BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUYỀN TÔN NỮ HỒNG HẠNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH VÀ CHỤP MẠCH XÓA NỀN UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT CÓ CHỈ ĐỊNH NÚT M
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân được chẩn đoán UTBMTBG theo khuyến cáo thực hành lâm sàng của EASL năm 2018 [20].
- Được chụp phim cắt lớp vi tính bụng có thuốc cản quang trước điều trị.
- Được điều trị bằng phương pháp nút mạch hóa chất (TACE) tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 09/2018 đến tháng 09/2020.
Gồm 58 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 9/2018 đến tháng 9/2020, tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế.
- Máy chụp mạch xóa nền (Elite 9900, GE, Hoa Kỳ) tại đơn vị DSA, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế.
Tại khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, hiện đã lắp đặt máy CT đa dãy đầu dò Siemens Somatom Scope của Đức, giúp nâng cao khả năng chẩn đoán hình ảnh chính xác và nhanh chóng Phần mềm xử lý, phân tích hình ảnh Syngo.via của Siemens cũng được tích hợp, tối ưu hóa quy trình chẩn đoán và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Hệ thống thiết bị hiện đại này mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng trong việc chẩn đoán hình ảnh y học một cách chính xác, hiệu quả.
- Hình ảnh CLVT và DSA UTBMTBG.
2.2.4.1 Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: chia thành các nhóm tuổi 70 tuổi
- Số lần được điều trị nút mạch hóa chất
2.2.4.2 Đặc điểm về hình thái của UTBMTBG trên CLVT
- Loại tổn thương: đơn ổ, đa ổ, thâm nhiễm
- Vị trí khối u: gan phải, gan trái, cả hai thùy.
- Kích thước khối u: chia thành cách nhóm 10 cm.
- Giới hạn của khối u: rõ hay không rõ.
- Đường bờ của khối u: đều hay không đều.
- Tỷ trọng tự nhiên: đồng tỷ trọng, tăng tỷ trọng, giảm tỷ trọng so với nhu mô gan.
- Kiểu ngấm thuốc: mạnh, không mạnh hay không ngấm thuốc.
- U xâm lấn tạng lân cận
- Giãn đường mật kế cận
2.2.4.3 Đặc điểm về mạch máu của UTBMTBG trên CLVT
Mạch tân sinh trong u, còn gọi là neovascularity, thể hiện qua hình ảnh các mạch máu có kích thước lớn nhỏ không đều, phản ánh quá trình tăng sinh mạch máu bất thường Hiện tượng này tạo thành mạng lưới mạch máu phức tạp trong khối u, góp phần cung cấp dưỡng chất và oxy cho tế bào ung thư, thúc đẩy sự phát triển và xâm lấn của khối u Nhận biết mạch tân sinh trong u là yếu tố quan trọng trong chẩn đoán, đánh giá mức độ tiến triển, cũng như lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả।
- Tăng sinh bất thường mạch nuôi u (hypervascularity): là hình ảnh mạch máu nuôi u tăng kích thước (hypertrophy), giãn ngoằn ngoèo.
Thông nối động mạch gan tĩnh mạch cửa trong u (arterio-portal shunt) là hiện tượng luồn thông trực tiếp từ động mạch gan sang tĩnh mạch cửa, có thể được phát hiện qua hình chụp động mạch gan Theo phân loại của Mohamed và cộng sự [42], thông động tĩnh mạch được xếp thành các loại khác nhau dựa trên đặc điểm hình thái và mức độ tổn thương, giúp chẩn đoán chính xác và hướng điều trị phù hợp cho bệnh nhân.
Huyết khối tĩnh mạch cửa (HKTMC) là tình trạng tổn thương làm giảm tỷ trọng tự nhiên trong lòng tĩnh mạch cửa, có thể đi kèm hoặc không kèm theo sự ngấm thuốc vào động mạch Theo phân loại của Shi và cộng sự, HKTMC được xếp loại dựa trên mức độ tổn thương và tính chất của huyết khối để hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hiệu quả.
Nguồn mạch nuôi u ngoài gan chủ yếu là động mạch hoành dưới, động mạch liên sườn, động mạch vú trong, động mạch túi mật, động mạch thượng thận, động mạch thắt lưng, và động mạch vị tá tràng Việc xác định chính xác các nguồn mạch này thường được thực hiện qua chụp CT (CLVT), đặc biệt khi có các dấu hiệu nghi ngờ liên quan đến khối u Điều này giúp đánh giá rõ ràng hơn về khả năng nuôi dưỡng của u ngoài gan, hỗ trợ trong lập kế hoạch điều trị phù hợp.
+ U nằm sát bao gan (vòm hoành, mặt dưới…)
+ U xâm lấn tạng lân cận (thành ngực, thành bụng, cơ hoành…) + U đẩy lồi bao gan
+ Có mạch máu tăng sinh bất thường so với mạch đối bên
Các biến thể giải phẫu của động mạch thân tạng, mạc treo tràng trên và động mạch gan có thể được xác định chính xác qua hình ảnh CLVT Phương pháp này cho phép tái tạo đa mặt phẳng và ứng dụng các kỹ thuật như MIP và VRT giúp bác sĩ phân tích cấu trúc mạch máu một cách rõ nét và chi tiết hơn Việc sử dụng các kỹ thuật này nâng cao khả năng chẩn đoán chính xác các biến thể giải phẫu và hỗ trợ lập kế hoạch điều trị hiệu quả.
2.2.4.4 Đặc điểm khác của UTBMTBG trên CLVT
Hình 2.1 Hình ảnh CVLT của UTBMTBG.
A: Khối u ở hạ phân thùy VII có giới hạn rõ, bờ đều, ngấm thuốc nhanh và mạnh ở thì động mạch, bên trong có tăng sinh mạch bất thường và hoại tử trung tâm B Khối u thải thuốc hoàn toàn ở thì tĩnh mạch, phù hợp với đặc điểm của UTBMTBG.
Hình 2.2 trình bày đặc điểm hình ảnh của các khối u tụy mật tắc nghẽn trên chụp CLVT, gồm các dạng đơn ổ có vỏ, đa ổ và thâm nhiễm Các hình chụp mạch tương ứng thể hiện rõ đặc điểm của từng loại khối u, giúp phân biệt chính xác hơn trong chẩn đoán hình ảnh Đặc điểm nhận diện từng dạng u này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định phương pháp điều trị phù hợp và dự đoán tiên lượng bệnh.
Hình 2.3 Một số đặc điểm của UTBMTBG trên hình DSA.
A Khối u tăng sinh mạch ngoằn ngoèo, ngấm thuốc mạnh ở thì chụp động mạch gan (vòng tròn) Động mạch gan phải giãn lớn, ngoằn ngoèo (mũi tên) Các nhánh động mạch nhỏ cho các hạ phân thùy ngoằn ngoèo do xơ gan Thông động mạch gan- tĩnh mạch cửa B Khối UTGNP bắt thuốc mạnh thì động mạch, tăng sinh mạch bất thường trong u, mạch nuôi u giãn lớn C Luồn thông động mạch gan-tĩnh mạch cửa lớn từ nhánh phân thùy sau (đầu mũi tên).
2.2.4.5 Đặc điểm hình ảnh UTBMTBG trên hình DSA
Tổn thương UTBMTBG được xác định rõ trên hình DSA qua hình ảnh nốt hoặc khối/đám ngấm thuốc mạnh (tumor staining) ở giai đoạn động mạch khi bơm thuốc trực tiếp từ động mạch gan Phát hiện này là bước quan trọng trong chẩn đoán chính xác các tổn thương gan liên quan đến UTBMTBG và hỗ trợ quyết định điều trị phù hợp Sử dụng hình ảnh DSA giúp phát hiện các tổn thương nhỏ và cung cấp thông tin về mức độ và vị trí của khối u trong gan Điều này giúp tối ưu hóa quá trình chẩn đoán, điều trị và nâng cao hiệu quả điều trị ung thư gan.
- Loại tổn thương: đơn ổ, đa ổ, thâm nhiễm
- Vị trí khối u: gan phải, gan trái, cả hai thùy.
- Giới hạn của khối u: rõ hay không rõ.
- Đường bờ của khối u: đều hay không đều.
- Kiểu ngấm thuốc: mạnh, không mạnh hay không ngấm thuốc.
2.2.4.5 Đặc điểm hình ảnh mạch máu của UTBMTBG trên hình DSA
- Mạch tân sinh trong u (neovascularity)
- Tăng sinh bất thường mạch nuôi u (hypervascularity)
- Thông nối động mạch gan tĩnh mạch cửa trong u (arterio-portal shunt), được phân loại theo Mohamed và cộng sự [42]:
Nguồn mạch nuôi u ngoài gan được xác định qua hình ảnh DSA, khi khối u thể hiện khả năng hấp thu thuốc mạnh rõ ràng trên hình chụp động mạch nuôi Việc nhận biết chính xác nguồn mạch này rất quan trọng để xác định phương án điều trị phù hợp, đặc biệt trong các trường hợp phẫu thuật hoặc can thiệp Chẩn đoán dựa trên hình ảnh DSA giúp cung cấp cái nhìn rõ nét về mạch máu nuôi u, từ đó tối ưu hóa chiến lược điều trị, nâng cao hiệu quả và giảm thiểu biến chứng.
- Các biến thể giải phẫu của động mạch thân tạng, mạc treo tràng trên, động mạch gan…: chẩn đoán xác định và phân loại biến thể giải phẫu.
2.2.5 Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính gan có thuốc cản quang
- Người bệnh được giải thích kỹ về thủ thuật để phối hợp nhịn thở khi chụp.
- Tháo bỏ khuyên tai, vòng cổ, tóc nếu có
- Bệnh nhân nhịn ăn, uống ít nhất trước 4 giờ.
Để đảm bảo an toàn trước khi thực hiện tiêm thuốc đối quang I-ốt tĩnh mạch, cần xem xét kỹ hồ sơ bệnh án và kiểm tra các dấu hiệu chống chỉ định Đồng thời, tham khảo các kết quả chẩn đoán hình ảnh trước đó để đánh giá tình trạng bệnh lý và giảm thiểu rủi ro trong quá trình chẩn đoán hình ảnh.
- Đặt đường truyền tĩnh mạch (kim 18G)
2.2.5.2 Kĩ thuật chụp CLVT gan
- Thông số kỹ thuật: 120kV, 50 mAs, bề dày lớp cắt từ 5-10 mm, trường khảo sát (FOV) 45 cm.
- Thì trước tiêm: các lát cắt lấy từ giữa xương ức đến mào chậu
Chụp gan 3 pha là kỹ thuật sử dụng thuốc đối quang i-ốt với liều 1,5-2ml/kg cân nặng, tổng lượng 120ml, được tiêm tốc độ 4ml/s bằng bơm tiêm điện Quá trình chụp diễn ra theo các giai đoạn: thì động mạch muộn bắt đầu sau 30-35 giây kể từ khi bắt đầu tiêm thuốc, thì tĩnh mạch cửa diễn ra sau 60-70 giây, và thì muộn kéo dài từ 3 đến 5 phút Phương pháp này cho phép đánh giá chính xác chức năng tuần hoàn máu gan và phát hiện bất thường hiệu quả.
2.2.6 Kỹ thuật chụp mạch và nút mạch hóa chất (TACE)
Nút mạch hóa chất TACE được chỉ định theo hướng dẫn thực hành của EASL và AASLD [20], [38].
- Người bệnh được giải thích kỹ về thủ thuật để phối hợp với thầy thuốc
- Cần nhịn ăn, uống trước 6 giờ Có thể uống không quá 50ml nước
- Đặt đường truyền tĩnh mạch
Tại phòng can thiệp, người bệnh nằm ngửa và được lắp đặt các thiết bị theo dõi nhịp thở, mạch, huyết áp, điện tâm đồ và SpO2 để đảm bảo theo dõi liên tục quá trình can thiệp Quy trình vệ sinh vùng bẹn trở nên rất quan trọng nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng, với việc sát trùng da kỹ lưỡng trước khi trải khăn vô khuẩn có lỗ để chuẩn bị cho thủ thuật.
2.2.6.2 Quy trình chụp mạch hóa chất [2]
- Phương pháp vô cảm: gây tê tại chỗ
- Vị trí chọc động mạch
Chúng tôi thường chọn đường vào qua động mạch đùi phải để tiếp cận hệ mạch máu Trong trường hợp có bất thường ở động mạch đùi phải như hẹp, tắc nghẽn hoặc xơ vữa vôi hóa nặng, chúng tôi sẽ chuyển sang sử dụng động mạch đùi trái để đảm bảo an toàn và hiệu quả thủ thuật Việc lựa chọn đúng mạch máu phù hợp giúp nâng cao tỷ lệ thành công và giảm thiểu các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình can thiệp mạch.
Y đức trong nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là xác định hiệu quả của việc thu thập thông tin thông qua bộ câu hỏi và các kỹ thuật hình ảnh, đảm bảo ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất và tinh thần của đối tượng Phương pháp sử dụng bộ câu hỏi giúp thu thập dữ liệu một cách chính xác và khách quan, trong khi các kỹ thuật hình ảnh cung cấp góc nhìn đa chiều mà không gây tổn thương hay áp lực cho người tham gia Việc áp dụng các kỹ thuật này đảm bảo quá trình nghiên cứu diễn ra an toàn, tiết kiệm thời gian và phù hợp với đạo đức nghiên cứu khoa học.
- Người tham gia nghiên cứu được biết rõ thông tin, được giải thích về nội dung nghiên cứu và chấp nhận hợp tác.
Toàn bộ dữ liệu của người tham gia nghiên cứu được xử lý và công bố dưới dạng tổng hợp số liệu, đảm bảo tính bí mật và không tiết lộ thông tin cá nhân nào Việc này giúp bảo vệ quyền riêng tư của người tham gia, đồng thời tuân thủ các quy định về đạo đức nghiên cứu và bảo vệ dữ liệu Thông tin cá nhân không được trình bày trong báo cáo, chỉ có các số liệu tổng hợp được sử dụng để đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong phân tích.
- Luận văn được thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Trường Đại học Y Dược Huế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Sự phân bố theo giới
Giới Số lượng (nX) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Nam giới có tỷ lệ mắc UTBMTBG cao hơn nữ giới (84,5% vs. 15,5%, χ 2 , p < 0.01).
Bảng 3.2 Sự phân bố theo tuổi Nhóm tuổi Số lượng (nX) Tỷ lệ (%) p
Nhóm nghiên cứu có tuổi trung bình là 63,4 ± 11,5, với median là 65 tuổi, trong đó bệnh nhân lớn tuổi nhất là 88 tuổi và nhỏ tuổi nhất là 28 tuổi Kết quả cho thấy nhóm tuổi từ 50 đến 70 có tỷ lệ mắc UTBMTBG cao nhất lên tới 56,9%, phản ánh sự phân bố cao của bệnh trong nhóm trung niên và cao tuổi.
Biểu đồ 3.1 Sự phân bố UTBMTBG theo tuổi (nX)
Nhận xét: tuổi của nhóm nghiên cứu tuân theo quy luật phân phối chuẩn.
3.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CLVT CỦA UTBMTBG
Bảng 3.3 Các đặc điểm chung
Biến số Số lượng (n X) Tỷ lệ (%) p *
- 46,6% bệnh nhân có u đa ổ và 43,1% có u đơn ổ ở thời điểm được chẩn đoán UTBMTBG
- Vị trí thường gặp nhất ở gan phải (69%) Gan trái và hai thùy ít gặp hơn.
Khoảng 77,6% bệnh nhân có khối u có đường kính từ 2-10cm, trong khi đó, các u nhỏ (≤ 2cm) và rất lớn (>10cm) chiếm tỷ lệ thấp lần lượt là 22,4% Đường kính trung bình của khối u là 5,7 ± 3,4cm, với kích thước lớn nhất ghi nhận là 14,5cm và nhỏ nhất là 1cm.
- Giới hạn các khối u thường rõ (74,1%).
- UTBMTBG thường có đường bờ không đều, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
- 74,1% khối u có gây hiệu ứng khối.
- 62,1% khối u nằm sát bao gan, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
- Khối u xâm lấn tạng lân cận có tỉ lệ thấp (5,2%).
Hình 3.1 Đặc điểm hình ảnh các khối UTBMTBG trên CLVT (theo thứ tự từ trái sang phải: đơn ổ, đa ổ, thâm nhiễm).
Hình 3.2 Hình ảnh khối u gan đơn ổ nằm sát gan, có bờ đều, giới hạn rõ, có hiệu ứng khối.
Bảng 3.4 Các đặc điểm về ngấm thuốc của UTBMTBG trên CLVT
Biến số Số lượng (nX) Tỷ lệ (%) p
- Khối u giảm tỷ trọng chiếm tỉ lệ cao nhất (89,7%)
- Đa số khối u ngấm thuốc mạnh (87,9%) thì động mạch
- Hầu hết khối u đều thải thuốc thì tĩnh mạch và thì muộn (94,8%), chỉ có 5,2% u không thải thuốc thì tĩnh mạch và thì muộn.
- Tỷ lệ u không có vỏ bao thì muộn và không có hoại tử trong u cao hơn, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
Hình 3.3 Một số đặc điểm hình ảnh của khối UTBMTBG trên CLVT
A Thì không thuốc: khối u giảm tỷ trọng
B Thì động mạch: khối u ngấm thuốc mạnh
C Thì tĩnh mạch: khối u thải thuốc nhanh (wash out).
Bảng 3.5 Các đặc điểm về mạch máu của UTBMTBG trên CLVT
Biến số Số lượng (nX) Tỷ lệ (%) p
Huyết khối tĩnh mạch cửa
- Đa số UTBMTBG có mạch tăng sinh và mạch tân sinh trên CLVT, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
- 94,8% u không có thông động-tĩnh mạch trong khi chỉ có 5,2% u có thông động tĩnh mạch trong u.
- 79,3% u không có HKTMC; 21,7% u có HKTMC trong đó chủ yếu ở nhánh phân thùy.
Khoảng 75,9% các u gan có nguồn cấp máu từ động mạch gan duy nhất, trong khi 24,1% có nguồn mạch nuôi từ ngoài gan Trong số các trường hợp nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận tổng cộng 14 ca có động mạch nuôi u ngoài gan qua CLVT, bao gồm: động mạch hoành dưới (14 trường hợp), động mạch liên sườn (2 trường hợp), động mạch vú trong (2 trường hợp), động mạch thắt lưng (2 trường hợp) và động mạch mạc nối (1 trường hợp).
Trong nghiên cứu, có 8 bệnh nhân (13,8%) ghi nhận biến thể giải phẫu động mạch gan, liên quan đến sự phân bố bất thường của các động mạch gan Các biến thể bao gồm động mạch gan trái xuất phát từ động mạch vị trái ở 5 trường hợp, cũng như động mạch gan phải xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên trong 2 trường hợp Ngoài ra, một số bệnh nhân còn có thân chung động mạch gan phối hợp với động mạch mạc treo tràng trên, thể hiện sự đa dạng trong cấu trúc giải phẫu gan Việc xác định chính xác các biến thể này đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch phẫu thuật và giảm thiểu các biến cố không mong muốn.
(1 trường hợp), động mạch gan riêng xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên (1 trường hợp).
Bảng 3.6 Các đặc điểm khác của UTBMTBG trên CLVT
Biến số Số lượng (nX) Tỷ lệ (%) p
- Đa số bệnh nhân không có phì đại hạch ổ bụng (79,3%).
- Hầu hết bệnh nhân không có báng (87,9%), chỉ có 12,1% bệnh nhân có báng.
- Bệnh nhân có giãn đường mật kế cận u chiếm tỉ lệ rất thấp (8,6%).
3.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH DSA CỦA UTBMTBG
Bảng 3.7 Các đặc điểm chung của UTBMTBG trên DSA
Biến số Số lượng (n = 58) Tỷ lệ (%) p
- 46,6% bệnh nhân có u đa ổ và 43,1% có u đơn ổ trên hình chụp mạch
- Vị trí thường gặp nhất ở gan phải (67,2%) Gan trái và hai thùy ít gặp hơn.
- Giới hạn các u có thể rõ hoặc không rõ, trên hình chụp mạch tỉ lệ này tương đương nhau, tuy nhiên điều này không có ý nghĩa thống kê.
- UTBMTBG thường có đường bờ không đều (63,8%).
- 74,1% khối u có gây hiệu ứng khối.
Bảng 3.8 Các đặc điểm mạch máu của UTBMTBG trên DSA
Biến số Số lượng (n X) Tỷ lệ (%) p
- Hầu hết khối u ngấm thuốc mạnh trên hình chụp mạch (96,6%).
- 72,4% khối u không có vỏ bao thì muộn, trong khi đó chỉ có 27,6% khối u có vỏ bao thì muộn.
- Đa số UTBMTBG có mạch tăng sinh và mạch tân sinh trên hình ảnh chụp mạch (87,9%).
- 94,8% u không có thông động-tĩnh mạch trong khi chỉ có 5,2% u có thông động tĩnh mạch trong u.
Hầu hết u gan (82,8%) có nguồn cấp máu từ động mạch gan, trong khi 17,3% u có nguồn mạch nuôi ngoài gan Trong số các trường hợp nghiên cứu, chúng tôi phát hiện tổng cộng 10 trường hợp có động mạch nuôi u ngoài gan qua hình chụp mạch, gồm có động mạch hoành dưới (tất cả 10 trường hợp), cùng với các động mạch vú trong, thắt lưng và mạc treo tràng trên (mỗi loại 1 trường hợp).
Trong nghiên cứu, có 15,5% bệnh nhân mắc các biến thể giải phẫu động mạch gan, gồm 9 trường hợp biến thể Các biến thể phổ biến bao gồm động mạch gan trái xuất phát từ vị trái, chiếm 6 trường hợp, và động mạch gan phải xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên Phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khảo sát giải phẫu mạch máu gan trước phẫu thuật để tránh các biến chứng không mong muốn Các biến thể này ảnh hưởng đến kỹ thuật mổ và quản lý bệnh nhân trong quá trình điều trị ung thư gan hoặc các lĩnh vực phẫu thuật liên quan đến gan Việc nhận biết chính xác các biến thể động mạch gan giúp tối ưu hóa kết quả điều trị và giảm nguy cơ tổn thương mạch máu trong quá trình phẫu thuật.
(2 trường hợp), thân chung vị-mạc treo (1 trường hợp), động mạch mạc treo tràng trên xuất phát từ nhánh gan chung (1 trường hợp).
Hình 3.4 Thông động tĩnh mạch trên CLVT và DSA
3.4 SỰ PHÙ HỢP GIỮA CLVT VÀ DSA
Bảng 3.9 Sự phù hợp về các đặc điểm chung của UTBMTBG
Biến số Hệ số Kappa P
- Hình ảnh của UTBMTBG trênDSA có độ phù hợp rất cao với CLVT về kiểu u và vị trí u.
- Chụp mạch xóa nền và CLVT có sự phù hợp cao trong đánh giá hiệu ứng khối và đường bờ của u.
- Chụp mạch xóa nền và CLVT có độ phù hợp thấp trong khảo sát giới hạn của u.
Bảng 3.10 Sự phù hợp về đặc điểm ngấm thuốc của UTBMTBG
Biến số Hệ số Kappa P
- Chụp mạch xóa nền và CLVT có độ phù hợp thấp trong khảo sát tình trạng ngấm thuốc của u.
- Hình ảnh của UTBMTBG trên DSA có độ phù hợp cao với CLVT về hình ảnh vỏ bao thì muộn.
Bảng 3.11 Sự phù hợp về đặc điểm hình ảnh mạch máu của UTBMTBG
Biến số Hệ số Kappa p
- Hình ảnh của UTBMTBG trên DSA có độ phù hợp rất cao với CLVT về thông động-tĩnh mạch và biến thể giải phẫu
- Chụp mạch xóa nền và CLVT có sự phù hợp cao trong đánh giá số nguồn mạch nuôi u.
- Chụp mạch xóa nền và CLVT có độ phù hợp thấp trong khảo sát hình ảnh mạch tăng sinh và mạch tân sinh.
Hình 3.5 Đặc điểm hình ảnh mạch máu của HCC trên CLVT và DSA
(A) Mạch tăng sinh, (B) mạch tân sinh, (C) biến thể giải phẫu nhánh gan phải từ động mạch mạc treo tràng trên, (D) hình DSA tương ứng.
Bảng 3.12 Độ nhạy và độ đặc hiệu của CLVT so với DSA trong khảo sát mạch máu của UTBMTBG
Biến số Độ nhạy (%) Độ đặc hiệu (%)
- CLVT có độ nhạy cao trong việc phát hiện các biến thể giải phẫu, số nguồn mạch nuôi u (trong gan và ngoài gan) và thông động-tĩnh mạch (88,9-100%).
- CLVT có độ đặc hiệu 100% trong khảo sát mạch máu nuôi u.
Hình 3.6 CLVT và DSA tương ứng của các biến thể giải phẫu thường gặp.
Động mạch gan phải xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên, là một nhánh chính cung cấp máu cho phần gan phải Thân chung gan-mạc treo tràng trên là cấu trúc đáng chú ý liên quan đến nguồn gốc của các mạch máu gan Trong khi đó, động mạch gan trái xuất phát trực tiếp từ động mạch vị trái, đảm bảo cung cấp máu cho phần gan trái và các cấu trúc lân cận trong hệ tuần hoàn bụng.
Bảng 3.13 Mối tương quan giữa kích thước u và các đặc điểm hình ảnh CLVT
Huyết khối tĩnh mạch cửa 0,22 1,03 – 1,50 Linear Regression.
Nhận xét: Kích thước u trên CLVT có giá trị dự báo nguồn mạch nuôi, mạch tăng sinh, mạch tân sinh và tình trạng thông động-tĩnh mạch.
Biểu đồ 3.2 Giá trị dự báo của kích thước u đến nguồn mạch nuôi ngoài gan.
Sự phù hợp giữa cắt lớp vi tính và chụp mạch xóa nền
dự báo xuất hiện nguồn mạch nuôi ngoài gan trên CLVT.
Bảng 3.16 Các yếu tố liên quan đến sự xuất hiện mạch nuôi u ngoài gan trên CLVT
U xâm lấn tạng lân cận 1,97 0,60 – 85,95 0,12
Có mối tương quan thuận chặt chẽ giữa số lần nút mạch hóa chất TACE và sự xuất hiện mạch nuôi u ngoài gan, cho thấy rằng tần suất thực hiện TACE có thể ảnh hưởng đến khả năng phát hiện mạch nuôi u ngoại vi gan Các yếu tố như đặc điểm kiểu u, kích thước u, vị trí u gần bao gan, cũng như xâm lấn tạng lân cận, không liên quan đến sự xuất hiện của mạch nuôi u ngoài gan, tức là chúng không ảnh hưởng đáng kể đến hiện tượng này.
BÀN LUẬN
Đặc điểm về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ UTBMTBG ngày càng gia tăng ở cả nam và nữ, trong đó nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ giới với tỷ lệ 84,5% so với 15,5%, tương đương 5:1 Theo bảng 3.1 và báo cáo của GLOBOCAN 2018, tỷ lệ mắc UTBMTBG ở nam giới gấp 2-3 lần so với nữ giới, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về giới trong các ca mắc bệnh này.
2020 của Giannitrapani cũng cho kết quả tương tự [22].
Sự khác biệt về giới có thể do nhiều yếu tố tác động, bao gồm hormone sinh dục và phản ứng miễn dịch Ngoài ra, thói quen sinh hoạt như uống rượu bia và hút thuốc lá nhiều hơn ở nam giới cũng góp phần vào những khác biệt này.
4.1.2 Sự phân bố về tuổi
Theo nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của nhóm người tham gia là 63,4 ± 11,5 tuổi và phân phối theo quy luật chuẩn, đặc biệt nhóm trong độ tuổi 50-70 chiếm tỷ lệ cao nhất 56,9% Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Marks W M, cho thấy độ tuổi trung bình của nhóm mắc bệnh thường rơi vào khoảng tuổi trung niên đến cao tuổi.
Nghiên cứu của Tang A và cộng sự năm 2018 chỉ ra rằng UTBMTBG hiếm gặp trước tuổi 40-50 Tuy nhiên, theo các nghiên cứu dịch tễ học từ năm 2018 và 2020, tuổi mắc bệnh đang có xu hướng gia tăng ở các nhóm tuổi lớn hơn Nguyên nhân chính của sự gia tăng này liên quan đến các yếu tố nguy cơ chính như nhiễm virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan C (HCV).
4.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CLVT CỦA UTBMTBG
UTBMTBG là loại ung thư phổ biến, dễ dàng chẩn đoán nhờ sự phát triển của các kỹ thuật hình ảnh như siêu âm, CT scan và chụp gan mạch (CHT gan) Trong đó, chụp CT động học có sử dụng thuốc cản quang là phương pháp được chỉ định rộng rãi để chẩn đoán và phân loại UTBMTBG chính xác hơn.
Về mặt hình thái, UTBMTBG được chia thành các thể đơn ổ, đa ổ hoặc thâm nhiễm Trong nghiên cứu, phần lớn (89,7%) UTBMTBG là u dạng khối hoặc nốt đặc, trong khi thể thâm nhiễm chiếm tỷ lệ nhỏ (10,3%) Thể thâm nhiễm thường khó chẩn đoán hơn u dạng khối do hình ảnh có đặc điểm tương đồng với các vùng gan mạn tính hoặc gan nhiễm mỡ không đều, vì vậy việc chẩn đoán đôi khi cần dựa vào các hình ảnh kèm theo như thông động-tĩnh mạch hoặc HKTMC để đảm bảo chính xác.
Vị trí thường gặp của u gan là ở gan phải chiếm 69%, trong khi gan trái và hai thùy ít gặp hơn Khối u thường có rõ ràng về giới hạn, bờ đều hoặc không đều nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Đường kính trung bình của khối u là 5,7 ± 3,4 cm, với khối lớn nhất là 14,5 cm và nhỏ nhất là 1 cm; nghiên cứu của Honda H trên 68 bệnh nhân phẫu thuật cũng cho kết quả tương tự, với kích thước trung bình là 4,1 ± 2,7 cm HCC dưới 2 cm được xem là kích thước nhỏ và có khả năng điều trị triệt để bằng phẫu thuật hoặc đốt sóng cao tần, nhưng chỉ có 12,1% bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn sớm, trong khi 48,2% có kích thước >5 cm; các nghiên cứu trên toàn thế giới cho thấy