1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN ĐỀ 2 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

34 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên Đề 2 Tổng Quan Về Khoa Học Quản Lý Và Quản Lý Giáo Dục
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Quản lý và Quản lý Giáo dục
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 415,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 CHUYÊN ĐỀ 2 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Số tiết học 15 A Mục tiêu của chuyên đề Sau khi học chuyên đề này, người học có khả năng Kiến thức Phân biệt được lãnh đạo và quản lý Tó.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 2 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Số tiết học: 15

A Mục tiêu của chuyên đề

Sau khi học chuyên đề này, người học có khả năng:

Kiến thức

- Phân biệt được lãnh đạo và quản lý

- Tóm tắt được các học thuyết quản lý tiêu biểu

- Nêu được các đặc điểm của quản lý giáo dục và một số mô hình QLGD hiệnđại

Kỹ năng

- Thực hiện đúng vai trò lãnh đạo và quản lý trong điều hành các hoạt độngcủa trường

- Có khả năng chọn lọc và vận dụng kiến thức của các học thuyết quản lý

và mô hình quản lý giáo dục hiện đại vào công tác quản lý trường học

Thái độ

Đổi mới tư duy về lãnh đạo và QLGD, chủ động, tích cực trong thực hiệnnhiệm vụ

B Tóm tắt nội dung chuyên đề

Giới thiệu tổng quan về khoa học quản lý và những học thuyết quản lý tiêubiểu, áp dụng các học thuyết quản lý trong quản lý giáo dục nói chung và quản lýtrong trường học nói riêng

C Nội dung chi tiết chuyên đề

1 Tổng quan về khoa học quản lý

1.1 Lãnh đạo và quản lý

1.1.1 Lãnh đạo

1.1.2 Quản lý

1.1.3 Phân biệt lãnh đạo, quản lý

1.2 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu KHQL

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3 Giới thiệu một số học thuyết quản lý tiêu biểu

1.3.1 Một số học thuyết quản lý truyền thống

1.3.2 Một số học thuyết theo trường phái hành vi

1.3.3 Thuyết quản lý hệ thống

1.3.4 Thuyết Z (William Ouchi)

1.3.5 Thuyết quản lý theo quá trình (Quản lý theo chức năng)

Trang 2

2 Quản lý giáo dục

2.1 Vận dụng khoa học quản lý vào QLGD

2.1.1 Khái niệm quản lý giáo dục

2.1.2 Đặc điểm và bản chất của quản lý giáo dục

2.1.3 Một số quan điểm quản lý giáo dục

2.2 Vận dụng một số mô hình quản lý trong QLGD

2.2.1 Quản lý dựa vào nhà trường

2.2.2 Quản lý theo kết quả

2.2.3 Quản lý chất lượng tổng thể

D Tài liệu học tập

Tài liệu bắt buộc

- Tài liệu về Chuyên đề: Tổng quan về khoa học quản lý và quản lý giáo dục

Tài liệu tham khảo

1 Bùi Minh Hiền (chủ biên), Đặng Quốc Bảo, Vũ Ngọc Hải (2006), Quản

lý giáo dục, NXB ĐHSP, Hà Nội.

2 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2004), Giáo trình khoa học quản lý,

NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

3 Trần Kiểm (2008), Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB ĐHSP, HN.

4 Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich (1994), Những vấn đề cốt yếu về quản lý, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

5 Nguyễn Hải Sản (2005), Quản Trị học, NXB Thống kê, Hà Nội.

6 Jonc Maxwel (2012), Tinh hoa lãnh đạo, NXB Lao động xã hội.

Nội dung Bài giảng chuyên đề

1 Tổng quan về khoa học quản lý

1.1 Lãnh đạo và quản lý

1.1.1 Lãnh đạo

Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heniz Weihrich, lãnh đạo được xácđịnh như là sự tác động, như một nghệ thuật, hay một quá trình tác động đến conngười sao cho họ sẽ tự nguyện và nhiệt tình phấn đầu để đạt được các mục tiêu đề ra.Các yếu tố cấu thành của sự lãnh đạo bao gồm: khả năng nhận thức được rằng conngười có những động lực thúc đẩy khác nhau ở những thời gian khác nhau và trongnhững hoàn cảnh khác nhau; Khả năng khích lệ người khác và khả năng hành độngtheo một phương pháp mà nó sẽ tạo ra một bầu không khí hữu ích cho sự hưởng ứngđáp lại và khơi dậy các động cơ thúc đẩy

Theo Nguyễn Hải Sản, lãnh đạo là khả năng tác động, thúc đẩy, hướng dẫn, chỉđạo người khác để đạt được những mục tiêu đã đề ra Lãnh đạo bao gồm hàng loạt cáchoạt động nối tiếp nhau

Trang 3

Một số tác giả khác cho rằng: lãnh đạo là định hướng dẫn dắt Đó là một quátrình mang tính xã hội, trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của mọithành viên thuộc tổ chức vào các hoạt động nhằm đưa tổ chức đạt đến mục tiêu Haylãnh đạo là chỉ đường, vạch lối, nhìn xa trông rộng, hướng tới mục tiêu cuối cùng;Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối, nguyên lý, sách lược; Lãnh đạo quan tâmđến những vấn đề chiến lược và những mục tiêu lâu dài của tổ chức;

Lãnh đạo thường được hiểu là gồm có: xác định phương hướng, mục tiêu lâudài (cả trung hạn và dài hạn), lựa chọn chủ trương chiến lược, điều hòa các mối quan

hệ và động viên, thuyết phục con người

Như vậy, có thể khái quát: Lãnh đạo là quá trình khởi xướng, xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chiến lược, tác động, ảnh hưởng tìm kiếm sự tự nguyện tham gia của mọi người nhằm tập hợp, điều hòa, phối hợp các mối quan hệ, dẫn dắt, tạo động lực để mọi thành viên trong tổ chức cùng thực hiện nhiệm vụ đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định.

1.1.2 Quản lý

Ngày nay, khái niệm quản lý đã phổ biến nhưng chưa có định nghĩa thống nhất.Theo từ điển Tiếng Việt, “Quản lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theonhững yêu cầu nhất định Quản lý nhân sự, quản lý trường học

+ Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management) vừa có nghĩa quản lý (hành

chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh) Trong tiếng Anh còn có một

thuật ngữ khác là Administration.

+ Thuật ngữ “quản lý” có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình

“quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”.

Quản lý là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều dạng

Quản lý xã hội là dạng quản lý phức tạp nhất, bao gồm nhiều lĩnh vực như:quản lý Nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lýngành…

Một số quan niệm:

Các tác giả Harol Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich cho rằng: “Quản

lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được cácmục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môitrường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiềnbạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”

Kotter (1990) cho rằng “Quản lý là một hệ thống các quá trình có thể góp phầnduy trì một hệ thống phức tạp bao gồm nguồn nhân lực và kỹ thuật trong sự vận hànhhiệu quả Các khía cạnh quan trọng nhất của quá trình quản lý bao gồm lập kế hoạch,chi tiêu ngân sách, tổ chức, tuyển dụng, kiểm soát và giải quyết vấn đề”

Trang 4

Một khái niệm mang tính phổ quát được nhiều nhà nghiên cứu về QL đưa ra:

Quản lý là sự tác động hợp qui luật, có ý thức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đã đề ra.

Từ các quan niệm về quản lý nói trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trìnhthực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác địnhmục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chếhóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc,điều phối nguồn lực tài chính và kỹ thuật…), chỉ đạo, điều hành, kiểm soát vàđánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để bảo đảm hoàn thành mục tiêu của tổchức đã đề ra

Bản chất của quản lý là sự phối hợp các thành tố trong tổ chức nhằm đạtđược các mục tiêu đã đề ra và sự phối hợp này mang dấu ấn chủ quan của chủ thểquản lý (nói cách khác là nó phụ thuộc vào ý tưởng, năng lực, nhân cách… củachủ thể quản lý), vì việc đạt được sự hài hoà của những nỗ lực cá nhân hướng tớihoàn thành các mục tiêu của tổ chức chính là mục đích của quản lý

1.1.3 Phân biệt lãnh đạo, quản lý

Mặc dù có những điểm khác biệt nhưng lãnh đạo và quản lý cũng hoàn toànkhông phải là hai khái niệm đối lập, trái lại, giữa lãnh đạo và quản lý lại có nhiều chỗtương đồng, gần như bổ sung cho nhau, công việc quan trọng quốc gia hay chỉ củamột trường học cũng cần cả lãnh đạo và quản lý Lãnh đạo và quản lý là hai góc độcủa một công việc, một công vụ, có liên quan mật thiết với nhau

Trong điều hành tổ chức, nhà quản lý phải thực hiện cả lãnh đạo và quản lý

Hoạt động lãnh đạo tập trung những định hướng dài hạn cho các hoạt động của một

tổ chức Còn quản lý tập trung giữ vững và tăng cường hoạt động của tổ chức theo trật tự và sự nhất quán để đảm bảo đưa tổ chức đạt đến các mục tiêu đã xác định.

Song trên thực tế khó phân biệt được một cách rạch ròi giữa lãnh đạo và quản

lý Không ít trường hợp lãnh đạo và quản lý thâm nhập vào nhau Về lý thuyết, người

ta phân biệt lãnh đạo và quản lý theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng, lãnh đạo theo nghĩarộng bao gồm cả quản lý (nghĩa hẹp), và trong khái niệm quản lý theo nghĩa rộng lạibao gồm cả lãnh đạo (nghĩa hẹp)

Có thể coi là lãnh đạo là quản lý ở cấp độ cao hơn Những nhà quản lý giỏi cần cả hai kỹ năng quản lý và lãnh đạo Trong điều hành tổ chức, nhà quản

lý phải thực hiện cả lãnh đạo và quản lý.

Bảng So sánh lãnh đạo và quản lý của Bennis

Lãnh đạo tập trung vào:

- Hiệu lực

- Mục tiêu lâu dài

- Con người và chất lượng

- Phát triển một tầm nhìn được chia sẻ

- Điều chỉnh con người và tầm nhìn

Quản lý tập trung vào:

Trang 5

- Lôi kéo làm việc nhóm

( Nguồn: Theo Bennis, (1994)

Một số nguồn tham khảo khác:

*Theo cấp độ điều hành và lãnh đạo quản lý:

- Cán bộ quản lý: là người lao động thực hiện những chức năng và nhiệm

vụ

nhất định trong lĩnh vực quản lý, là người làm việc trong các bộ máy quản lý.

- Cán bộ lãnh đạo trong quản lý: là người đứng đầu trong mỗi tổ chức

(chủ nhiệm, chủ tịch, giám đốc, hiệu trưởng… ), là người xác định mục tiêu định hướng, tổ chức thực hiện mục tiêu và chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả hoạt động của tổ chức do mình quản lý.

Điểm khác nhau giữa cán bộ quản lý (cấp điều hành) và người lãnh đạo(cấp cao) thể hiện qua bảng 2

Truyền cảm hứng cho người khác

theo các ý tưởng mới

Yêu cầu những người khác phảihoàn thành nhiệm vụ

Hoạt động vượt khỏi các quy định,

điều lệ, nội quy để tìm kiếm sự thay

đổi phù hợp

Điều hành hoạt động của tổ chức theođiều lệ, nội quy, chính sách, chủtrương về quy trình, quy định

Là một vị trí xuất phát từ ý tưởng,

sáng kiến đòi hỏi phải có tình cảm, sẵn

sàng phục vụ cho mọi người

Là một vị trí cụ thể được đặt ra đểquản lý và điều hành

Làm cho đúng công việc Làm các việc cho đúng

Là người sáng tạo lần thứ nhất Là người sáng tạo lần thứ hai

Quan tâm đến hiệu lực Quan tâm đến năng suất, hiệu quảSáng tạo các ý tưởng mới và phát triển Quản trị và duy trì các hoạt độngTập trung vào con người và nhân

viên cụ thể

Tập trung chỉ đạo hệ thống và tổchức thực hiện

Tin cậy vào sự tín nhiệm, giao

phó, niềm tin, hy vọng

Tin cậy vào sự kiểm tra, kiểm soátChỉ ra hướng đi cho mọi người Tổ chức các cán bộ và nhân viên

Trang 6

Tập trung cho các hoạt động mang

tính triết lý, giá trị cơ bản và mục tiêu

Tập trung cho các hoạt động mangtính chiến thuật, tổ chức và hệ thống

Có tầm nhìn lâu dài cho tương lai Quan tâm đến kế hoạch ngắn hạn

và trước mắtPhải thường xuyên hỏi và tự trả lời

câu hỏi What và Why?

Phải thường xuyên hỏi và tự trả lờicâu hỏi When và How

Tìm cách thay đổi điều luật, điều lệ

cơ chế chính sách

Chấp nhận và tuân theo các điềuluật, điều lệ cơ chế

Tập trung cho các vấn đề của tương

lai, hướng cái nhìn của mình vào

Dự báo kết quả và ra quyết định

Chấp nhận rủi ro và mạo hiểm Tránh rủi ro và mạo hiểm

Khuyến khích con người thay đổi

1.2 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu KHQL

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Khoa học quản lý nghiên cứu gì? Khoa học quản lý lấy thực tiễn quản lý (ở tất

cả các lĩnh vực và cấp độ) làm đối tượng nghiên cứu nhằm tìm ra cái chung, cái giốngnhau, cái lặp lại của hoạt động quản lý ở tất cả các lĩnh vực và cấp độ của nó, tức làcác quy luật quản lý

Đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý là các mối quan hệ trong quá trìnhquản lý Khoa học quản lý nghiên cứu các mối quan hệ trong quản lý nhằm tìm bảnchất, quy luật, nguyên tắc, phương pháp để áp dụng trong thực tiễn nhằm làm cho quátrình quản lý ngày càng hiệu quả hơn

Khoa học quản lý cung cấp những kiến thức cơ bản làm nền tảng cho việcnghiên cứu sâu các môn học về quản lý theo từng lĩnh vực hoặc theo ngànhchuyên môn hóa như: quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, quản lý hành

Trang 7

chính nhà nước, quản lý giáo dục, quản lý văn hóa, xã hội, quản lý TDTT

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khoa học quản lý có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa chủ thể quản lý và đốitượng quản lý

- Nghiên cứu, phân tích các công việc quản lý trong một tổ chức để tổngquát hoá các kinh nghiệm tốt thành nguyên tắc và lý thuyết áp dụng cho mọi hìnhthức quản lý tương tự

- Giải thích các hiện tượng quản lý và đề xuất những lý thuyết cùng những

kỹ thuật nên áp dụng để giúp nhà quản lý hoàn thành nhiệm vụ, qua đó giúp tổchức đạt được mục tiêu

- Nghiên cứu phân tích các hoạt động quản lý có ý nghĩa duy trì và tạo điềukiện thuận lợi cho tổ chức hoạt động, tìm ra các qui luật hay tính qui luật và cơchế vận dụng các qui luật đó trong quá trình tác động đến con người, thông qua

đó mà tác động đến các nguồn lực khác nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của khoa học quản lý là cách thức khoa học quản lýnghiên cứu các quan hệ quản lý nhằm tìm ra qui luật của quản lý để đề ra các nguyên

lý, nguyên tắc, các phương pháp và các công cụ để quản lý, chính là để giải quyết mốiquan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giúp nhà quản lý đưa ra nhữngquyết định đúng đắn trong từng tình huống cụ thể

Khoa học quản lí với tư cách là một khoa học xã hội, cũng như các khoa họckhác, muốn nhận thức được đối tượng của nó nhất thiết phải vận dụng những phươngpháp nghiên cứu chung và những phương pháp nghiên cứu cụ thể;

Khoa học quản lý vận dụng các phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiêncứu cơ bản sau đây:

- Phương pháp trừu tượng hoá

*Phương pháp biện chứng duy vật

Phương pháp biện chứng duy vật xem xét các sự vật, hiện tượng và quá trìnhcủa thế giới khách quan trong mối liên hệ tác động qua lại, trong sự vận động biến đổi

và phát triển theo quy luật của chúng Phương pháp luận duy vật biện chứng của chủnghĩa Mác-Lênin vẫn là phương pháp cơ bản, là nền tảng, là kim chỉ nam của các nhàlãnh đạo và quản lý Nó cung cấp cho người nghiên cứu khoa học quản lý phương

Trang 8

pháp nhận thức các đối tượng khách quan trong sự vận động và phát triển của đốitượng quản lý hết sức sinh động với các mâu thuẫn mà nhà quản lý cần giải quyết Nógiúp các nhà nghiên cứu xem xét đối tượng quản lý một cách toàn diện trong mốiquan hệ và tác động qua lại của các yếu tố trong hệ thống quản lý với môi trường nhưkinh tế, chính trị, văn hoá, tâm lý, phong tục, dân tộc, giới tính, vùng miền,……

Bằng phương pháp biện chứng duy vật, khoa học quản lý chỉ ra rằng: quản lý

là một trong những dạng hoạt động hoặc lao động đặc biệt của con người Nhưng nókhông tồn tại biệt lập mà có quan hệ mật thiết với điều kiện kinh tế xã hội ở nhữnggiai đoạn phát triển nhất định Nói cụ thể hơn, hoạt động quản lý không phải là mộtdạng hoạt động quản lý thuần tuý tự nó và vì nó Hoạt động quản lý gắn liền với cácdạng hoạt động cụ thể của con người, nó tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạtđộng của nhiều người

là phương pháp logic - lịch sử Bằng phương pháp logic - lịch sử, khoa học quản lýchỉ ra rằng mỗi một loại hình và cấp độ quản lý đều có quá trình phát sinh, hình thành,phát triển và mất đi của nó; đồng thời các loại hình quản lý khác nhau (quản lý kinh

tế, quản lý hành chính, quản lý nhân lực, quản lý giáo dục, ) đều có mối liên hệ nhấtđịnh với nhau, đều có những cái chung, cái giống nhau, cái lặp lại hay là tính quy luậtcủa chúng Tính quy luật của chúng được biểu hiện ở chỗ bất cứ loại hình quản lý nàocũng đều phải xác lập và thực thi mục tiêu quản lý phù hợp, nội dung quản lý đúngđắn và phương thứcquản lý hợp lý Bất cứ loại hình quản lý nào cũng phải xây dựng

và thực hiện các nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý, phương pháp quản lý, phongcách quản lý và nghệ thuật quản lý… Tuy nhiên, những cái chung, cái lặp lại, cáigiống nhau đó khi vận dụng vào các loại hình quản lý cụ thể lại mang những nét đặcthù riêng

*Phương pháp trừu tượng hoá

Phương pháp trừu tượng hoá là phương pháp xem xét các sự vật hiện tượng củathế giới khách quan không phải ở tất cả các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của nó, mà

nó gạt bỏ những hiện tượng bên ngoài đa dạng, phong phú, những yếu tố ngẫu nhiên

để hướng tới cái điển hình, cái cốt lõi nhằm tìm ra bản chất và các cấp độ bản chất của

sự vật Phương pháp này không làm cho tư duy xa rời hiện thực mà giúp hiểu rõ hiện

Trang 9

thực ở cấp độ bản chất, quy luật vận động của hiện thực - điều mà nhận thức cảm tínhkhông làm được Nhờ có phương pháp trừu tượng hoá, khoa học quản lý giúp chúng

ta nhận thức được rằng: trong sự đa dạng, phong phú, muôn hình muôn vẻ của cácloại hình và cấp độ quản lý nhưng bản chất của quản lý là biểu hiện mối quan hệ tácđộng giữa con người với con người Tuy nhiên, mối quan hệ đó không phải là mốiquan hệ giữa con người với con người nói chung mà là quan hệ giữa chủ thể quản lývới đối tượngquản lý Mặt khác, trong quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản

lý thì quan hệ quyền lực là hạt nhân cốt lõi …Vận dụng phương pháp trừu tượng hóa,khoa học quản lý đã xác lập những điểm chung nhất cho tất cả các lĩnh vực và cấp độquản lý ở các nội dung của quản lý Chính vì vậy, hệ thống tri thức chung của khoahọc quản lý đóng vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận cho tất cả các khoa họcquản lý chuyên ngành

1.2.3.2 Các phương pháp cụ thể

Ngoài những phương pháp chung như đã trình bày ở trên, khoa học quản lýcòn sử dụng một số phương pháp cụ thể khác như: Phương pháp phân tích - tổnghợp, Phương pháp quy nạp - diễn dịch, Phương pháp hệ thống, Phương pháp môhình hóa và một số phương pháp liên ngành khác

*Phương pháp phân tích - tổng hợp: Quản lý liên quan đến mọi lĩnh vực của

đời sống, kinh tế, xã hội Do vậy phương pháp này giúp việc nghiên cứu các hiệntượng quản lý trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, phải tính đến tất cả các yếu tố,

từ đó chọn lọc, phân tích và tổng hợp thành những điều cốt lõi nhất của quản lý

Để nghiên cứu, quản lý thường được phân tích thành các chức năng quản

lý Tiêu chí để hình thành các chức năng quản lý là quá trình quản lý và cáclĩnh vực của hoạt động quản lý

*Phương pháp hệ thống: Nó cho phép xem xét hệ quản lý như một tổng thể

toàn vẹn bao gồm các phần tử tương tác với nhau hoạt động theo mục đích chung Khinghiên cứu về quản lý cần phải có quan điểm hệ thống để tìm ra được đặc tính của hệthống, các mối liên hệ bên trong, bên ngoài, sự tương tác gữa các phần tử

*Phương pháp mô hình hoá: đây là phương pháp tái hiện những đặc trưng của

đối tượng nghiên cứu bằng một mô hình khi việc nghiên cứu của chính đối tượng đókhông thể thực hiện được Hệ thống quản lý nói chung và đối tượng quản lý nói riêng

là một hệ thống cực kỳ phức tạp Mô hình hoá cho phép người nghiên cứu nắm đượcnhững yếu tố cơ bản và các quan hệ cơ bản một cách phổ quát, đơn giản, nhanh chóng

và hiệu quả Trong khoa học quản lý thường người ta sử dụng các mô hình toán họcbằng công thức toán học, hình vẽ hoặc sơ đồ…

*Phương pháp thực nghiệm

Là phương pháp làm thử một phương án để xem cái gì sẽ xảy ra, nếu đúngthì tiếp tục hoạt động, nếu sai thì sửa chữa hoặc lựa chọn phương án khác Thực

Trang 10

tiễn quản lý hết sức sinh động Các quyết định quản lý cho dù được soạn thảo

và nghiên cứu công phu, chặt chẽ đến đâu cũng chưa chắc phù hợp với điềukiện khách quan, do đó bằng phương pháp thực nghiệm có thể rút ngắn thờigian và tiết kiệm chi phí Tuy nhiên không nên quá lạm dụng phương phápnày vì dễ dẫn đến sai lầm và những tổn thất nhiều khi khó khắc phục được

*Các phương pháp xã hội học: Quan sát, phỏng vấn, điều tra,… Các phương

pháp này giúp lấy ý kiến, quan điểm, của mọi người từ đó nghiên cứu xây dựng ýthức và hành động của con người trong quá trình lao động nhằm nâng cao hiệu quảquản lý

1.3 Giới thiệu một số học thuyết quản lý tiêu biểu

1.3.1 Một số học thuyết quản lý truyền thống

1.3.1.1 Thuyết quản lý khoa học

Đại diện tiêu biểu cho trường phái khoa học này là Frededric W.Taylor (1856 - 1915) Là đại biểu ưu tú nhất của trường phái này, ông được xem là

“cha đẻ” của phương pháp quản lý khoa học với tác phẩm Những nguyên tắc

và phương pháp quản trị khoa học (Principles and methods of scientice

management) xuất bản ở Mỹ năm 1911

Nội dung của lý luận quản lý một cách khoa học bao gồm các mặt sau:

1 Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của côngnhân, phải nghiên cứu thời gian và thao tác cần thiết cho công việc để xây dựngđịnh mức cho công việc Đó là nguyên lý định mức

2 Phải lựa chọn những thợ hạng nhất cho mỗi công việc

3 Nguyên lý tiêu chuẩn hoá

4 Xây dựng và thực hiện chế độ trả lương theo số lượng sản phẩm nhằmkhuyến khích người lao động

5 Hai bên thợ và chủ đều phải nhận thức rằng việc nâng cao năng suất laođộng có lợi cho cả hai bên, do đó cần có một cuộc “cách mạng tinh thần”, hợp tác

và cùng nhau cố gắng

6 Tách biệt chức năng kế hoạch với chức năng thừa hành

7 Thực hiện chế độ chức năng và chế độ chức năng trực tuyến

8 Nguyên lý kiểm soát, quản lý về mặt cơ cấu tổ chức

Thực chất của việc quản lý khoa học là cuộc cách mạng tư tưởng hoàn toàncủa công nhân trong tất cả các xí nghiệp hoặc tổ chức, là cuộc cách mạng tưtưởng hoàn toàn về trách nhiệm của công nhân đối với công việc của họ, về cáchđối xử của họ với với những đồng sự và đối với chủ

Ông nêu ra 4 nguyên tắc quản lý khoa học:

(1) Phương pháp khoa học cho những thành tố cơ bản trong công việc củacông nhân, thay cho phương pháp cũ dựa vào kinh nghiệm

(2) Xác định chức năng hoạch định của nhà quản lý, thay vì để công nhân

tự ý lựa chọn phương pháp làm việc riêng của họ

Trang 11

(3) Lựa chọn và huấn luyện công nhân, phát triển tinh thần hợp tác đồngđội, thay vì khích lệ những nỗ lực cá nhân riêng lẻ của họ.

(4) Phân chia công việc giữa nhà quản lý và công nhân, để mỗi bên làm tốtnhất công việc của họ, chứ không phải chỉ đổ lên đầu công nhân như trước kia

Công tác quản lý tương ứng là:

a) Nghiên cứu thời gian và các thao tác hợp lý nhất để thực hiện công việc.b) Bằng cách mô tả công việc để chọn lựa công nhân, thiết lập hệ thốngtiêu chuẩn và hệ thống huấn luyện chính thức

c) Trả lương theo nguyên tắc khuyến khích theo sản lượng, bảo đảm antoàn lao động bằng dụng cụ thích hợp

d) Thăng tiến trong công việc, chú trọng lập kế hoạch và tổ chức hoạtđộng

Học thuyết quản lý khoa học của Taylor vẫn còn nhiều giá trị trong quản lýngày nay Các vấn đề chuyên môn hóa trong phân công lao động, trả lương theosản phẩm vẫn được nhiều tổ chức áp dụng có hiệu quả

Trong QLGD các vấn đề tuyển chọn và đào tạo cán bộ, viên chức; phân công chuyên môn hóa dựa trên các tiêu chuẩn công việc theo mỗi vị trí hoàn toàn

có thể áp dụng Chú trọng khâu lập kế hoạch và tổ chức thực hiện cũng là yêu cầu quan trọng cần được thực hiện.

Trường phái quản lý khoa học có nhiều đóng góp có giá trị cho sự pháttriển của tư tưởng quản lý

Ngoài ra còn rất nhiều tác giả thuộc trường phái quản lý khoa học như:

Charles Babbage (1792 - 1871); Frank (1886 - 1924) và Lillian Gilbreth (1878 – 1972); Henry Gantt (1861 - 1919);…

Tóm lại: F.Taylor và những người cùng quan điểm không phải là

những nhà lý thuyết mà là những kỹ sư, những công nhân có kinh nghiệmlàm việc thực tế trong xí nghiệp luôn quan tâm đến tăng năng xuất lao độngcủa công nhân Những tư tưởng quản lý khoa học của họ đã đóng góp nhiều giátrị cho sự phát triển của lý thuyết quản lý Họ phát triển kỹ năng quản lý quaphân công và chuyên môn hoá quá trình lao động, hình thành quy trình sảnxuất dây chuyền; họ là những người đầu tiên nêu lên tầm quan trọng của việctuyển chọn và huấn luyện công nhân, dùng đãi ngộ để tăng năng suất lao động;nhấn mạnh việc giảm giá thành để tăng hiệu quả, dùng những phương pháphợp lý để giải quyết các vấn đề quản lý Họ coi quản lý như là một đối tượngnghiên cứu khoa học

Tuy vậy, những tư tưởng này cũng có những giới hạn nhất định Trước hết,

Lý thuyết ”quản lý theo khoa học” là sự hiểu biết phiến diện và máy móc về conngười, bị chi phối bởi tư tưởng triết học "con người kinh tế" mà các tác giả tiếpnhận ở thời đại đó Họ quá đề cao bản chất kinh tế và duy lý của con người

mà định giá thấp nhu cầu của xã hội và tự thể hiện của con người, do vậy vấn đềnhân bản ít được quan tâm Họ muốn áp dụng những nguyên tắc quản lý phổ quát

Trang 12

cho cho mọi hoàn cảnh mà không nhận thấy đặc thù của môi trường và quá chútâm đến vấn đề kỹ thuật Thứ đến, lý thuyết này này chỉ áp dụng tốt trong trườnghợp môi trường ổn định, khó áp dụng trong môi trường phức tạp nhiều thay đổi.

1.3.1.2 Thuyết quản lý hành chính

a) Tác giả Henry Fayol (1841 - 1925) Đại diện tiêu biểu cho trường phái

khoa học này, với tác phẩm Quản lý công nghiệp và quản lý tổng quát

(Administration industrielle et générall, 1916),

Là một nhà quản lý hành chính người Pháp, Fayol chỉ ra rằng năng suất lao

động của con người làm việc chung trong tập thể tùy thuộc vào sự sắp xếp tổ chức của nhà quản lý Việc sắp xếp, tổ chức đó được Fayol gọi là việc quản lý

tổng quát và việc này cũng quan trọng như 5 việc khác trong cơ sở sản xuất kinhdoanh:

Henry Fayol là người đầu tiên nêu một cách rõ ràng các yếu tố của quátrình quản lý, đó cũng là 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý, bao gồm:

Lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.

Để có thể làm tốt việc sắp xếp, tổ chức xí nghiệp Fayol đã đề nghị các nhàquản lý nên theo 14 nguyên tắc quản lý:

1 Phải phân công lao động

2 Phải xác định rõ mối quan hệ giữa quyền hành và trách nhiệm

3 Phải duy trì kỷ luật trong xí nghiệp

4 Mỗi công nhân chỉ nhận lệnh từ một cấp chỉ huy trực tiếp duy nhất

5 Các nhà quản lý phải thống nhất ý kiến khi chỉ huy

6 Quyền lợi chung luôn luôn phải được đặt trên quyền lợi riêng

7 Quyền lợi kinh tế phải tương xứng với công việc

8 Quyền quyết định trong xí nghiệp phải tập trung về một mối

9 Xí nghiệp phải được tổ chức theo cấp bậc từ giám đốc xuống đến công nhân

10 Sinh hoạt trong xí nghiệp phải có trật tự

11 Sự đối xử trong xí nghiệp phải công bình

12 Công việc của mỗi người trong xí nghiệp phải ổn định

13 Tôn trọng sáng kiến của mọi người

14 Xí nghiệp phải xây dựng cho được tinh thần tập thể

Trang 13

Trường phái hành chính chủ trương rằng, năng suất lao động sẽ cao trongmột tổ chức được sắp đặt hợp lý Nó đóng góp rất nhiều trong lý luận cũng nhưthực hành quản lý, nhiều nguyên tắc quản lý của tư tưởng này vẫn còn áp dụng

ngày nay Các hình thức tổ chức, các nguyên tắc tổ chức, quyền lực và sự ủy quyền đang ứng dụng phổ biến hiện nay cả trong QLGD, đó chính là sự đóng góp quan trọng của trường phái quản lý hành chính.

Tóm lại:

Thuyết quản lý của Fayol đã chỉ ra cách thức phân tích một quá trìnhquản lý phức tạp thành các chức năng tương đối độc lập (lập kế hoạch, tổ chức,điều khiển, phối hợp và kiểm tra), mang tính thống nhất đối với mọi loại hình

tổ chức, không phân biệt mục tiêu, tính chất và quy mô của tổ chức ấy Nó có

ưu điểm là đi sâu nghiên cứu những công việc cần thiết của các nhà quản lýchuyên nghiệp, tạo ra kỷ cương trong tổ chức, song chưa chú trọng đầy đủ đếncác mặt tâm lý và môi trường xã hội của người lao động, chưa đề cập đến mốiquan hệ giữa xí nghiệp với khách hàng, thị trường, các đối thủ cạnh tranh vàcác ràng buộc nhà nước Quá trình quản lý của ông có vẻ cứng nhắc, chuẩnmực chứ không đa dạng như trên thực tế Tuy vậy, sự đóng góp của ông chokhoa học quản lý vẫn rất độc đáo và giá trị

b) Thuyết hành chính của Max Werber

Trong khi Henry Fayol tập trung vào nhà quản lý, thì thuyết hành chính của Max Weber (1864 - 1920) lại tập trung vào cơ cấu tổ chức bộ máy của tổ chức;

Weber cho rằng, thể chế quan liêu là một tổ chức xã hội chặt chẽ, hợp lýgiống như một cỗ máy Nó có những hoạt động chuyên nghiệp thành thạo, có quiđịnh rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm, có qui chế thực hiện nghiêm khắc vàquan hệ phục tùng theo cấp bậc, đo đó trở thành một hệ thống kỹ thuật quản lý.Weber đã chỉ rõ thể chế quan liêu dù quan sát theo góc độ kỹ thuật thuần tuýcũng có những ưu điểm rõ rệt so với những thể chế quản lý trước kia Điều nàyđược thể hiện rõ ở những đặc trưng cơ bản sau:

10 Tiết kiệm nhân lực và vật lực

Tư tưởng quản lý của Weber theo thể chế quan liêu và ông cho rằng, chínhnền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa yêu cầu phải không ngừng tiến hành quản

Trang 14

lý một cách tỉ mỉ Theo Weber thì trong một quốc gia hiện đại, nền chính trị quanliêu là người cai trị thực tế.

Ông đã đưa ra 7 nguyên lý quản lý cho tư tưởng quản lý của mình gồm cácđiểm chính:

(1) Sự phân công lao động được xác định rõ ràng và thể chế hoá;

(2) Hình thành trật tự thứ bậc dựa trên một dây chuyền chỉ huy;

(3) Tuyển chọn dựa trên năng lực nghề nghiệp, thi sát hạch và trình độ,…;(4) Cần chỉ định người quản lý;

(5) Cần trả lương xứng đáng cho hoạt động của nhà quản lý;

(6) Người quản lý không nên là người sở hữu đơn vị mà mình điều hành;(7) Hoạt động quản lý của nhà quản lý phải tuân thủ chặt chẽ mọi qui tắc,chuẩn mực và chịu sự kiểm tra

Weber cho rằng bất kỳ tổ chức xã hội nào cũng phải lấy quyền lực ở mộthình thức nào đó làm cơ sở tồn tại Xét về mặt quản lý, quyền lực là mệnh lệnh củanhà quản lý tác động đến hành vi của người bị quản lý Người bị quản lý phải tiếpnhận hoặc phục tùng mệnh lệnh của nhà quản lý, lấy mệnh lệnh của nhà quản lýlàm chuẩn mực cho hành vi của họ Tuy nhiên Weber không chỉ coi quyền lực là

cơ cấu mệnh lệnh dẫn đến sự phục tùng mà còn cho rằng người bị quản lý vui lòngphục tùng, tựa hồ như người bị quản lý đã xuất phát từ lý do tự thân, coi nội dung

phục tùng mệnh lệnh là khuôn phép cho mọi hành động của họ.

Nhiều nội dung của học thuyết quản lý bàn giấy có thể vận dụng trong QLGD, chẳng hạn: Thể chế hóa việc phân công lao động, tuyển chọn cán bộ viên chức không chỉ dựa vào hồ sơ lý lịch mà phải qua sát hạch thực tế, hoạt động quản

lý cần tuân thủ qui tắc, chuẩn mực và chịu sự kiểm tra…

Tóm lại: Trường phái hành chính cho rằng năng suất lao động sẽ tăng lên

nhờ sự tổ chức sắp đặt một cách hợp lý Trường phái này đã đóng góp rất nhiềucho lý luận cũng như thực hành quản lý, những tư tưởng về các hình thức vànguyên tắc tổ chức, các chức năng quản lý, quyền lực và sự uỷ quyền đangứng dụng phổ biến hiện nay chính là sự đóng góp quan trọng của trường pháiquản lý hành chính

Hạn chế của trường phái này là các tư tưởng được thiết lập trong một tổchức ổn định, ít thay đổi, quan điểm quản lý cứng rắn, ít chú ý đến con người

và xã hội nên dễ dẫn tới việc xa rời thực tế Ngày nay, vấn đề quan trọng là phảibiết cách vận dụng các nguyên tắc quản trị cho phù hợp với các yêu cầu thực

tế, chứ không phải từ bỏ các nguyên tắc đó

Mở rộng tham khảo:…

*Nhận xét chung về trường phái truyền thống/cổ điển về quản lý:

Tiền đề căn bản của lý thuyết cổ điển về quản lý con người là thuần túykinh tế Bằng cách chuyên môn hóa nhiệm vụ trong một hệ thống cấp bậc đượcxác định rõ ràng, người ta có thể tổ chức công việc để hoàn thành mục tiêu của

Trang 15

tổ chức một cách có hiệu quả Tổ chức được xem là một hệ thống cơ học,được hoạch định và kiểm soát bằng quyền hành chính của các nhà quản lý Từ

đó các tác giả của trường phái cổ điển nhấn mạnh:

- Có thể tăng hiệu quả quản lý bằng cách tổ chức, sắp xếp hợp lý và kiểmtra công việc của mọi người

- Lợi ích kinh tế được xem là nguồn động lực duy nhất của người laođộng và để có năng suất cao, công việc cần được chuyên môn hóa, được hướngdẫn chu đáo cho người lao động và thường xuyên kiểm tra

- Các nhà quản lý, thông qua một cơ cấu tổ chức chặt chẽ có vai tròquyết định đối với việc hội tụ sức mạnh của các thành viên trong tổ chức đểhướng tới mục tiêu chung

Các lý thuyết cổ điển về quản lý bị một số ý kiến phê phán sau đây:

- Lý thuyết cổ điển xem các tổ chức là hệ thống khép kín, không thấyđược ảnh hưởng của yếu tố môi trường đối với tổ chức và nhiều khía cạnh nội

bộ khác

- Lý thuyết cổ điển đã có những quan điểm thiếu thực tế về nguồn gốchành vi của con người March và Simon đã gọi các lý thuyết cổ điển là "môhình máy móc" Warren Bennis, một nhà tâm lý học quản lý, cho rằng lýthuyết cổ điển đã đưa ra những nguyên tắc để quản lý những tổ chức không cócon người

- Các tác giả của trường phái này là các nhà quản lý thực tế, nên lý thuyếtcủa họ đều xuất phát từ kinh nghiệm và thiếu cơ sở khoa học vững chắc

Mặc dù có những hạn chế nhất định, song các lý thuyết cổ điển vềquản lý vẫn có vai trò to lớn trong việc hình thành, đặt nền tảng cho sự pháttriển chung của khoa học quản lý hiện đại Nhiều trường phái lý thuyết quản lýsau này đã nghiên cứu, kế thừa, bổ sung và phát triển những tư tưởng của lýthuyết cổ điền Về mặt ứng dụng thực tế, nhờ những đóng góp của lý thuyết cổđiển, việc quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh, kể cả các cơ quan chínhquyền ở các nước phương Tây đã được nâng cao một cách rõ rệt trong nhiềuthập niên đầu của thế kỷ XX

1.3.2 Một số học thuyết theo trường phái hành vi

Tư tưởng quản lý theo quan điểm hành vi, là những quan điểm quản lý nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người trong công việc Tư tưởng này cho rằng, hiệu quả của quản lý do năng suất lao

động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chấtquyết định mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người Lýthuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởicác nhà tâm lý học trong thập niên 60, và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tạinhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp củacon người, một yếu tố quan trọng để quản lý

Trong khoa học quản lý, thuyết hành vi có ảnh hưởng lớn tới các nhà tư

Trang 16

tưởng quản lý, trong đó phải kể đến Donglas Mc.Gregor.

Có thể kể đến một vài tác giả thuộc trường phái này:

a) Thuyết quản lý của Mary Parker Follett (1863 - 1933):

Là nhà nghiên cứu quản lý từ những năm 1920 Follett nhận thấy quản lý là

một dòng chảy, có tiến trình liên tục và rất năng động, vì nếu một vấn đề đượcgiải quyết trong quá trình quản lý thì nó sẽ làm nảy sinh những vấn đề mới và bànhấn mạnh đến hai khía cạnh:

1) Quan tâm đến người lao động trong quá trình giải quyết vấn đề

2) Nhà quản lý phải năng động, không quá nguyên tắc cứng nhắc

Follett dã quan sát để nghiên cứu cách thức giải quyết công việc của các nhàquản lý và bà thấy rõ sự phối hợp giữa vai trò vai trò quyết định với các hoạtđộng quản lý, bà đưa ra 4 nguyên tắc về sự phối hợp:

1) Người chịu trách nhiệm ra quyết định phải có sự tiếp xuc trực tiếp;

2) Sự phối hợp luôn giữ vai trò quan trọng trong suốt giai đoạn đầu của kếhoạch và quá trình thực hiện kế hoạch;

3) Sự phối hợp cần nhằm đến mọi yếu tố trong từng tình huống cụ thế;

4) Sự phối hợp phải được tiến hành liên tục

Follett cho rằng các nhà quản lý cấp cơ sở là những người có địa vị thíchhợp nhất để phối hợp các nhiệm vụ, bởi họ có thể tăng sự truyền thông với cácđồng nghiệp, cấp dưới, từ đó nhà quản lý có thể có được những thông tin chínhxác nhất phục vụ cho việc ra quyết định Công việc của các nhà quản lý ở tất cảcác cấp còn là thiết lập các mối quan hệ tốt với cấp dưới của họ, tuy quá trình này

có thể gặp khó khăn về tâm lý Các nhà quản lý cần tìm cách giải quyết nhữngxung đột trong nội bộ họ phụ trách, để làm tốt họ nên tích cực tiếp xúc và truyềnthông với đồng nghiệp và cấp dưới, quá trình này sẽ tạo được sự hiểu biết giữacác bên

b) Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908 - 1970):

Là nhà tâm lý học đã xây dựng một lý thuyết về nhu cầu của con ngườigồm 5 cấp bậc được xếp từ thấp lên cao theo thứ tự:

(1) Nhu cầu sinh tồn

(2) Nhu cầu an toàn

(3) Nhu cầu xã hội

(4) Nhu cầu được tôn trọng

(5) Nhu cầu sáng tạo

Nhà quản lý cần hiểu rõ nhu cầu của con người để có những phương phápquản lý phù hợp nhằm tạo được động lực, phát huy hết khả năng của đối tượngquản lý - những thành viên trong tổ chức, làm cho tổ chức phát triển có hiệu quảđạt được những mục tiêu đã đề ra

Trang 17

c) Thuyết X- thuyết Y của Douglas Mc Gregor (1906 - 1964)

Là một nhà khoa học nghiên cứu hành vi của con người trong tổ chức.Thuyết hành vi trong quản lý nổi tiếng của ông là thuyết X và thuyết Y Ôngcho rằng các nhà quản lý trước đây đã tiến hành các cách thức quản lý trênnhững giả thuyết sai lầm về tác phong và hành vi của con người

Dựa trên quan niệm nhân bản và lạc quan hơn về hành vi chung củangười lao động Thuyết Y quan tâm đến khả năng của con người tự tạo rađộng cơ làm việc; kết hợp lý trí với tình cảm; khả năng tự định hướng và tự chủ

để đạt được mục tiêu của tổ chức khi nó thống nhất với mục tiêu cá nhân.Thuyết Y cho rằng con người sẽ thích thú với công việc nếu có được nhữngthuận lợi và họ có thể đóng góp nhiều điều hơn cho tổ chức Thay vì nhấnmạnh đến cơ chế kiểm tra, Mc.Grregor cho rằng nhà quản lý nên quan tâmnhiều hơn đến sự phối hợp hoạt động, đến mặt nhân văn của xí nghiệp

Thuyết X cho rằng:

- Phần đông mọi người đều không thích làm việc nên luôn có xu hướngtránh công việc nếu có cơ hội;

- Thích được chỉ huy hơn là tự chịu trách nhiệm;

- Phần lớn con người làm việc vì lợi ích vật chất;

- Con người thường muốn lấy mình làm trung tâm không quan tâm đếnmục tiêu của tổ chức;

- Không thích sự cải cách, không linh lợi, dễ bị lừa

Vì vậy, các nhà quản lý đã xây dựng những bộ máy tổ chức với quyềnhành tập trung đặt ra nhiều quy tắc thủ tục, đồng thời với một hệ thống kiểm tragiám sát chặt chẽ để quản lý hiệu quả đối với những người thuộc thuyết X

Thuyết Y cho rằng:

- Con người đều có đều có bản tính là lao động, nghỉ ngơi, giải trí;

- Phần lớn mọi người có khả năng giải quyết các vấn đề của tổ chức, chỉ cómột số ít là không có khả năng đó;

- Con người luôn có nhu cầu về vật chất nhưng không phải là tất cả mà đaphần họ muốn có tiền, có quyền tự chủ nhưng phải được tôn trọng;

- Trải qua kinh nghiệm giúp con người trở thành người chăm chỉ hoặc làngười lười biếng, chăm chỉ hay lười biếng không phải là thiên tính

Vì vậy các nhà quản lý cần có các chức năng, những phương pháp quản lýthích hợp để phát huy được tiềm năng trí tuệ của con người, hình thành và pháthuy những đức tính tốt đẹp đồng thời hạn chế những mặt yếu kém

Sự khác nhau cơ bản giữa thuyết X và thuyết Y là ở chỗ, thuyết X đề cậpđến phương thức quản lý truyền thống, tập trung và chuyên quyền; còn thuyết Y

đề cao tính dân chủ Ngày nay các nhà quản lý cho rằng, hai thuyết X và thuyết

Y thể hiện hai khuynh hướng trái ngược nhau về quản lý con người, tuy nhiênkhông thể chỉ có một sự lựa chọn để áp dụng ở mọi nơi, mọi lúc Khi thừa nhận

Ngày đăng: 07/01/2023, 13:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w