ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ CHỦ ĐỀ 4 CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO Giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Kim Nhung Học phần Chính sách xã hội Mã học phần SOC1151.
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ CHỦ ĐỀ 4: CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Kim Nhung
Học phần: Chính sách xã hội
Mã học phần: SOC1151 2
Nhóm: 1
Các thành viên: Hoàng Kim Ngân - 20030497
Nguyễn Thị Thúy Nga - 20030496 Trần Bảo Ngọc - 19030467
Trần Thanh Đạt - 20030447 Nguyễn Thị Minh Anh - 19030415
Hà Nội, 2022.
MỤC LỤC
Trang 3Tên đề tài: Chính sách hỗ trợ người nghèo là dân tộc thiểu số tại các vùng sâu vùng xanhằm giảm vấn đề nghèo đa chiều.CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH GIẢM
NGHÈO
I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Quan điểm của Đảng về chính sách xóa đói giảm nghèo:
Trong quá trình thực hiện đổi mới từ năm 1986 đến nay, mục tiêu xóa đói giảm nghèoluôn được Đảng cộng sản Việt Nam đặt lên hàng đầu Tại Đại hội VI, chủ trương củaĐảng là trong vòng 5 năm từ 1986 – 1990 tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm đểđảm bảo nhu cầu ăn uống của xã hội
Đại hội toàn quốc lần thứ 7 của Đảng thông qua với chiến lược ổn định và phát triểnkinh tế xã hội đến năm 2000, đã đưa đất nước dần thoát khỏi tình trạng kiệt quệ, suy thoáinền kinh tế
Thông qua các đại hội 8,9,10 của Đảng tiếp tực thực hiện các chính sách nhằm nângcao vấn đề xóa đói giảm nghèo, đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện xóađói giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và sử dụng có hiệu quả sự trợ giúpcủa quốc tế
Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo ở vùng sâuvùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Phát triển giáo dục dạy nghề và giải quyết vấn đề việclàm xóa đói giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện giúp người đã thoát nghèo vươn lên làmgiàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo
Nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và tiếp tục pháttriển kinh tế
2. Mục tiêu của chính sách giảm nghèo
Giảm tỷ lệ hộ nghèo đói trong tổng số hộ của cả nước xuống còn 10% vào năm 2000
Trang 4Nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc ở các xã đặc biệtkhó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để thoát khỏinghèo nàn.
Tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệptheo hướng sản xuất gắn với thị trường Cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thầncho các đồng bào dân tộc ở vùng khó khăn một cách bền vững, giảm khoảng cách pháttriển giữa các vùng miền với nhau
Thực hiện giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu tăngtrưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội
3. Giải pháp cơ bản:
Các giải pháp gắn được điều chỉnh gắn với các giai đoạn phát triển của đất nước:Giai đoạn 1998 – 2000: Đầu tư cơ sở hạ tầng, sắp xếp dân cư, hỗ trợ sản xuất pháttriển ngành nghề, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo.Giai đoạn 2001 – 2005 có 2 nhóm giải pháp cơ bản: hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo
về y tế, giáo dục, an sinh xã hội, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, trợ giúp về nhà ở,công cụ lao động và sản xuất Phát triển kinh tế xã hội, ổn định giải quyết việc làm, đẩymạnh xuất khẩu lao động
Giai đoạn 2016 – 2020:
- Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở các huyện nghèo, các xã khó khăn, vùng bãi ngang venbiển và hải đảo
- Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo
- Hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Trang 5chức khác nhau từ Trung ương đến địa phương, Bộ Lao động – Thương binh và Xãhội có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo.
Trong bối cảnh hiện nay có một số vấn đề cần đặt ra mà chính phủ cần đặc biệtquan tâm, đó là:
- Kết quả giảm nghèo còn chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao
- Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền còn lớn
- Khoảng cách phát triển giữa các địa phương, vùng miền còn chưa đồng đều, nhiềuchênh lệch
- Gia tăng sự bất bình đẳng về thu nhập và mức sống của người dân
- Vẫn còn một số chính sách chưa phù hợp với đặc thù của một số vùng miền
- Sự chủ động thoát nghèo, phát huy nội lực của các hộ nghèo còn hạn chế, chưa tạođược sự chuyển biến mạnh mẽ ở khu vực khó khăn
Nhóm nhận thấy trong bối cảnh hiện nay, thực trạng giảm nghèo đối với ngườidân tộc thiểu số đang được coi là nhức nhối nhất, do vị trí địa lý, phong tục tậpquán, tốc độ sản xuất, phát triển tại vùng sâu vùng xa còn gặp rất nhiều hạnchế, điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, trong khi đó ngânsách nhà nước lại hạn chế, không hỗ trợ được đầy đủ toàn diện Chính vì thế,người dân tộc thiểu số được coi là nhóm nghèo đa chiều do thiếu thốn về đủ
mọi mặt từ tinh thần đến vật chất Nhóm xin phép chọn đề tài “Chính sách hỗ
trợ người nghèo là dân tộc thiểu số tại các vùng sâu vùng xa nhằm giảm vấn
đề nghèo đa chiều.”
Trang 6Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thôngqua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầutối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thìđược đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủquy định Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy
đủ Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của conngười, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp Có nhiều nhu cầu tối thiểukhông thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khótiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin Mặc dù một số hộ không cótên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâuvùng xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó, nếuchỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đốitượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chínhsách giảm nghèo
Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều Trong cùngmột thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể lànhững khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điệnthắp sáng
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thunhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bấthạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều.Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đếntình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và dovậy bị tước đi các quyền con người cơ bản
Để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đồng thời phát triển kinh
tế và ổn định xã hội Đảng Nhà nước và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng
để hiện thực hóa trong cuộc sống, với hệ thống các chương trình, chính sách, từ nhữngchương trình, chính sách mà tên gọi đã trở nên rất đỗi thân quen, gần gũi như “134",
Trang 7"135" Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
Có thể khẳng định, chủ trương, chính sách về giảm nghèo bền vững được Đảng vàNhà nước ta tập trung quan tâm nhất đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, với mong muốnrút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc: giảm dần vùng đặc biệt khó khăn; từngbước hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học vùng đồng bào dân tộc thiểusố; phát triển nguồn nhân lực và tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số; củng cố hệ thống chính trị cơ sở; giữ vững khốiđại đoàn kết các dân tộc, đảm bảo ổn định an ninh, quốc phòng
Căn cứ vào các bối cảnh của người nghèo ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, nhómnhận thấy chính sách giảm nghèo của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bềnvững giai đoạn 2016-2020 là phù hợp nhất
2. Thực trạng người nghèo là dân tộc thiểu số tại các vùng sâu vùng xa:
Trong giai đoạn 2016-2020, đã đưa tỷ lệ nghèo từ 9,88% (năm 2015) còn 3,75%vào năm 2019 và dự kiến dưới 3% trong năm 2020, đưa Việt Nam thành một quốc giađầu tiên về đích trước Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc về giảm nghèo Đếnnay 100% các xã đã có đường ô tô đến trung tâm, 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện.100% đồng bào DTTS và người nghèo có bảo hiểm miễn phí Tỷ lệ hộ nghèo tăng lên, sốngười được hưởng lợi chính sách giảm nghèo tăng lên
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thủ tướng nhấn mạnh, giảm nghèo chưa thật sựbền vững, dễ tái nghèo, chênh lệch giàu nghèo giữa vùng, các nhóm dân cư chưa đượcthu hẹp Nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50% Tỷ lệ hộ nghèo vùng DTTS chiếm còncao Chuẩn thu nhập trong chuẩn nghèo hiện nay chỉ bằng 45% chuẩn mức sống tối thiểu,chưa được điều chỉnh kịp thời Một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với địa bàn nghèo,khu vực miền núi, vùng đồng bào DTTS chưa hiệu quả [1]
Vấn đề nghèo thu nhập lại có dấu hiệu tăng lên đáng kể trong đại dịch Covid-19,đặc biệt với nhóm di cư và dân tộc thiểu số Tỷ lệ nghèo đói giảm nhưng vẫn còn cao ở
Trang 8một số nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, chẳng hạn như tỷ lệ nghèo ở dân tộc H'Mông vẫn
ở mức cao, 45,1% vào năm 2020 Tương tự 1/5 người Khmer, Dao và các đồng bào dântộc thiểu số khác thuộc diện nghèo đa chiều năm 2020
Cả hệ thống chính trị, cả xã hội cùng vào cuộc để triển khai các chương trình hỗtrợ giảm nghèo, số tiền 120.000 tỷ đồng mỗi năm của Nhà nước chính là để tạo điều kiệncho hộ nghèo cả nước vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống
Ở vùng cao đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, tư tưởng muốn làm hộnghèo khá phổ biến Với không ít hộ, để “được” là hộ nghèo, phải “phấn đấu”, “vào”nhưng không muốn “ra”
Tình trạng thoát nghèo của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số thiếu bền vững hơn sovới nhóm người Kinh - Hoa: 20% nhóm đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo giai đoạnnăm 2016 đã tái nghèo vào năm 2018, trong khi tỷ lệ này của nhóm người Kinh-Hoa chỉ
là 7,6%
3. Nguyên nhân
3.1 Nguyên nhân lịch sử, khách quan:
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua chiến tranh lâu dài và giankhổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, đồng ruộng bị bỏ hoang và nguồn nhân lực chính bị giảmsút Sau chiến tranh, nhà nước áp dụng các chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạocông thương nghiệp,…đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế Việt Nam
Điều kiện tự nhiên: Sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam cũng phụ thuộc nhiều
vào điều kiện tự nhiên, phân hóa theo các vùng miền Ở những vùng điều kiện tự nhiênđất đai, địa hình, thời tiết, khí hậu thuận lợi thì tỷ lệ người nghèo sẽ ít hơn những vùngsâu vùng xa, vùng điều kiện khó khăn, thường xuyên xảy ra thiên tai
3.2 Nguyên nhân chủ quan:
Đa số người nghèo sống ở các vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và địa lý cách biệt như vùng núi, vùng sâu vùng xa và những nơi này cơ sở hạ tầng phát triển kém, bị tách biệt với các vùng khác Bên cạnh đó, người nghèo phổ biến là những hộ có quy mô quy
Trang 9mô gia đình lớn, có nhiều con và tuổi còn nhỏ Một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ sinh cao là do họ không có kiến thức và điều kiện tiếp cận các biện pháp sức khỏe sinh sản.
- Trình độ học vấn: Các hộ nghèo đói thường có học vấn thấp, số người chưa bao
giờ đến trường chiếm tỷ lệ cao và họ thường không được đào tạo nghề nghiệp Dotrình độ học vấn thấp nên họ ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định, do đó
mà thu nhập bấp bênh và rất thấp so với mức lương trung bình của cả nước
- Nguồn lực hạn chế: Các hộ nghèo ở nước ta cũng đối mặt với trình trạng thiếu
đất, thiếu vốn và không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất như khuyếnnông, phòng dịch bệnh, hệ thống thủy lợi,…khiến cho việc canh tác sản xuất kémhiệu quả
- Nguy cơ dễ bị tổn thương: Người nghèo rất dễ bị tổn thương vì họ còn phải đối
mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống và sản xuất Khi chưa có các thiết chế phòngngừa hữu hiệu, họ dễ tái nghèo trở lại
- Bên cạnh đó, nguyên dân còn là do tâm lý ỷ lại và thiếu ý thức vươn lên trong
cuộc sống khiến cho những hộ nghèo này không thể thoát nghèo mà thậm chí cònkéo theo cả thế hệ con cái cũng rơi vào tình trạng tương tự
4. Hệ quả:
4.1. Đối với người nghèo:
Tình trạng đói nghèo đã dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực đối với chính bản thânnhững người nghèo, tình trạng thiếu lương thực buộc một bộ phận dân cư nào đó không
có thang giá trị cân bằng, trở thành tội phạm
Sống trong nghèo đói ảnh hưởng đến trạng thái sức khỏe của con người, cả về tìnhcảm hoặc tâm lý
Việc ăn uống thiếu lành mạnh khiến cho sức khỏe của người dân tộc thiểu số bịsuy giảm, việc thiếu thuốc men và không được tiếp cận với các dịch vụ y tế tư nhân màmột dịch vụ công không cung cấp để được theo dõi chăm sóc, mức độ nghèo của dân sốthậm chí còn cao hơn, khiến tình trạng sức khỏe của những cư dân chìm đắm trong vấn
đề này trở nên rất nghiêm trọng và đôi khi gây tử vong
Trang 104.2. Với gia đình người nghèo
Các gia đình bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi vấn đề này là những gia đình khôngđược tiếp cận với các nhu cầu thực phẩm cơ bản, như trường hợp của các sản phẩm vệsinh cá nhân
Nghèo đói ở trẻ em cũng là một hậu quả của nghèo đói, điều này có nghĩa là trongmột số gia đình, người lớn hy sinh ba bữa ăn hàng ngày của họ thành một hoặc không đểdành cho những đứa trẻ nhỏ, nhưng tình trạng suy dinh dưỡng vẫn còn ở một số thànhphần trẻ em trong dân số
4.3. Với toàn xã hội
- Một là, đối với an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội:
Đói nghèo ngày nay trở thành vấn đề về kinh tế - xã hội, nó vừa là lực cản vừa là sựthách thức trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Đóinghèo tác động vào các quan hệ xã hội, nhất là các tầng lớp khó khăn đang trong tìnhtrạng nghèo khổ Đói nghèo cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến phát sinh các tệ nạn xãhội như: cờ bạc, trộm cắp, gây hậu quả và tác động tiêu cực đến an ninh trật tự, an toàn
xã hội Đói nghèo thường đi đôi với thất học, mù chữ, thiếu hiểu biết, không có điều kiện
để tiếp thu nền văn minh, sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, từ đó dễ bị kẻ xấu, bọnphản động lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ gây mất an ninh và ổn định chính trị
- Hai là, đối với chất lượng cuộc sống và môi trường sống:
Nghèo đói sẽ làm cho chất lượng cuộc sống của con người không đảm bảo Trong cácbữa ăn của người nghèo thường không đảm bảo năng lượng, từ đó dẫn đến thiếu chấtdinh dưỡng và suy dinh dưỡng Trong hoàn cảnh nghèo đói thì người nghèo, hộ nghèoluôn phải vật lộn với cuộc sống để mưu sinh Thông thường 3/4 hoặc 4/5 thu nhập của họ
có được chi cho lương thực, thực phẩm, những bữa ăn của họ rất đơn điệu, chủ yếu là ngũcốc, sắn khoai, rau mắm Ví dụ như ở trên Hà Giang thì người dân tộc thiểu số thường ăncơm trộn chung với mèn mén Nếu như trong bữa ăn của họ có được một ít thịt, cá thìđược xem là thực phẩm cao cấp nhưng rất ít khi họ có được Với điều kiện ăn uống như
Trang 11vậy, đa số người nghèo đều bị thiếu dinh dưỡng, năng lượng, sức lực bị suy kiệt, kết quảlao động giảm sút, hệ miễn dịch kém, sự phát triển về thể lực, trí lực, nhất là ở trẻ em bịsuy giảm, thiếu những điều kiện cơ bản trong học tập.
- Ba là, đối với bình đẳng xã hội:
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay, sự phát triển về kinh tế tất yếudẫn đến phân hóa về thu nhập, mức sống, phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo Phânhóa giàu nghèo là biểu hiện rất rõ của bất bình đẳng xã hội Chính phân hóa giàu nghèo
đã chia thế giới thành các nước giàu, nước nghèo và ngay trong mỗi quốc gia, mỗivùng, cũng chia thành người giàu, người nghèo
- Bốn là, đối với sự phát triển của xã hội, quốc gia, dân tộc:
Người nghèo, hộ nghèo ít có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh doanh để làm giàu dothiếu vốn, thiếu kiến thức, thiếu thông tin Con em của người nghèo, hộ nghèo, thường ít
có điều kiện học tập ở trình độ cao, do đó ít có cơ hội để kiếm được việc làm có thu nhậpcao, ít có cơ hội thăng tiến trong xã hội
III QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC VÙNG SÂU, VÙNG XA:
1. Các văn bản chính sách hiện có.
Mục tiêu giảm nghèo được đề cập trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giảmnghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 Đó là thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững,hạn chế tái nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xãhội, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo vùng dân tộc thiểu số
Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh) đã ban hành nhiều nghị quyết, kếhoạch, đề án, cơ chế chính sách và các văn bản hướng dẫn thực hiện của địa phương đểthực hiện Chương trình:
Trang 12- Ban hành nghị quyết của Tỉnh Ủy, HĐND tỉnh và Kế hoạch của UBND tỉnh vềthực hiện Chương trình giai đoạn 2016-2020;
- Thành lập BCĐ các CTMTQG tại địa phương (căn cứ Quyết định số41/2016/QĐ-TTg, Quyết định số 1722/QĐ-TTg);
- Xây dựng tiêu chí phân bổ vốn, bố trí vốn ngân sách nhà nước thực hiện Chươngtrình trung hạn và hàng năm cho các cấp địa phương; hướng dẫn cơ chế lồng ghép vốn,
sử dụng nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện Chương trình (căn cứ Quyết định số48/2016/QĐ-TTg);
- Hướng dẫn lập kế hoạch thực hiện Chương trình có sự tham gia trên địa bàn cấp
xã (căn cứ Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg, Thông tư số 01/2017/TT-BKHĐT);
- Quy định cụ thể về cơ chế phân cấp thực hiện Chương trình tại địa phương (căn
cứ Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg và các văn bản liên quan)
- Ban hành danh mục công trình áp dụng cơ chế đặc thù, ban hành thiết kế mẫu,thiết kế điển hình (căn cứ Nghị định số 161/2016/NĐ-CP);
- Xây dựng định mức hỗ trợ sử dụng vốn sự nghiệp, trong đó có định mứcHTPTSX và NRMHGN (UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành, căn cứ Thông tư số15/2017/TT-BTC)
Đến nay, 100% các tỉnh đã ban hành Nghị quyết, Kế hoạch giảm nghèo, thành lậpBCĐ, ban hành quy chế quản lý điều hành CTMTQG; 42 tỉnh ban hành Quy định nguyêntắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn, 9 tỉnh áp dụng quy định của Trung ương và 12 tỉnh
tự cân đối ngân sách và không được bố trí vốn từ Trung ương; hơn 20 tỉnh ban hành danhmục áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị định số 161/2016/NĐ-CP; 100% các tỉnh có quyđịnh về định mức hỗ trợ và hướng dẫn thực hiện các tiểu dự án HTPTSX, duy tu bảodưỡng công trình
Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lạiphía sau”, tất cả 63 tỉnh trên cả nước đã ban hành các chính sách hỗ trợ đặc thù của địa
Trang 13phương (ngoài nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu) để hỗ trợ cho địa bànnghèo, cho đối tượng hộ nghèo/cận nghèo/thoát nghèo và người khó khăn.
- Chính sách hỗ trợ thẻ BHYT cho hộ cận nghèo; hộ nghèo thiếu hụt đa chiều;người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trungbình; hộ thoát nghèo cam kết thoát nghèo bền vững; học sinh, sinh viên
- Chính sách hỗ trợ giáo dục: hỗ trợ kinh phí học tập, sách giáo khoa, vở viết chohọc sinh, sinh viên của hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ nghèo cam kết thoát nghèo, hộ DTTS,
hộ có người bị HIV, trẻ mồ côi không có nguồn nuôi dưỡng
- Chính sách tín dụng: Cho vay ưu đãi (vốn ủy thác từ ngân sách địa phương) hoặc
hỗ trợ lãi suất vay vốn của hộ nghèo, cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, cácđối tượng chính sách khác, hộ mới thoát nghèo để sản xuất kinh doanh, đi làm việc cóthời hạn ở nước ngoài
- Chính sách HTPTSX, đa dạng hóa sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mớithoát nghèo
- Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo;
- Chính sách hỗ trợ đất ở cho hộ nghèo;
- Chính sách hỗ trợ hệ thống nước sinh hoạt;
- Chính sách hỗ trợ học nghề, đào tạo nghề, hỗ trợ tạo việc;
- Hỗ trợ lao động đi làm việc ở nước;
- Chính sách cho cán bộ, cộng tác viên làm công tác giảm nghèo cấp xã;
- Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững bằng cách hỗ trợ cho hộ mớithoát nghèo
Nhóm nhận thấy trong chính sách của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảmnghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, thì người nghèo ở vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu
Trang 14cần thiết nhất về chính sách hỗ trợ tín dụng của nhà nước Chính sách hỗ trợ tín dụng đốivới người dân tộc thiểu số trong Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bênvững giai đoạn 2016 – 2020 đã đạt được kết quả khả quan như sau:
Ngân hàng Chính sách xã hội coi việc tăng cường nguồn vốn đầu tư, nâng caohiệu quả vốn tín dụng chính sách góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, tạo việc làm, tăng thunhập, nâng cao đời sống người dân là nhiệm vụ hàng đầu tại các xã đang xây dựng nôngthôn mới Trong năm 2017, tổng doanh số cho vay cho các xã này đạt gần 34.000 tỷđồng, chiếm trên 61% tổng doanh số cho vay của NHCSXH; tổng dư nợ các xã nôngthôn mới đạt 108.815 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 63,3% tổng dư nợ
Trong những năm tới, Ngân hàng Chính sách xã hội bảo đảm 100% người nghèo
và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu và đủ điều kiện đều được tiếp cận các sảnphẩm, dịch vụ do Ngân hàng Chính sách xã hội cung cấp Tập trung huy động nguồn lực
và tổ chức triển khai cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, các xã vùng đồngbào dân tộc thiểu số, huyện nghèo, xã nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bảnđặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo
Ngoài ra, Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục phối hợp, lồng ghép có hiệu quảhoạt động tín dụng chính sách xã hội với hoạt động của của tổ chức chính trị - xã hộinhằm mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, bảo đảm an sinh xã hội Phối hợp hiệuquả các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư, hỗ trợ kỹ thuật,chuyển giao khoa học công nghệ, tiêu thụ sản phẩm Tăng cường công tác tuyên truyền
để mọi người dân đều biết, nhân rộng mô hình thoát nghèo gắn kết với cộng đồng dân cưtrên địa bàn, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vữngcủa Chính phủ
2. Đánh giá các chính sách hiện có:
2.1 Ưu điểm
Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã góp phần giúp hộ DTTS phát triển sảnxuất, nâng cao đời sống và thoát nghèo, trong đó: có trên 2 triệu hộ thoát nghèo, thu hút