1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh thừa thiên huế

89 6 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả Trần Thị Thúy Loan
Người hướng dẫn TS. Lương Minh Việt
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 165,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ / / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRẦN THỊ THÚY LOAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ LUẬN[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành : Quản lý công

Người hướng dẫn khoa học: TS LƯƠNG MINH VIỆT

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, đề tài “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào.

Học viên

Trần Thị Thúy Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian chuẩn bị và thực hiện Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lýcông, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Học viện Hànhchính Quốc gia, Khoa Sau đại học; các thầy cô giáo; lãnh đạo Phân viện Học việnHành chính Quốc gia tại thành phố Huế và đặc biệt là sự hướng dẫn, giúp đỡ tậntình của người hướng dẫn khoa học là TS Lương Minh Việt đã giúp tôi hoàn thànhluận văn này

Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và phứctạp, mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các đồng nghiệp mà đặc biệt là sự chỉbảo tận tình của thầy giáo TS Lương Minh Việt Nhưng do sự hiểu biết của bảnthân còn hạn chế, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhậnđược sự góp ý chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo để đề tài nghiên cứu được hoànthiện hơn

Thừa Thiên Huế, ngày 20 tháng 4 năm 2018

Học viên

Trần Thị Thúy Loan

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

DNFDI : Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

ĐTNN : Đầu tư nước ngoài

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GCNĐT : Giấy chứng nhận đầu tư

HNKTQT : Hội nhập kinh tế quốc tế

KCN, KKT : Khu công nghiệp, khu kinh tế

KT-XH : Kinh tế - xã hội

ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức

QLNN : Quản lý Nhà nước

SXKD : Sản xuất kinh doanh

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu của luận văn

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay đầu tư trực tiếp nướcngoài (Foreign Direct Investment - FDI) trở thành xu thế tất yếu của các quốc giatrên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Chính

vì vậy, muốn thu hút FDI có hiệu quả thì công tác quản lý có vai trò quyết định Kể

từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực (năm 1988, đã được bổ sung, sửa đổinăm 2014), các DNFDI đã khẳng định được vị trí của mình và trở thành một bộphận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhận thức được tầm quan trọng củavấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác thu hút FDI như banhành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường hiệuquả hoạt động FDI, trong đó rất chú trọng việc nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệuquả (QLNN) về lĩnh vực này Theo đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật vềFDI ngày càng được hoàn thiện, có tính khả thi cao, điều chỉnh khá toàn diện hoạtđộng của các DNFDI

Thừa Thiên Huế là địa phương được đánh giá có nhiều lợi thế so sánhtrong phát triển KT-XH, đặc biệt là các lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiênnhiên, văn hóa - lịch sử Cùng với các tỉnh và thành phố khác trong nước, nhữngnăm qua tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều cố gắng trong việc thu hút vốn FDI đểđẩy mạnh phát triển KT-XH, góp phần tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuấtkhẩu của tỉnh, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách, nâng cao trình độ khoa họccông nghệ; giải quyết việc làm cho người lao động; làm tăng thu nhập và cải thiệnđời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân Nhìn chung, công tác QLNN vềhoạt động của các DNFDI đã và đang dần đi vào chiều sâu, có sự phối hợp chặtchẽ giữa các cơ quan trong quản lý nguồn lực FDI các cấp; hoạt động xúc tiếnđầu tư cũng đã có nhiều đổi mới về phương thức và nâng cao chất lượng, qua đógóp phần không nhỏ trong việc thu hút nguồn vốn FDI Tuy nhiên, thời gian qua

do nhiều nguyên nhân, việc chuyển lợi thế so sánh này thành lợi thế cạnh tranh

Trang 9

trong thu hút đầu tư, thúc đẩy KT-XH tỉnh nhà phát triển vẫn chưa đạt hiệu quảnhư mong muốn Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác QLNN về cácDNFDI trên địa bàn tỉnh vẫn còn những bất cập như:

- Các văn bản quy phạm pháp luật về thu hút FDI hiện hành vừa thiếu,vừa chồng chéo, mâu thuẫn; nhiều văn bản sớm lỗi thời lạc hậu, bất cập trongthực tế Tình trạng thiếu thống nhất, không bảo đảm đồng bộ của các văn bảnquy phạm pháp luật về thu hút FDI gây ảnh hưởng không nhỏ trong quá trìnhquản lý và thực hiện

- Cùng với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và HNKTQT, nền kinh tế ViệtNam có sự thay đổi nhanh, mạnh, tăng trưởng không ngừng về mọi mặt Điều nàydẫn đến QLNN về DNFDI của Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nóiriêng không theo kịp với nhu cầu cũng như tốc độ phát triển của xã hội

- Việc phân cấp quản lý, phân công nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa các cơquan liên quan đến hoạt động thu hút FDI còn chưa hợp lý, chưa phù hợp với nănglực, trình độ, chưa rõ trách nhiệm, nhiều đầu mối, nhiều ngành tham gia

Do vậy, hoàn thiện QLNN đối với DNFDI trên địa bản tỉnh Thừa Thiên Huế

để các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn, góp phần tích cực vào sự pháttriển KT-XH của tỉnh vừa là vấn đề cấp bách, đồng thời cũng là vấn đề cơ bản lâu

dài đối với tỉnh Thừa Thiên Huế Đây cũng là lý do để học viên chọn đề tài: “Quản

lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” làm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong quá trình làm luận văn, học viên đã tìm hiểu một số công trình nghiêncứu khoa học, luận văn, bài viết về QLNN đối với các DNFDI như:

- Đào Quang Thu (2013), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, 25 năm

thu hút và phát triển”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ

chức năm 2013, đã phân tích, đánh giá những kết quả đạt được của FDI, đồng thờichỉ ra những tồn tại, hạn chế của khu vực FDI Từ đó đưa ra các giải pháp thúc đẩy

và nâng cao chất lượng thu hút FDI trong giai đoạn tới

Trang 10

- Nguyễn Thị Thanh Hải (2015), “Quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Luận

văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Với đề tài nghiên cứunày, tác giả đã đưa ra một số nội dung sau: (1) cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn

về DNFDI, khẳng định vai trò của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế;nêu lên sự cần thiết khách quan của công tác QLNN đối với loại hình DNFDI hiệnnay (2) Nêu hoạt động của các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đánh giáthực trạng hoạt động QLNN đối với các doanh nghiệp đó, các thành tựu đạt được,một số hạn chế, yếu kém cần khắc phục và chỉ ra các nguyên nhân của các hạn chế,yếu kém đó (3) Đưa ra phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạtđộng QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Nguyễn Thị Chiêu (2017), “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ

Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia; Nguyễn Văn Hùng (2010), “Hoàn

thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Các đề tài nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về côngtác QLNN đối các DNFDI trong những năm qua, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệmcủa một số quốc gia và các địa phương ở Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp nhằmhoàn thiện QLNN đối với các DNFDI ở địa phương mà đề tài tiến hành nghiên cứu

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khácnhau của QLNN đối với hoạt động FDI nói chung và các DNFDI nói riêng Tuynhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cơ bản, hệ thống về QLNNđối với các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3 1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLNN đối với các DNFDI, luậnvăn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn vấn đề QLNN đối với các DNFDItrên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Khái quát và hệ thống hoá một số lý luận cơ bản của việc hoàn thiện QLNNđối với các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Chỉ ra những đặc điểm và đánh giá, phân tích thực trạng QLNN đối với cácDNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó rút ra những kết quả đạt được, cácmặt tồn tại và nguyên nhân;

- Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN đốivới các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

QLNN đối với các DNFDI và thực tiễn QLNN đối với các DNFDI trên địabàn tỉnh Thừa Thiên Huế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Về không gian

Luận văn tập trung nghiên cứu QLNN về các DNFDI trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế từ khâu thành lập đến khâu thoái lui của DNFDI, không nghiên cứu sựQLNN ở khâu thu hút FDI và xúc tiến đầu tư FDI

4.2.2 Về thời gian

Luận văn nghiên cứu hoạt động QLNN đối với các DNFDI trong khoảng thờigian từ năm 2013 đến 2017 và thời gian của tầm nhìn định hướng đến năm 2021

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng trong quá trình nghiêncứu luận văn là:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: sử dụng trong chương 1;

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sử dụng trong chương 1 phần kinhnghiệm của các địa phương, chương 2 khi phân tích các số liệu về DNFDI và tìnhhình KT-XH của tỉnh Thừa Thiên Huế;

Trang 12

- Phương pháp thống kê, xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin, số liệu: sửdụng trong chương 2 khi đưa ra các số liệu về các DNFDI cũng như hiệu quả màcác DNFDI hiện diện trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế mang lại.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa và hoàn thiện một số vấn đề về lý luận có liênquan đến QLNN đối với các DNFDI

Căn cứ vào thực trạng QLNN đối với các DNFDI tại Thừa Thiên Huế, từ đóphân tích đánh giá, rút ra những kết quả đạt được, các mặt tồn tại và nguyên nhân

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

1.1 Lý luận chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI:Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công tynước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhânhay công ty nước ngoài đó nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này [29]

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có được một tài sản ở một nước kháccùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI vớicác công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản màngười đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp

đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là

“công ty con” hay “chi nhánh công ty”

Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 đề cập đến khíacạnh khác của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: số vốn đầu tư được thực hiện để thuđược lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nềnkinh tế của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạthiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơbản giữa đầu tư trực tiếp với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư

1.1.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tại Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam: “DNFDI gồm doanh nghiệp

do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanhnghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” [7]

Trang 14

Luật đầu tư năm 2014, không đề cập cụ thể đến doanh nghiệp FDI nhưng có

đề cập đến đầu tư kinh doanh và nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể: “Đầu tư kinhdoanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thôngqua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của

tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” và

“Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theopháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.” [8]

Tuy có rất nhiều cách hiểu, cách quan niệm khác nhau nhưng có thể hiểu một

cách chung nhất là: DNFDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ

vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần; trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định của luật pháp nước sở tại và thông lệ quốc tế.

Theo khái niệm này, DNFDI khác với các doanh nghiệp khác trong nước là

do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ, hoặc một phần Về quyền quản lýdoanh nghiệp thì có thể trực tiếp hoặc tham gia tùy theo lượng vốn góp Mục đíchcủa DNFDI trước hết và chủ yếu là ở lợi nhuận và chịu sự điều chỉnh của pháp luật

cả quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế

1.1.2 Nguyên nhân xuất hiện doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thông thường, người dân nước nào thì sinh cơ lập nghiệp ở nước đó, hoặc sẽ

đi xuất khẩu lao động, đi làm thuê ở nước ngoài Bên cạnh đó, từ lâu ở nhiều nướctrên thế giới cũng có những doanh nghiệp mà chủ nhân của nó là người nước ngoài,nhưng những người nước ngoài này có “địa vị pháp lý” hoặc “tư cách pháp nhân/tưcách thể nhân” khá đa dạng và có tính ngẫu nhiên, như ngoại kiều, người di tản, di

cư, người tị nạn khác hẳn những chủ nhân của các doanh nghiệp được gọi làDNFDI ngày nay Vậy tại sao cần có loại doanh nghiệp FDI này ở các nước màtrước hết là các nước đang hay chậm phát triển

Thứ nhất, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu toàn diện và không

ngừng tăng, trong khi đó, không có quốc gia nào đủ nguồn lực để sản xuất kinhdoanh (SXKD) nhằm đáp ứng nhu cầu toàn diện và không ngừng tăng đó

Trang 15

Về nhu cầu, dân nước nào cũng cần ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh,vui chơi giải trí với chất lượng ngày càng cao Cùng với nhu cầu của sinh hoạt lànhu cầu về tư liệu sản xuất, cụ thể là năng lượng, nguyên liệu, máy móc thiết bị, từthô sơ, sơ cấp đến hiện đại, cao cấp.

Về nguồn lực, không phải quốc gia nào cũng có đủ nguồn tài nguyên, đủvốn, đủ “người tài”, gọi một cách chính xác về thuật ngữ là “lao động chất lượngcao” Ngay cả Liên bang Xô Viết trước đây, với diện tích bằng 1/6 diện tích toàn thếgiới, hay như Trung Quốc, Ấn Độ, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày nay cũng khôngphải là nước có tất cả mọi nguồn lực Bên cạnh đó, còn rất nhiều nước thiếu nguyênliệu vì nghèo tài nguyên hoặc có tài nguyên nhưng là thứ tài nguyên cực khó khaithác, sử dụng như Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nước Châu Âu Đã từ lâu, dân ViệtNam không dám chủ quan là đất nước mình có “rừng vàng, biển bạc”, vì rừng hiệnnay đã bị khai thác nhiều, còn biển thì tuy có dầu mỏ, nhưng với vốn đầu tư và trình

độ hiện tại thì người Việt khó để làm ra các sản phẩm có hiệu quả Chúng ta tuy đãkhai thác được dầu mỏ nhưng là nhờ sự trợ giúp về công nghệ của các nước khác,tuy nhiên chúng ta lại xuất khẩu dầu thô thay vì chế biến ra các sản phẩm của hóadầu, chính vì vậy lợi nhuận không cao

Thứ hai, trong mọi việc, điển hình là trong SXKD, việc phân công chuyên

môn hóa, kế đó là hiệp tác lao động chặt chẽ và tin cậy nhau, là con đường khoahọc, hợp lý nhất để mọi công việc được tiến hành với năng suất cao, hiệu quả lớn

Người Việt Nam từ xưa đã xem trọng và phát huy sự chuyên môn hóa trongsản xuất, chính vì vậy, trong mọi hoạt động, người Việt Nam đều đi theo hướngchuyên sâu, việc hình thành nên các làng nghề chuyên biệt, truyền thống là một ví

dụ cụ thể Việc phân công chuyên môn hóa giúp cho công việc trôi chảy, dễ kiểmsoát và một người chuyên sâu vào công việc thì sẽ giỏi và dễ xử lý những tìnhhuống khó khăn xảy ra, mang lại năng suất cao, hiệu quả lớn trong công việc Vàtrên phạm vi toàn thế giới, toàn cầu hóa và HNKTQT chính là việc làm theo sựphân công chuyên môn hóa đó

Trang 16

Thứ ba, trên tầm quốc tế, sự toàn cầu hóa và HNKTQT được tiến hành theo

bốn kênh chính sau đây:

Một là, trao đổi hàng hóa, gọi khác đi là “ngoại thương”

Hai là, trao đổi lao động hoặc dịch vụ Riêng về lao động, nói giản đơn làxuất - nhập khẩu lao động

Ba là, trao đổi trí tuệ hay xuất nhập khẩu phát minh sáng chế với nhiều cấp

độ khác nhau về quyền sở hữu trí tuệ

Bốn là, xuất nhập khẩu vốn đầu tư, trong đó có hai dạng:

- Cho vay đầu tư, gọi tắt tiếng Anh là ODA

- Các công dân, tổ chức công dân mang vốn của mình sang nước ngoài mởdoanh nghiệp và trực tiếp SXKD Loại vốn đi theo lối này gọi tắt tiếng Anh là FDI,các doanh nghiệp được tạo nên bằng vốn này gọi là DNFDI

1.1.3 Các loại doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Xuất hiện và hoạt động ở nước ngoài, FDI tồn tại dưới các loại hình doanhnghiệp cơ bản sau đây:

- DNFDI độc lập: Đó là các DNFDI không tham gia vào các nhóm DN nào

của bản xứ

- DNFDI hợp tác: Đó là các DNFDI độc lập về vốn, về quyền SXKD nhưng

là thành viên của một tổ hợp kinh tế nào đó của bản xứ để cùng thực hiện mộtchương trình mục tiêu chung nào đó, như tổ hợp hóa - dầu, tổ hợp chế biếnxenlluloz, tổ hợp cơ khí - luyện kim, tổ hợp công nghiệp vật liệu xây dựn

- DNFDI liên doanh: Đó chính là các công ty cổ phần, trong đó, FDI chỉ làmột phần của vốn SXKD của một công ty cổ phần nào đó, phần còn lại là vốn củanhà nước hoặc của doanh nhân nước sở tại

Mỗi loại hình DNFDI kể trên luôn có sự đấu tranh, mâu thuẫn lẫn nhau giữanước sở tại và với chủ FDI Nhìn chung, các chủ FDI đều thích tự do, vì vậy, khi xinphép đầu tư, họ thường cố gắng thương thuyết để được thành lập DNFDI dạng thứnhất Còn nước sở tại thì thường muốn FDI tồn tại dưới dạng thứ hai và ba, vì lợiích quốc gia về nhiều mặt, cả kinh tế lẫn văn hóa xã hội, khoa học và công nghệ,trật tự trị an,

Trang 17

1.1.4 Những hiệu quả mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại

FDI góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêmcông ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách Nhà nước và ổn địnhkinh tế vĩ mô Ngoài ra, sự tồn tại và hoạt động của các DNFDI là yếu tố tích cực đểthúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh môi trường sản xuất kinh doanh, từ đó buộc cácdoanh nghiệp trong nước phải đầu tư đổi mới công nghệ; cải tiến công tác quản lý

để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

FDI giúp cho nước tiếp nhận đầu tư tháo gỡ những khó khăn, lúng túng banđầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý - kinh doanh quốc tế, hoàn thiện môi trườngpháp lý, chính sách tài chính, tiền tệ, phát triển hạ tầng cứng-mềm, các thủ tục hảiquan, thủ tục thuế, cải cách hành chính mà nhất là thủ tục hành chính,…

Xét về tổng thể, các DNFDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ cho ngân sáchNhà nước Đặc biệt FDI là một nguồn quan trọng khác để khắc phục tình trạng thiếuvốn mà không gây nợ cho bên nhận đầu tư, hơn nữa, lượng vốn vay này thường cóthời gian trả nợ vốn vay khá linh hoạt

Chuyển giao và phát triển công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm thu đượclợi nhuận tối đa Đối với những địa bàn kinh tế lạc hậu, chủ yếu dựa vào khu vựcnông nghiệp thì việc chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp đầu tư trựctiếp nước ngoài là một giải pháp khá tiết kiệm và an toàn FDI thúc đẩy sự đổi mới

kỹ thuật công nghệ, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là các ngành có hàmlượng kỹ thuật cao

FDI góp phần tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm ởđịa phương nhận đầu tư, nhất là các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc,điện tử, chế biến, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phậntrong cộng đồng dân cư FDI giúp cho việc hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, côngnhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học,

kỹ thuật, công nghệ cao và tác phong công nghiệp hiện đại, có kỷ luật lao động tốt

FDI góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển xuất, nhập khẩu Thông qua xuất nhập khẩu

Trang 18

cho phép khai thác lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyênmôn hóa sản xuất FDI góp phần thúc đẩy trao đổi thông tin, tăng cường kiến thứcmarketing cho các doanh nghiệp nội địa và lôi kéo họ vào mạng lưới toàn cầu.

1.1.5 Những bất lợi đối với quốc gia có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên lãnh thổ

Bên cạnh những hiệu quả mà các DNFDI mang lại, các quốc gia tiếp nhậnđầu tư gặp phải những bất lợi ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển KT-XH Đó là:

Thứ nhất, tàn phá tài nguyên và ô nhiễm môi trường.

Mục tiêu của các DNFDI là tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế chi phí Do đó,trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, nhiều DNFDI đã chú trọng khai thác nhiềutài nguyên tự nhiên (nhất là tài nguyên không tái tạo như khai thác mỏ khoáng sản),không những thế chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh gây tàn phá môi trường

tự nhiên một cách nghiêm trọng Trong những năm trở lại đây, các DNFDI đã đã đểlại những hệ lụy về mặt môi trường Đã có nhiều vụ xả thải gây ô nhiễm môi trườnglàm chấn động dư luận trong thời gian qua và hậu quả của nó là không gì bù đắpnổi Vụ việc ô nhiễm môi trường tại miền Trung vừa qua là đỉnh điểm của vấn nạnnày Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Đài Loan) là thủphạm gây ra thảm họa môi trường lớn nhất tại Việt Nam từ trước đến nay Công tynày đã gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng khiến cá chết hàng loạt tại bốntỉnh khu vực miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế khi xả nước thải chưa qua

Trang 19

trạng phá sản Nhiều ngành sản xuất mới trong nước khó có thể cạnh tranh được vớicác công ty xuyên quốc gia, do vậy, sẽ bị ảnh hưởng trong quá trình phát triển

Thứ ba, tạo ra một số vấn đề xã hội.

Điểm khác biệt của các DNFDI so với các doanh nghiệp trong nước là chênhlệch thu nhập của người lao động, cụ thể là chênh lệch giữa người quản lý và laođộng trực tiếp Thu nhập của người làm việc trong các DNFDI cao hơn so với cácdoanh nghiệp trong nước cùng loại, tạo ra sự phân biệt về thu nhập, đời sống giữacác tầng lớp trong xã hội Các DNFDI có xu hướng thu hút nhân lực giỏi từ khu vựcdoanh nghiệp trong nước và cơ quan quản lý nhà nước Điều này đã dẫn đến hiệntượng "chảy máu chất xám"

Ngược lại, một số chủ doanh nghiệp đối xử bất công, xúc phạm nhân phẩmđối với người lao động, làm phát sinh những mâu thuẫn, hành động phản kháng củacông nhân Việt Nam như xô xát, đình công, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và quan hệhợp tác, hữu nghị giữa nhà đầu tư và tập thể lao động trong doanh nghiệp

Nhiều DNFDI, đặc biệt kinh doanh sản xuất trong các ngành dệt may, giày

da thường sử dụng nhiều lao động, mà nguồn lao động chủ yếu từ vùng nông thôn

Do vậy một bộ phận dân cư từ nông thôn của địa phương, và một lượng lớn laođộng từ các tỉnh lân cận đổ về khu vực có các DNFDI, gây nên sức ép rất lớn về chỗ

Trang 20

Sự ổn định này là điều kiện thu hút FDI vì thiếu sự ổn định, các chủ DNFDI

sẽ thấy bất an, thiếu tin tưởng vào sự thống nhất của Nhà nước sở tại Vì thế, họkhông chấp nhận vào đầu tư tại những nước thường xuyên thay đổi chính sách kinh

tế vĩ mô

1.1.6.3 Môi trường pháp lý tốt

Môi trường pháp lý tốt bao gồm hai mặt chính sau đây:

- Hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch

- Nền hành chính nhà nước trong sạch, hiện đại

Đây là điều kiện rất được các nhà đầu tư FDI quan tâm khi quyết định thâmnhập một quốc gia nào đó Bởi vì, thiếu những điều kiện trên, lợi ích của họ sẽkhông được bảo đảm bằng pháp luật, quá trình giao dịch với chính quyền sở tại sẽ

bị phiền hà, tốn kém

1.1.6.4 Có kết cấu hạ tầng tốt

Hạ tầng cơ sở cho FDI bao gồm nhiều loại, trong đó điển hình là:

- Các “bãi công nghiệp” (Park Industry) hiện đại, tiện nghi

- Hệ thống giao thông quốc gia thuận lợi

- Hệ thống thị trường đồng bộ: thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản

- Các cơ sở dịch vụ thông tin, chuyển tiền, nhà làm việc…

Yếu tố này được coi là điều kiện thu hút FDI vì chúng có ý nghĩa trực tiếpđến quá trình vận hành FDI của các chủ đầu tư

1.1.6.5 Có nhiều dự án FDI đã triển khai với hiệu quả tốt

Vì mục tiêu của FDI là nhằm thu lợi nhuận cao, do vậy, nếu các dự án FDI

đã được triển khai đạt tỷ suất lợi nhuận cao sẽ khuyến khích và củng cố thêm niềmtin cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư để tái sản xuất mở rộng, đồng thời

có sức thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài khác yên tâm đầu tư Điều này sẽgiúp cho nguồn vốn FDI tiếp tục tăng Ngược lại, nếu các dự án đang triển khai kinhdoanh không hiệu quả, thường xuyên thua lỗ sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư, vì họcho rằng môi trường đầu tư đã có rủi ro

Trang 21

1.1.6.6 Môi trường kinh tế - xã hội

Môi trường KT-XH cho FDI bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tốđiển hình là:

- Hệ thống doanh nghiệp và doanh nhân của nước sở tại Các doanh nghiệp,doanh nhân này có đông đảo, đủ mạnh, đủ trình độ hoạt động SXKD hiện đại, vănminh hay không

- Sự thiện cảm xã hội đối với FDI và doanh nhân nước ngoài

Các nhà đầu tư FDI quan tâm đến nhân tố này, vì khi đưa FDI vào một quốcgia nào đó, họ cần có đối tác ngang tầm và cần được sự đồng tình, ủng hộ và tươngtác của dân chúng

1.2 Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa bàn cấp tỉnh

1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Việc QLNN đối với DNFDI là điều đặc biệt cần thiết, vì những lý do chủ yếusau đây:

Một là, vì tác dụng to lớn, nhiều mặt của DNFDI.

Điều này đã được học viên phân tích, trình bày trong tiểu mục “1.1.4 Những hiệu quả mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại”

-Hai là, vì DNFDI có thể gây bất lợi nhiều mặt cho quốc gia, nơi chúng có

mặt và hoạt động

Điều này đã được trình khá tường tận trong tiểu mục “1.1.5 - Những bấtlợi đối với quốc gia có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trênlãnh thổ”

Ba là, vì DNFDI cần những điều kiện của quốc gia cần nó, mà thiếu các điều

kiện này, các DNFDI sẽ không ra đời ở nơi thiếu điều kiện đó

Những điều kiện mà các DNFDI cần đã được trình khá tường tận trong tiểumục “1.1.6 - Điều kiện để FDI có thể vào được các quốc gia” ở trên

Bốn là, vì các chủ DNFDI dễ “lạc lõng” tại địa bàn mà họ đầu tư.

Trang 22

Tất cả các quốc gia trên toàn cầu đều cần FDI, nhưng ở các nước phát triểnthì nhu cầu không cao, phần lớn là các nước lạc hậu, kém phát triển thì cần lượngvốn FDI đầu tư vào nhiều hơn để khắc phục sự thiếu hụt nhiều mặt của bản thân.Chính vì thế, những nước tiếp nhận đầu tư này thường là những nước xa lạ về mọimặt đối với các chủ DNFDI đến từ các nước tiên tiến Sự khác biệt này không chỉthuần túy là màu da, tiếng nói, lịch sử, địa lý mà còn là sự khác biệt liên quan đếnvăn hóa, khoa học, môi trường sản xuất kinh doanh… Chính vì vậy, cần có sựQLNN của nước sở tại đối với các DNFDI để điều chỉnh những vấn đề phát sinhnày, giúp cho các DNFDI không cảm thấy bị lạc lỏng tại nước sở tại.

Năm là, vì các DNFDI thường gây bất lợi cho nước sở tại.

DNFDI có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, chính vì thế họ có thể bất chấpnhững đòi hỏi tôn trọng truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc, khai thác tàinguyên quá mức, không quan tâm tới việc xử lý ô nhiễm môi trường, đẩy mạnh bóclột người lao động bằng các hình thức tăng cường độ lao động đối với công nhân,kéo dài thời gian làm việc, cắt xén điều kiện bảo hộ lao động, làm phân hóa đội ngũcán bộ, “chảy máu chất xám” Điều đó có thể gây nên mâu thuẫn và làm này sinhnhiều vấn đề mới trong xã hội

Đứng trước một thách thức lớn như vậy, không chỉ mang tính kinh tế, màthậm chí còn có thể liên quan đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội… thì sựQLNN đối với vấn đề này càng cần thiết, càng quan trọng và phải quản lý ở mứccao độ để đảm bảo sự an toàn tối đa nhất

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ đặc thù của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.2.1 Bảo đảm cho đất nước có được hệ thống doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà đất nước cần

Chức năng của QLNN đối với các DNFDI là thu hút được FDI và hình thànhđược các DNFDI trên địa bàn theo đúng phương hướng và mức độ mà quốc gia cần,tức là tạo được những DNFDI có lợi nhất cho quốc gia, biểu hiện bằng những đặcđiểm như sau:

Trang 23

- Vốn và chủ của vốn đó đến từ các quốc gia giàu thiện chí hòa bình, hữunghị, hợp tác và cũng là các nước có thế mạnh mà đất nước cần.

- Các DNFDI có đầu ra, đầu vào có ích cho sự phát triển KT-XH của đất nước

- Các DNFDI có trình độ khoa học và công nghệ, trình độ tổ chức sảnxuất, trình độ quản trị kinh doanh có giá trị là tấm gương, trường học thực tiễnđối với đất nước

- Các DNFDI tôn trọng lợi ích của nhà nước, của nhân dân nơi họ đóng vàhoạt động SXKD tại nước sở tại

1.2.2.2 Hỗ trợ các các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được đầy đủ nhất các mục tiêu chân chính, hợp pháp trong SXKD của họ

Có nghĩa là, khi các DNFDI đã xuất hiện với bản chất là các doanh nghiệp

mà đất nước cần, thì chức năng của QLNN là giúp đỡ họ theo tinh thần hòa bình,hữu nghị, mở cửa, hội nhập, đôi bên cùng có lợi, cùng phát triển

Chức năng này xuất phát từ yêu cầu và lợi ích của cả hai phía:

- Với các chủ nhân DNFDI, họ cần sự hỗ trợ này vì từ xa đến, tất cả đều rất

xa lạ, mới mẻ đối với họ

- Với chủ nhân đất nước đón các DNFDI, việc hỗ trợ các DNFDI chỉ có lợicho đất nước mình là: Họ SXKD có hiệu quả thì việc nước sở tại cho họ đến đầu tưmới có ý nghĩa Nếu không, thì việc đón rước DNFDI đến nước mình sẽ khôngmang lại lợi ích gì, thậm chí có khi còn gây hậu quả xấu

1.2.3 Đối tượng, phạm vi đặc thù của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong việc QLNN đối với các DNFDI, nhà QLNN cần chú ý đặc biệt các đốitượng và phạm vi QLNN như sau:

Một là, hướng sản xuất kinh doanh của DNFDI

Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, quyết định sự “lợi - hại” đối với đất nước

do việc có mặt của các DNFDI trên đất nước Bởi vì, từ chuyện “sản xuất cái gì” sẽphát sinh ảnh hưởng đến nhiều mặt của người tiêu dùng là dân chúng, chuyện sửdụng tài nguyên, nhân lực, chuyện ô nhiễm môi trường Ngoài ra, nhà QLNN còn

Trang 24

cần biết hướng SXKD của nhà đầu tư để xem có đúng với định hướng phát triểnkinh tế của quốc gia, của địa phương tiếp nhận đầu tư hay không?

Hai là, nguồn gốc, xuất xứ của DNFDI

Tức là, QLNN phải biết chủ nhân của DNFDI là ai (Đến từ quốc gia nào,nhân thân và công ty của họ ra sao?)

Đây là vấn đề liên quan đến sự tạo nên nhiều giá trị về chính trị, ngoại giao

do DNFDI đưa lại Với chức năng này, QLNN không được để cho bất kỳ chủ nhânnào của DNFDI vào đất nước mình mà không có sự cân nhắc, tuyển chọn chu đáo,

kỹ lưỡng của QLNN Không làm được điều này, QLNN có thể biến việc thu hútFDI thành việc tạo dựng một hiểm họa lớn cho chính nơi tiếp nhận đầu tư

Ba là, chất lượng tri thức của DNFDI được thu hút

Đây là vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm, giá trị tri thức của chấtlượng sản phẩm và của chính thiết bị, công nghệ, được các chủ DNFDI du nhập vàođịa bàn xây dựng các DNFDI này

Chức trách QLNN về mặt này là bảo đảm cho nền KTQD chuyển dần theohướng là kinh tế tri thức, từ sản phẩm kinh tế mà nó tạo ra đến các phương tiện nódùng để làm ra sản phẩm QLNN tốt về mặt này cũng là để không xảy ra tình trạng,

mà công luận đã kết án là, “Người ta đã biến các vùng nông thôn nghèo không phảithành các khu công nghiệp hiện đại kèm theo là các khu đô thị hiện đại, tiện nghi,

mà thành những đại công trường thủ công hay bãi rác công nghiệp”

Bốn là, các yếu tố đầu vào của các DNFDI, trong đó có nguyên liệu và lao

động, ngoài phần KH-CN đã nói ở trên

Đây là một mặt của đối tượng QLNN đối với DNFDI, rất có ý nghĩa đối vớinơi tiếp nhận DNFDI là các đô thị lớn Việc các chủ DNFDI nhập nguyên liệu từđâu, nguyên liệu gì, tuyển lao động từ đâu, chất lượng chuyên môn, tư cách đạođức, ý thức tổ chức kỷ luật của lực lượng lao động này ra sao sẽ có ảnh hưởng rấtlớn đến việc đạt được mục đích hay không của việc cho các nhà đầu tư FDI này đếnnước mình Ví dụ: để đến đầu tư ở một nơi, ít nhất các DNFDI cũng phải giải quyếtđược nguồn lao động tại chỗ cho nơi đó, tạo việc làm, giảm thất nghiệp, nâng caochất lượng đời sống cho người dân tại nơi tiếp nhận đầu tư

Trang 25

Năm là, vấn đề tác động đến tài nguyên và môi trường của DNFDI

Như đã phân tích ở trên, khi các đơn vị sản xuất công nghiệp thuộc ngành khaithác và chế biến tài nguyên thì ngoài việc xâm hại môi trường, nó còn trực tiếp làm mấtdần nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá Các thiệt hại trên là điều tất yếu của bất cứ cơ

sở sản xuất nào chứ không phải riêng của các DNFDI Nhưng nếu đó là DNFDI, chủđầu tư sẽ không lưu tâm quá nhiều đến những tác hại xấu cho môi trường tại nước tiếpnhận đầu tư, thậm chí, một khi các chủ DNFDI đã không chỉ thiếu ý thức này, mà tráilại, đó còn là một dã tâm cố tình phá hoại, thì vấn đề đã không còn là vấn đề kinh tế,vấn đề xã hội mà là vấn đề an ninh và an sinh quốc gia Và vì thế, QLNN phải nhắmtới mặt này trong hoạt động của các DNFDI hoạt động trên địa bàn

Sáu là, các khó khăn trong hoạt động SXKD của DNFDI

Đối tượng và phạm vi QLNN đối với các DNFDI thuộc dạng này chính làcác mặt hoạt động SXKD của các DNFDI mà Nhà nước sở tại cần quan tâm giúp đỡ

để các DNFDI này sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng là để chúng đáp ứngnhững yêu cầu của quốc gia sở tại khi đón nhận họ đến đầu tư SXKD

Với góc nhìn này về đối tượng, phạm vi của QLNN đối với các DNFDI, đốitượng và phạm vi đó thường tập trung vào các mặt chính sau đây:

Thứ nhất, đó là kết cấu hạ tầng cho sản xuất kinh doanh của DNFDI.

Thứ hai, hệ thống công nghiệp phụ trợ hay hỗ trợ các DNFDI.

Thứ ba, các thông tin KT-XH phục vụ việc quản trị kinh doanh của các DNFDI.

Đó là các thông tin có tính phổ biến mà ai làm SXKD cũng cần có, nhưthông tin về thị trường nguyên liệu, lao động, về khách hàng và đối tác, thông tin vềpháp luật và thể chế SXKD… vốn là những thông tin mà các doanh nhân nội địa ítnhiều đã có do là dân bản xứ, nhưng với chủ của các DNFDI thì đó là những thôngtin không dễ có được vì họ là người từ xa tới, còn xa lạ ở nhiều thứ, không biết cáchnắm bắt những thông tin đó như thế nào

Trên đây là một số mặt hoạt động của các DNFDI mà QLNN đối với chúng cầnphải có sự lưu ý, quan tâm, được gọi là “đối tượng, phạm vi” của QLNN đối với DNFDI

Trang 26

Trên thực tế, sự QLNN đối các DNFDI còn có thể phải đối mặt với nhiềuchuyện cụ thể khác, song về cơ bản, đó là những góc nhìn chính mà nhà QLNN đốivới các DNFDI không thể bỏ qua, nếu muốn sự QLNN đối với đối tượng này làmtròn chức năng, nhiệm vụ.

1.2.4 Những nội dung của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.4.1 Xây dựng chiến lược, kế hoạch quản lý

QLNN đối với các DNFDI được thông qua các công cụ, chiến lược, chươngtrình, kế hoạch, quy hoạch để định hướng các doanh nghiệp này theo đúng mục tiêuphát triển kinh tế của đất nước, của tỉnh

Để các DNFDI tác động tích cực đến địa bàn tiếp nhận đầu tư, giữa cácngành kinh tế và giữa các vùng thì việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và kếhoạch thu hút FDI đóng một vai trò rất quan trọng trong QLNN

Nâng cao hiệu quả QLNN đối với DNFDI đòi hỏi phải thống nhất quanđiểm, nhận thức, từ những mô hình thành công trong thực tiễn của các ngành, địaphương để hình thành thể chế, quy định chung của cả nước, tiếp cận với thể chế tốtnhất của những quốc gia đã thành công trong việc xử lý quan hệ Nhà nước với thịtrường, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh hấp dẫn, hình thành cơ cấu bộ máy

và đội ngũ công chức làm việc có hiệu quả Xây dựng chiến lược, kế hoạch thu hútFDI cần phải có tính động, không được khép kín mà phải có sự liên kết giữa cácvùng và các địa phương, đảm bảo lợi ích của cả hai bên

Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng thống nhất tổ chức bộ máyquản lý thích hợp trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp và tối ưu các chức năngquản lý của các bộ phận trong bộ máy quản lý hoạt động FDI

Bên cạnh đó, quy hoạch không thể chạy theo số lượng mà cần quan tâm đếnchất lượng dự án, theo quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh của thị trường Nhànước phải xây dựng kế hoạch hiệu quả, sát với tình hình thực tế hiện nay; cần chútrọng công tác dự báo, định hướng, cập nhật thông tin trong nước và quốc tế, cơ chếlinh hoạt trước biến động của thị trường trong nước và quốc tế

Trang 27

Các Bộ chuyên ngành lập và công bố quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật gắnvới quy hoạch vùng lãnh thổ, xây dựng tiêu chuẩn, định mức để hướng dẫn chínhquyền địa phương thực hiện, bảo đảm việc phân cấp quản lý vừa phát huy được tínhnăng động, sáng kiến của tỉnh, thành phố, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia.

Về chiến lược thu hút FDI thời gian tới, tập trung vào tiêu chí phát triển bềnvững, ưu tiên phát triển các ngành công nghệ sạch, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tàinguyên, năng lượng, đầu tư các ngành công nghiệp hỗ trợ

1.2.4.2 Chính sách ưu đãi của Nhà nước

Vào cuối năm 2014, Việt Nam đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng nhằmcải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh Trong đó có hai luật liên quan trựctiếp đến doanh nghiệp FDI, đó là Luật Đầu tư ngày 26/11/2014 và Luật Doanhnghiệp ngày 26/11/2014 và Chính phủ đã ban hành một số Nghị định, Thông tưhướng dẫn nhằm quản lý hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI Các chính

sách ưu đãi tập trung vào hai nội dung chính là ưu đãi về tài chính và ưu đãi về

chính sách đất đai

- Chính sách ưu đãi về tài chính

Trong chính sách ưu đãi về tài chính, thì ưu đãi về thuế là chính sách được

các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất khi thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp tạiViệt Nam Lộ trình điều chỉnh thuế Thu nhập doanh nghiệp từ 32% (1997) cho đến25% (2009) và gần đây nhất là 22% (hiệu lực 01.01.2014), 20% (hiệu lực01.01.2016) đã tạo một bước tiến lớn giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước

“hào hứng” hơn với việc tiến hành kinh doanh trong bối cảnh kinh tế hiện nay LuậtThuế thu nhập doanh nghiệp cũng quy định về mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễnthuế giảm thuế đối với các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; sảnxuất sản phẩm phần mềm, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y

tế, văn hoá…nhằm thu hút và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đến cáclĩnh vực này

Bên cạnh đó, thuế xuất nhập khẩu cũng góp phần tạo nên một môi trườngthuận lợi, hấp dẫn cho các nhà đầu tư Theo đó, Luật thuế xuất nhập khẩu cho phép

Trang 28

miễn thuế trong các trường hợp: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự

án khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA); nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộcdanh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư… cùng với đó là sự ra đời nhữnghiệp định về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu trong phạm vi các nước ASEAN, WTO đãgiúp các nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất sản xuất, xuất khẩu, nângcao sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế

Về chính sách tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra nhữngchính sách hỗ trợ về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND ở mức 9%đối với nhu cầu vốn trong 5 lĩnh vực sau: phục vụ nông nghiệp, nông thôn; xuấtkhẩu; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp ứng dụngcông nghệ cao

Chính sách ưu đãi về đất đai

Luật Đất đai 2013 và có 05 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai,trong đó Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước Nghịđịnh này thay thế Nghị định số 142/2005/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung.Theo quy định của Nghị định 46 thì tỷ lệ tính đơn giá thuê đất là 1%, trong một sốtrường hợp đặc biệt, UBND có thể quyết định đơn giá cao hơn (không quá 3%)hoặc thấp hơn (không quá 0,5%) Chính phủ đã thông qua việc miễn giảm tiền thuêđất, thuê mặt nước và tiền sử dụng đất; đối tượng miễn nộp tiền thuê đất trong cáctrường hợp: Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư được đầu tư tại địabàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Dự án sử dụng đất xây dựng nhà chung cưcho công nhân của các khu công nghiệp,

Ngoài ra, để kêu gọi đầu tư, Nhà nước cũng đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ

về chuyển giao công nghệ, đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ đầu tư phát triển và dịch vụđầu tư, hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp, khuchế xuất, khu công nghệ cao

Bên cạnh những chính sách chung theo quy định của pháp luật, các nhà đầu

tư có thể tham khảo các chính sách ưu đãi về mặt bằng thực hiện dự án, chi phí

Trang 29

quảng cáo, thưởng môi giới đầu tư… từ các địa phương mà mình tiến hành kinhdoanh, tạo dựng cơ sở

Các bộ, ngành, địa phương tập trung xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư phùhợp với định hướng thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2020, nâng cao chấtlượng và hiệu quả công tác quy hoạch từ khâu lập, thẩm định, phê duyệt đến quản lýquy hoạch Nâng cao hiệu quả quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời xâydựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng chuyển giácủa các doanh nghiệp FDI

1.2.4.3 Thẩm định dự án cấp phép và thực thi giấy phép

Thông qua thẩm định, Nhà nước đánh giá được mức độ phù hợp với quyhoạch tổng thể chung của ngành, địa phương; các mặt lợi hại của FDI nếu triểnkhai; cũng như thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết vĩ mô đối với doanh nghiệp FDItrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Và tương tự, các địa phương đánh giá được sựcần thiết của các dự án đầu tư FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnhmình dựa trên sự phù hợp quy hoạch

Khi thẩm định, Nhà nước và cấp địa phương cần tôn trọng, đảm bảo lợi íchchính đáng của các doanh nghiệp FDI trong quan hệ hài hoà với lợi ích chung xãhội và cần phải đưa ra các kết luận rõ ràng, chính xác về toàn bộ dự án FDI đượcthẩm định xong Trong quá trình thẩm định, các cơ quan cấp giấp phép thường xemxét kỹ các nội dung như: tư cách pháp lý, năng lực tài chính của đầu tư nước ngoài;mức độ phù hợp của mục tiêu dự án FDI với quy hoạch chung; trình độ kỹ thuật,công nghệ áp dụng phù hợp với địa bàn tiếp nhận đầu tư; hiệu quả kinh tế - xã hội

do doanh nghiệp FDI đi vào hoạt động tạo ra

1.2.4.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động doanh nghiệp

Công tác kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp FDI giúp phát hiện điểm bấthợp lý, sai trái trong tổ chức thực hiện để kịp thời điều chỉnh hoặc kiến nghị việcđiều chỉnh pháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện việc giám sát bằng cách lậpcác đoàn kiểm tra thực địa, hoặc yêu cầu báo cáo từ các doanh nghiệp Đồng thời,

Trang 30

công tác thẩm tra, cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư theo nguyên tắc tuân thủquy hoạch tổng thể phát triển các vùng, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu ;

Đồng thời thông qua việc thanh tra, kiểm tra và giám sát, còn tạo ra nguồnthông tin phản hồi từ doanh nghiệp FDI để các cơ quan quản lý Nhà nước có căn cứđánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách đãban hành

Ngoài ra, việc thẩm tra để sàng lọc bớt các nhà đầu tư thiếu năng lực là cầnthiết nhưng để quản lý các dự án đầu tư FDI hiệu quả, khâu hậu kiểm sau cấp phép

là quan trọng nhất Đặc biệt, các văn bản pháp luật sửa đổi trong thời gian tới cầntheo hướng xử lý mạnh tay hơn với các hành vi sai phạm; đồng thời cần quy định cụthể hơn trách nhiệm của từng cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan chuyên ngànhtrong hoạt động giám sát các dự án đầu tư nước ngoài

Việc phân cấp trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài cho chính quyền địaphương đã đem lại sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong thu hút và sử dụng nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, cơ chế phân cấp này

đã nảy sinh nhiều bất cập, nhất là khi thu hút đầu tư nước ngoài của nước ta bướcsang giai đoạn mới, với định hướng coi trọng chất lượng hơn số lượng

Không thể phủ nhận chủ trương phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài chochính quyền địa phương thời gian qua đã có tác động tích cực đến tính chủ độngcủa các địa phương trong hoạt động xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư Tuy nhiên, do năng lực thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài lớn của cán bộ tạimột số địa phương còn hạn chế nên đã xảy ra tình trạng cấp phép mà không bảođảm các điều kiện cần thiết Việc cấp phép đầu tư quá dễ dàng khiến cho nhiều dự

án được cấp phép đã phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch vùng; nhiều dự án cóquy mô lớn nhưng không triển khai hoặc triển khai chậm Trong quá trình thựchiện công tác QLNN của địa phương mình, phần lớn các tỉnh, các địa phươngcông tác quản lý dự án sau giấy phép chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt khâunắm tình hình vốn thực hiện

Trang 31

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương và những bài học có thể vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế

1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam

1.3.1.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương sớm thu hút được ĐTNN so với cáctỉnh, thành phố khác trong cả nước do có những ưu thế tương đối về cơ sở hạ tầng

kỹ thuật, KT-XH Chỉ trong vòng 10 năm (1987 - 1997), thành phố đã cấp phép cho

834 dự án với tổng số đầu tư là 11.161 triệu USD, chiếm 39,8% về số dự án và36,1% tổng vốn đầu tư của cả nước Hiện có gần 30 nước và vùng lãnh thổ đầu tưvào thành phố, trong đó các nước châu Á chiếm 63% tổng vốn FDI đầu tư vàothành phố Đối tác của bên Việt Nam tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài chủyếu là các doanh nghiệp của nhà nước; trong đó, phần vốn góp của phía Việt Namtrong vốn pháp định của liên doanh chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất; chỉ có 82

dự án, chiếm 9,8% tổng số dự án và 205 triệu USD vốn đầu tư, hình thức liên doanhchiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số dự án được cấp giấy phép, chiếm 60% về dự

án và 73% về tổng vốn đầu tư Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, giai đoạn

1988 - 1991 có số lượng không đáng kể, sau đó tăng dần và xu huớng ngày càngphát triển Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi dẫn đầu trong cả nước trong việcthu hút đầu tư nước ngoài theo hình thức BTO và triển khai các khu chế xuất, khucông nghiệp tập trung

Sở dĩ thành phố Hồ Chí Minh đạt được những thành tựu như thế là vì:

Thứ nhất, do có định hướng và quy hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài khá sớm và tương đối bài bản

Thứ hai, do có chính sách khá toàn diện và có sức thu hút đối với các nhàđầu tư nước ngoài Tuy nhiên, thiết kế các chính sách còn trải đều và chưa có thứ tự

ưu tiên rõ ràng

Thứ ba, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có môi trường đầu tư khá thuận lợi, làtrung tâm kinh tế - văn hoá của cả nước, gần cảng biển, có hệ thống cơ sở hạ tầng

Trang 32

phát triển, có nguồn nhân lực dồi dào với năng lực và tay nghề khá cao, có tácphong công nghiệp.

Thứ tư, các đối tác bên Việt Nam của thành phố có điều kiện tương đối khá

về vốn và trình độ quản lý so với các tỉnh, thành khác trong cả nước

1.3.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

Tỉnh Bình Dương được chia tách từ tỉnh Sông Bé từ ngày 01-01-1997, là mộttỉnh đất hẹp, chỉ bằng 1/3 tỉnh Bình Phước, dân ít, kinh tế nông nghiệp và tiểu nôngnghiệp là chủ yếu Nhưng hiện nay, Bình Dương đã là tỉnh có tốc độ phát triển kinh

tế cao nhất khu vực phía Nam và của cả nước, với cơ cấu kinh tế quốc dân là côngnghiệp 55%, dịch vụ 26% và nông nghiệp là 19%

Một trong những yếu tố giúp Bình Dương phát triển kinh tế nhanh chóng lànhờ thu hút được nhiều FDI Hiện nay, Bình Dương đã quy hoạch 17 khu côngnghiệp tập trung với diện tích hơn 6.200 ha, có hơn 1000 doanh nghiệp trong nước

và 1.842 DNFDI, với số vốn đầu tư là hơn 4000 tỷ đồng và 11,4 tỷ USD

Riêng về việc thu hút FDI, tỉnh Bình Dương đã làm tốt các việc sau:

- Nhất quán chính sách “trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư nhằm công nghiệphoá, hiện đại hoá”

- Cải cách thủ tục hành chính; đẩy nhanh thời gian xem xét cấp giấy phépđầu tư dưới 15 ngày đối với các dự án thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của tỉnh vàdưới 20 ngày đối với các dự án cần xin ý kiến của các bộ, ngành Trung ương, cácnhà đầu tư chỉ phải nộp 1 bộ hồ sơ xin cấp phép đầu tư theo quy định của Chínhphủ; quy định cho nhà đầu tư phải có trách nhiệm quan tâm chăm lo đời sống củacông nhân lao động; tập trung đào tạo nghề, ý thức tổ chức kỷ luật cho người laođộng, giải quyết các tranh chấp lao động, xử lý nghiêm các trường hợp xúc phạmthân thể, danh dự, nhân phẩm của người lao động Tỉnh Bình Dương còn áp dụngmới về giá thuê đất nhằm tăng cường sức cạnh tranh trong khu vực; thành lập trungtâm chuyển đổi ngoại tệ; khuyến khích đầu tư công nghệ cao, ít ô nhiễm môitrường; cho phép đầu tư các máy móc, thiết bị đã qua sử dụng còn khoảng 80 - 90%nhưng công nghệ thuộc thế hệ mới, cải tiến thủ tục cấp giấy phép xây dựng và lập

Trang 33

hồ sơ thuê đất Phòng Ngoại vụ trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh là đầu mối tiếpnhận và giải quyết thủ tục cấp visa cho người nước ngoài (không hạn chế số lượng)đến làm việc tại tỉnh Bình Dương với thời gian làm thủ tục là 5 ngày kể từ ngàynhận đủ hồ sơ

- Tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếtrong đó có DNFDI; giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh thuộc thẩmquyền của tỉnh và kiến nghị kịp thời lên Trung ương giải quyết những ách tắc thuộc

cơ chế chung; hướng dẫn chi tiết các doanh nghiệp trong nước và DNFDI về các thủtục thành lập, đăng kí kinh doanh

- Lắng nghe, tiếp thu và xử lý nghiên túc ý kiến của các loại hình doanhnghiệp trong nước và ngoài nước; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng như nâng cấpđường, mở rộng mạng lưới cung cấp điện, phát triển bưu chính viễn thông và hệthống cấp nước sạch; thu hút nhân tài, xây dựng được đội ngũ CBCC có phẩm chất

và năng lực QLNN về kinh tế FDI

1.3.2.3 Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng làm kinh tế đối ngoại chính thức từ 1992, mở đầu bằng Nghị quyết

số 05/NQ-TU của Thành ủy về kinh tế đối ngoại và thực sự khởi sắc khi Luật Đầu tưnước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi, cộng với các chính sách thông thoáng hơn củaĐảng và Nhà nước ta Do xác định rõ lợi thế so sánh, coi phát triển kinh tế đối ngoại

là động lực, là giải pháp quan trọng trong phát triển KT-XH Hải Phòng thu hút vốnđầu tư đến từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Nhật Bản đang đứng vị trí thứnhất về số dự án và số vốn đầu tư (85 dự án, với tổng vốn đầu tư gần 2,4 tỷ USD),Hàn Quốc đứng thứ tư về số dự án (37 dự án) và đứng thứ hai về vốn đầu tư (1,056 tỷUSD) Tổng vốn FDI đăng ký trong 5 năm qua bằng 1,5 lần tổng vốn FDI thu hútđược của tất cả các năm trước đó cộng lại Thu hút vốn FDI những năm gần đây đãchuyển dịch theo hướng tăng về dịch vụ, thương mại, bất động sản; công nghiệp tậptrung vào các dự án chế biến, chế tạo cơ khí, thân thiện với môi trường

Cơ cấu FDI vào Hải Phòng đã ngày càng phù hợp hơn với mục tiêu và địnhhướng đặt ra là tăng tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp và cơ sở hạ tầng, thúc đẩy việc

Trang 34

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Về ngành nghề của các dự án đang hoạt động thì công nghiệp chiếm 58,6%

số dự án và 54% tổng vốn đầu tư; hạ tầng chiếm 4,3% số dự án và chiếm 24% tổngvốn đầu tư; dịch vụ du lịch chiếm 18,6% về dự án và chiếm 15% tổng vốn đầu tư;thương mại chiếm 10% về số dự án và 5% về tổng số vốn đầu tư; lĩnh vực vận tảichiếm 8,6% về số dự án và chiếm 2% tổng vốn đầu tư

Về hình thức đầu tư, dự án liên doanh chiếm 77,1% về số dự án và 94,81%tổng số vốn đầu tư; dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài, chiếm 20% về số dự án và3,89% tổng vốn đầu tư; hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 2,9% về số dự án vàchiếm 1,3% tổng vốn đầu tư

Bài học mà thành phố Hải Phòng rút ra được là phải giảm bớt các thủ tụcphiền hà, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư; xâydựng nhiều khu chế xuất mới, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; tích cực tạođiều kiện thuận lợi về đất đai, cơ chế, chính sách… cho các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài hoạt động

1.3.2 Những bài học có thể vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế

Từ những kinh nghiệm trên có thể rút ra các bài học kinh nghiệm sau đây cóthể vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế

Thứ nhất, xây dựng bộ máy QLNN đối với DNFDI theo hướng tập trung,

gọn nhẹ, để tiến hành quản lý đồng bộ các vấn đề có liên quan đến DNFDI từ khâuđược thành lập, cấp giấy phép đầu tư cho đến các giai đoạn quản lý sau cấp phép.Nếu bộ máy quản lý bị phân tán, không được thống nhất, quá nhiều đầu mối dẫn tớichồng chéo, kéo dài thời gian gây trở ngại đến hoạt động của các DNFDI

Thứ hai, cần mở rộng lĩnh vực và địa bàn thu hút FDI từng bước theo hoạch

định chiến lược, quy hoạch vùng và lĩnh vực thu hút FDI Đồng thời khuyến khíchnhiều loại hình đầu tư khác nhau vào các khu công nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế

Thứ ba, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, thông qua hình thức quảng cáo

trên các phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức các hội thảo cung cấp thông tin

về cơ hội đầu tư để thu hút DNFDI

Trang 35

Thứ tư, chú trọng công tác đào tạo nghề, hướng nghiệp cho người lao động.

Truyền đạt những quy định của Bộ Luật lao động cho người lao động và giúp cácDNFDI tuyển dụng lao động

Thứ năm, cần tăng cường cải thiện kết cấu hạ tầng và từng bước hoàn chỉnh

hệ thống cung cấp các loại dịch vụ hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài nhằmtăng sức hấp dẫn của Thừa Thiên Huế đối với các DNFDI

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn đề cập đến những vấn đề khoa học sau đây:

Thứ nhất, hệ thống hóa luận cứ khoa học về đầu tư, đầu tư trực tiếp nước

ngoài, DNFDI Từ đó phân tích về nội dung, đặc điểm, vai trò của đầu tư trực tiếpnước ngoài và DNFDI

Đây cũng chính là đối tượng quản lý nhà nước mà luận văn đề cập đến

Thứ hai, hệ thống hóa có kế thừa, bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận quản

lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI Theo đó, luận văn đã nêu ra một số điểmkhoa học như sau:

- Đề xuất khái niệm về QLNN đối với các DNFDI, nêu ra đặc điểm, vai tròcủa quản lý nhà nước đối với các DNFDI

- Nêu được sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các DNFDI

- Đưa ra được mục tiêu, yêu cầu, phương thức và công cụ quản lý nhà nướcđối với các DNFDI

- Hệ thống có tính kế thừa, bổ sung và hoàn thiện các nội dung QLNN đốivới các DNFDI

Thứ ba, tổng kết kinh nghiệm của một số các địa phương trong nước về thu

hút, quản lý FDI cũng như QLNN đối với các DNFDI, từ đó có rút ra được một sốbài học có thể vận dụng vào thực tiễn của Đà Nẵng trong quá trình hoàn thiệnQLNN đối với các DNFDI

Những luận cứ khoa học trên đây là tiền đề, là căn cứ lý luận để phân tíchthực trạng về quản lý nhà nước đối với các DNFDI cũng như đề ra các giải pháphoàn thiện trong các chương sau của luận văn

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài và hoạt động của các doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

2.1.1 Khái lược điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là tỉnh nằm ở trong vùng duyên hải của đất nước, trêntrục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàngkhông; cách Thủ đô Hà Nội 660km về phía Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh1.080km về phía Nam Ngoài ra, trong mối tương quan với khu vực và quốc tế,Thừa Thiên Huế nằm trên hành lang kinh tế xuyên Á (Đông - Tây), do vậy cóđiều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu, liên kết kinh tế với nhiều tỉnh, thànhphố trong nước và thế giới

Cùng với Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng, ThừaThiên Huế được xác định là một trong năm đô thị Trung tâm cấp quốc gia, khu vực

và quốc tế; một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, y tế,đào tạo lớn của cả nước và khu vực Đông Nam Á Mức tăng trưởng kinh tế liên tục

và khá ổn định gắn liền với các mặt tiến bộ trong đời sống xã hội, kết cấu hạ tầngphát triển, đô thị được chỉnh trang, tốc độ tăng GDP bình quân trong năm 2012 đến

2017 là 12% Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng dịch vụ, công nghiệp

- xây dựng, nông - lâm - nghiệp, trong đó dịch vụ chiếm 45,2%, công nghiệp - xâydựng chiếm 39,7% và nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 15,1%

Thừa Thiên Huế có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và phát triển, hệ thốnggiao thông thuận lợi và đa dạng, bao gồm đường bộ và đường sắt nằm trên tuyếnxuyên Việt, hai cửa khẩu thông thương với nước bạn Lào, sân bay Quốc tế Phú Bài,cảng Thuận An cách thành phố Huế 12 km có thể đón tàu có trọng tải 2.000 tấn vàđặc biệt Cảng nước sâu Chân Mây - cửa ra biển Đông của Hành lang kinh tế Đông

Trang 37

Tây - có thể đảm bảo cho tàu hàng hóa có trọng tải đến 50.000 tấn và tàu khách dulịch quốc tế cỡ lớn nhất thế giới (225.000 GT) cập bến

Toàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện đã hình thành 6 KCN, với diện tích hơn2.800 ha Ngoài KCN 560 ha trong Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô (KKT), 5KCN còn lại phân bố đều khắp ở các huyện, thị xã trong tỉnh với tổng diện tíchhơn 2.160 ha, có đầy đủ các dịch vụ phục vụ các nhà đầu tư, đó là các KCN: PhúBài, Phong Điền, Tứ Hạ, Quảng Vinh, Phú Đa và La Sơn Trong đó, KKT ChânMây - Lăng Cô được sở hữu một vị trí được xem là thuận lợi bậc nhất hướng rabiển Đông của EWEC, GMS KKT nằm ở tâm điểm của hai trung tâm kinh tế,trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam là thành phố Huế

và thành phố Đã Nẵng và 2 sân bay quốc tế lớn trong khu vực Hệ thống giaothông hết sức thuận lợi có thể di chuyển dễ dàng đến các quốc gia lân cận và tất cảcác vùng miền của Việt Nam

Nguồn nhân lực của Thừa Thiên Huế khá dồi dào và chất lượng cao Với 8trường đại học và nhiều trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, các trườngdạy nghề cũng như các cơ sở đào tạo ngoại ngữ, tin học, hàng năm, tỉnh đã tạo đượchàng chục nghìn lao động trẻ với kiến thức khá vững vàng Lực lượng lao động củatỉnh với tác phong công nghiệp, năng động và ham học hỏi đã đáp ứng phù hợp vớimục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tình trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp hiện nay

Được đánh giá là địa phương có các chính sách thu hút đầu tư thông thoáng,Thừa Thiên Huế ngày càng tập trung cải cách hành chính, tạo mọi thuận lợi để thuhút đầu tư vào địa phương, trong đó các KKT, KCN được xem là những địa bàn làtrọng điểm thu hút đầu tư phát triển kinh tế của tỉnh chủ trương luôn mở rộng quan

hệ hợp tác với các đối tác đầu tư trong và ngoài nước nhằm tăng cường thu hút đầu

tư, phát triển kinh tế - xã hội, luôn luôn chào đón và tạo điều kiện tốt nhất cho cácnhà đầu tư, các doanh nghiệp đến tìm hiểu, hợp tác và đầu tư vào các KKT và KCNtrên của tỉnh Khi thực hiện đầu tư vào các KKT và KCN trên địa bàn tỉnh, ngoàiviệc được hưởng các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư liên quan đến đất đai, giải

Trang 38

phóng mặt bằng, rà phá bom mìn, các công trình giao thông, điện nước, đào tạonghề,… nhà đầu tư sẽ được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn về thuế Đặcbiệt, các thủ tục đầu tư có liên quan được thực hiện nhanh chóng và thuận lợi theo

cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ”, đảm bảo rút ngắn thời gian và tạo điều kiệnthuận lợi nhất cho nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án

Như vậy, với những tiềm năng và lợi thế về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng,nguồn nhân lực và các dịch vụ hỗ trợ khá hoàn chỉnh, Thừa Thiên Huế là địaphương có nhiều thuận lợi cho thu hút FDI và hoạt động của các DNFDI

2.1.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2017

2.1.2.1 Về lực lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện diện trên địa bàn tỉnh đến thời điểm 31-12-2017

a Về số lượng, quy mô các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế quatừng giai đoạn

Thừa Thiên Huế là địa phương đứng thứ 25 của toàn quốc; đứng thứ 3 trong

6 tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung về thu hút FDI Hoạt động thu hút FDItại tỉnh Thừa Thiên Huế có sự thay đổi theo từng giai đoạn tùy theo sự ổn định củakinh tế toàn cầu Cụ thể là:

- Giai đoạn 1991 - 1995: thu hút được 04 dự án nhưng số vốn đăng ký củacác dự án này tương đối cao là 235,354 triệu USD, qui mô bình quân một dự án caonhất là 78,45 triệu USD/dự án, thời kỳ này đã thu hút một số tập đoàn lớn đến đầu

tư là: Tập đoàn Bia Carlsberg (Đan Mạch), xi măng Luks (HongKong) là các dự ántrọng điểm của tỉnh cho đến nay

- Giai đoạn 1996 - 2000 là giai đoạn thu hút ít số dự án nhất 03 dự án và tổngvốn đăng ký cũng ít nhất 23,8 triệu USD, điều này là do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính Châu Á lan rộng gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu

- Giai đoạn 2001 - 2005, kinh tế toàn cầu đã có sự phục hồi, do vậy, tình hìnhthu hút FDI đã được cải thiện, thu hút được 10 dự án FDI nhưng số vốn đăng kýtương đối thấp là 49,453 triệu USD chiếm 15,6% số dự án và chỉ chiếm 2,6% tổngvốn đăng ký FDI toàn tỉnh

Trang 39

- Giai đoạn 2006-2010 là giai đoạn thu hút được nhiều dự nhất là 33 dự ánvới tổng vốn đăng ký hơn 1.769,6 triệu USD, chiếm 66,8% tổng vốn đầu tư đăng kýcho cả giai đoạn 1987 - 2017.

- Giai đoạn 2011 - 2015 thu hút được 30 dự án với tổng vốn đăng ký 855,8triệu USD giảm gần một nửa so với giai đoạn 2006 - 2010

- Từ năm 2016 - 2017, khi nền kinh tế toàn cầu có xu hướng phục hồi đã thuhút được 14 dự án với tổng vốn đăng ký 74 triệu USD Trong giai đoạn này, chủ yếu

là các nhà đầu tư có quy mô vốn đầu tư vừa và nhỏ, đây cũng là xu hướng đầu tưchung của toàn cầu

Như vậy, giai đoạn 1991 - 1995 và 2006 - 2010 là hai giai đoạn thu hút nhiều

dự án FDI lớn có tính quyết định đến sự phát triển KT-XH của tỉnh Thừa Thiên Huế

và đây cũng là hai giai đoạn gắn với hai dấu mốc quan trọng: Khi Việt Nam hộinhập quốc tế, mở cửa cho đầu tư nước ngoài dở bỏ tính cấm vận đối với Việt Nam

và khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu thu hút vốn FDI qua các giai đoạn

Giai đoạn Đơn vị tính 1991- 1995 1996- 2000 2001- 2005 2006- 2010 2011- 2015 2016- 2017 Tổng

Vốn đăng

ký TriệuUSD 235,354 23,80 49,45 1.575,9 504.07 74 2.462,58Vốn thực

hiện TriệuUSD 75,912 10,71 22,25 226,5 343,2 109 787,57Bình quân

vốn đăng

ký/dự án

TriệuUSD 78,45 7,93 49,45 31,26 24,5 5,3 28,5Vốn thực

hiện/vốn

đăng ký % 32,25 45,00 45,5 35,0 40,1 147,3 32

(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2017)

Bảng 2.2 Tỷ trọng vốn đăng ký chia theo từng giai đoạn

(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2017)

Trang 40

Tính đến thời điểm ngày 31-12-2017, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có

93 DNFDI với tổng số vốn đầu tư là 2.462,58 triệu USD

Riêng năm 2017, toàn tỉnh Thừa Thiên Huế thu hút 06 dự án, với tổng vốnđầu tư là 1.640.545 USD, có 02 DNFDI đăng ký tăng vốn thêm là 358.440 USD

Bảng 2.3 Tình hình thu hút FDI trong năm 2017

Vốn đầu tư

(USD)

Lĩnh vực đầu tư

Địa điểm đầu tư

1 Thành lập Công ty TNHH Bright Way TrungQuốc doanhLiên 44.850 Dịch vụ tư vấn TrongKCN

2 Phát triển dịch vụ tư vấn kiến trúc chất

lượng cao tại Huế

3 Đầu tư phát triển dịch vụ xây dựng và du lịch

NgoàiKCN

4 Thành lập Công ty

TNHH Aliachi Lebanon

Liêndoanh 100.000

Thể dụcthể thao

NgoàiKCN

5 Đầu tư phát triển công nghệ thông tin Hoa Kỳ 100% VốnĐTNN 50.000 Côngnghệ

thông tin

NgoàiKCN

6 Tàu du lịch bằng đầu máy hơi nước doanhLiên 1.370.695 Dịch vụ du lịch NgoàiKCN

5

(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2017)

b Về cơ cấu hệ thống DNFDI trên địa bàn tỉnh

Cơ cấu đội ngũ DNFDI được xem xét theo ba tiêu chí: ngành nghề, quốc tịchcủa chủ DNFDI và địa điểm phân bố doanh nghiệp

Dưới đây là hiện trạng cơ cấu các DNFDI trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huếtheo từng tiêu chí nói trên

- Cơ cấu theo ngành nghề của các DNFDI tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Cơ cấu dạng này thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 2.4 Phân nhóm DNFDI theo ngành, lĩnh vực đầu tư

(Tính đến ngày 31-12-2017)

Ngày đăng: 07/01/2023, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Kỷ yếu 25 năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu 25 năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
4. Trần Thị Minh Châu (2007), Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Minh Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
5. Nguyễn Thị Bích Hường (2005), Chuyển dịch cơ cấu ngành ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu ngành ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Trần Quang Lâm, An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Quang Lâm, An Như Hải
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
8. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Đầu tư số 67/2014/QH11 ngày 26/11/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đầu tư số 67/2014/QH11 ngày 26/11/2004
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
9. Nguyễn Ngọc Sơn, Phạm Hồng Chương (2011), Chất lượng tăng trưởng Kinh tế Việt Nam - Mười năm nhìn lại và định hướng tương lai, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tăng trưởng Kinh tế Việt Nam - Mười năm nhìn lại và định hướng tương lai
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn, Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2011
10. Trần Xuân Tùng (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Xuân Tùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
11. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế (2017), Báo cáo tổng kết 30 năm hoạt động đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 30 năm hoạt động đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm: 2017
12. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2016), Đề án đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư giai đoạn 2016 - 2020, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Nhà XB: Thừa Thiên Huế
Năm: 2016
13. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (2016), Kết luận số 14-KL/TU ngày 20/7/2016 về đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư và công tác xúc tiến đầu tư giai đoạn 2016 - 2020, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 14-KL/TU ngày 20/7/2016 về đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư và công tác xúc tiến đầu tư giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế
Năm: 2016
14. Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2017), Quyết định số 19/2017/QĐ- UBND ngày 21/4/2017 ban hành Quy một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 19/2017/QĐ- UBND ngày 21/4/2017 ban hành Quy một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm: 2017
15. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2006), Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
16. Anderson, J. E. (1985), “The Relative Inefficiency of Quota, The Cheese Case”, American Economic Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Relative Inefficiency of Quota, The Cheese Case
Tác giả: J. E. Anderson
Nhà XB: American Economic Review
Năm: 1985
17. Boulding, K.E. (1955), Economics Analysis, Hamish, London.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics Analysis
Tác giả: K.E. Boulding
Nhà XB: Hamish
Năm: 1955

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w