá trình con người nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn của con người
III TƯ DUY BIỆN CHỨNG
1,Định nghĩa:
Tư duy biện chứng là một hệ thống các nguyên tắc, các yêu cầu nền tảng
được rút ra từ phép biện chứng mà trước hết là biện chứng của tư duy Sự vân động của tư duy thường được xét bởi các hình thức và quy luật của tư duy
2,Các hình thức và các quy luật của tư duy
a, Các hình thức của tư duy: Tư duy có ba hình thức cơ bản:
Tư duy: Là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem
những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với
nó
Phán đoán: Phản ánh về sự tổn tại hay không tổn tại của một thuộc tính hay một
mối liên hê nào đó Về thực chất, phán đoán được hình thành trên cơ sở liên kết
Trang 10các khái niêm với nhau để khẳng định hay phủ định sự tổn tại của đối tượng, thuộc tính hay những mối liên hê của nó
Suy lí: Rút ra một phán đoán mới (gọi là kết luận) từ một hay nhiều phán đoán
sẵn có (gọi là tiền đề)
b, Các quy luật của tư duy:
Quy luật đồng nhất: Phản ánh tính ổn định, xác định của tư duy Điều này có
nghĩa là, trong quá trình hình thành , một tư tưởng (khái niệm, phán đoán, lý thuyết, giả thuyết, …) có thể thay đổi, nhưng khi đã hình thành xong thì không được thay đổi nữa Đó là điều kiện cần thiết cho mọi quá trình tư duy.Nội dung của quy luật đồng nhất gồm hai yêu cầu sau:
+ Một từ chỉ được dùng trong suy luận với một nghĩa duy nhất Không được phép dùng một từ hoặc một biểu thức ngôn ngữ nói chung với hai hoặc nhiều nghĩa khác nhau trong cùng một suy luận Có nghĩa là trong nhiều quá trình tư duy khác nhau có thể dùng một từ với nghĩa khác nhau tuy nhiên trong một quá trình tư duy thì từ đó chỉ được mang một nghĩa duy nhất
+ Những từ ngữ khác nhau nhưng có nội dung như nhau, những tư tưởng tương đương với nhau về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có giá trị chân lý như nhau, phải được đồng nhất với nhau trong quá trình suy luận
VD: Quang Trung và Nguyễn Huệ là cùng một người, tuy nhiên nếu ta không đồng nhất Quang Trung và Nguyễn Huệ thì người khác sẽ nhầm tưởng là hai người khác nhau
Quy luật không mâu thuẫn: Hai phán đoán, nhận định mâu thuẫn nhau, trái
ngược nhau không thể nào cùng đúng Trong hai phán đoán, nhận định như vậy
có ít nhất là một phán đoán, nhận định sai.Phản ánh tính chất không mâu thuẫn của quá trình tư duy Trong quá trình tư duy không thể chứa mâu thuẫn trực tiếp hay gián tiếp.Việc rèn luyện tư duy sẽ giúp ta nâng cao khả năng phát hiện ra những mâu thuẫn trong suy luận của mình cũng như của người khác
VD: Trong câu hỏi “ Cái áo này màu xanh hay màu cam?” bạn A và B trả lời mỗi người một đáp án khác nhau nên trong hai câu trả lời đó nhất định sẽ có một câu trả lời sai