Nghiên cứu khảo sát dịch tễ học bệnh giun lươn ở Nhật Bản cho thấy tỷ lệ lưuhành trong cộng đồng 18,7% được phát hiện cao hơn so với các trường hợp đượcchẩn đoán của bệnh viện 1,6% [30]
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Lịch sử phát hiện giun lươn
Tháng 7 năm 1876, Louis Normand (1834 – 1885) – nhà nghiên cứu của bệnh viện thủy quân St Mandrier ở Toulon, tìm thấy ký sinh trùng trong mẫu phân của những bệnh nhân tiêu chảy người Pháp, có tiền sử đến miền Nam – Việt Nam Tác giả Normand đã báo cáo khám phá này tại Vice – Admiral Jurien dela Gravière Ông đặt tên cho tác nhân là Anguillula stercoralis và bệnh này được gọi là bệnh tiêu chảy Nam
Tháng 10 năm 1876, Bavay và Gervais đã đệ trình lên Viện Hàn Lâm một báo cáo chi tiết hơn về loại giun này, ông đã phát hiện ra giun lươn có thể ở dạng ấu trùng (AT) và phát triển thành một dạng sống tự do nếu nuôi chúng vài ngày trong môi trường thích hợp [22].
Năm 1882, nhà khoa học Grassi đề xuất rằng giun lươn cái có khả năng sinh sản tự nhiên mà không cần giun đực, mở ra cuộc tranh luận lớn về khả năng trinh sản tự phát triển của loài này Giả thuyết của ông đã gây ra nhiều tranh cãi trong cộng đồng khoa học, tuy nhiên đến nay, hiện tượng trinh sản của giun lươn đã được xác nhận rõ ràng là có thật, góp phần mở rộng hiểu biết về sinh sản sinh vật.
Loos (1905) đã chứng minh rằng giun lươn xâm nhập vào cơ thể qua da và thử nghiệm thành công trên người tình nguyện bằng cách nuốt AT, sau 64 ngày, giun lươn xuất hiện trong phân Đến năm 1915, hội đồng danh mục tên khoa học đã thống nhất đặt tên cho mầm bệnh này là Strongyloides stercoralis, góp phần vào công tác chẩn đoán và nghiên cứu về ký sinh trùng này.
Chu kỳ phát triển hoàn chỉnh của giun lươn được Perroncito phát hiện vào năm
Năm 1981, Leukart (1983) phát hiện thấy giun lươn có hai chu kỳ sống chính là dạng sống tự do và dạng ký sinh Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, vấn đề môi trường ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển và phân bố của giun lươn vẫn là một chủ đề cần được nghiên cứu sâu hơn Các yếu tố môi trường như ô nhiễm nước, biến đổi khí hậu và sự suy giảm hệ sinh thái có thể tác động tiêu cực đến chu kỳ sống của giun lươn, gây ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa môi trường và sự sinh trưởng của giun lươn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát và bảo vệ các loài sinh vật này trong hệ sinh thái tự nhiên.
2 dạng sống nêu trên còn nhiều điểm chưa rõ [5], [9].
Đặc điểm dịch tễ học
1.2.1 Tình hình nhiễm giun lươn trên thế giới
Giun lươn là một bệnh truyền nhiễm đang nổi lên toàn cầu, nhưng vẫn còn bị đánh giá thấp tại nhiều quốc gia, thuộc nhóm các bệnh truyền nhiễm bị lãng quên Tỷ lệ mắc bệnh giun lươn đang gia tăng trong cộng đồng, đặc biệt ở các khu vực như Đông Nam, Đông Á, Caribe, Mỹ Latinh và cận Sahara châu Phi, nơi tỷ lệ có thể lên đến 50% tại các vùng đất ẩm ướt và nơi xử lý chất thải không đúng cách Các khu vực như Tây Phi, Caribe, Đông Nam Á, vùng nhiệt đới của Brazil, Campuchia và Tây Ban Nha đều ghi nhận mức độ lưu hành cao của bệnh này [16].
Ở khu vực Châu Phi, tỷ lệ nhiễm bệnh tiếp tục gia tăng do việc vệ sinh cá nhân còn yếu, nguồn cung cấp nước không đủ và các biện pháp vệ sinh chưa đạt chuẩn Ngoài ra, thiếu kiến thức về bệnh trong các nhóm có nguy cơ cao cũng góp phần làm trầm trọng vấn đề này.
Tỷ lệ nhiễm bệnh 8,7% được công bố trong khu vực Amazon của Peru [32]
Nhiễm giun lươn hiếm gặp tại Mỹ, trừ một số vùng như Appalachia, Kentucky, West Virginia, Puerto Rico và Tennessee, nơi tỷ lệ nhiễm bệnh lên đến 4% Những nhóm đối tượng có tỷ lệ mắc cao hơn bao gồm cư dân trong các cơ sở chăm sóc dài hạn như nhà tù và cơ sở chăm sóc tâm thần, cũng như người nhập cư và người tị nạn từ các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới Ngoài ra, cựu chiến binh tham chiến trong Thế chiến thứ II và chiến tranh Việt Nam cũng có nguy cơ nhiễm giun lươn cao hơn.
Nghiên cứu khảo sát dịch tễ học bệnh giun lươn tại Nhật Bản cho thấy tỷ lệ lưu hành trong cộng đồng là 18,7%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ chẩn đoán tại các bệnh viện chỉ đạt 1,6% Điều này cho thấy bệnh giun lươn có thể có mức độ lây lan rộng hơn trong cộng đồng so với các trường hợp được ghi nhận chính thức tại cơ sở y tế Phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và kiểm soát dịch bệnh để giảm thiểu nguy cơ lây truyền trong cộng đồng.
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiễm giun lươn và các bệnh suy giảm miễn dịch đồng thời như virus HTLV-1 gây ung thư bạch cầu cấp dòng lympho T, HIV và các khối u ác tính huyết học Các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, làm tăng nguy cơ phát triển các bệnh lý nguy hiểm liên quan đến hệ thống miễn dịch của con người Hiểu rõ mối liên hệ này giúp nâng cao nhận thức về các nguy cơ sức khỏe và khả năng phòng ngừa các bệnh liên quan đến suy giảm miễn dịch.
1.2.2 Tình hình nhiễm giun lươn tại Việt Nam
Mặc dù lịch sử phát hiện giun lươn lần đầu tiên trên thế giới diễn ra tại miền Nam Việt Nam, nhưng tỷ lệ nhiễm giun lươn vẫn chưa được thống kê đầy đủ Các nghiên cứu riêng lẻ đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm giun lươn dao động từ 1% đến 12%, cho thấy đây là một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng chú ý tại các khu vực lưu hành.
Theo điều tra của Galliard năm 1940, tỷ lệ nhiễm giun lươn ở miền Bắc dao động từ 0,2% đến 2,5% dân số Trong những năm gần đây, các khảo sát cơ bản ghi nhận tỷ lệ nhiễm thấp hơn 1% Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ELISA cho thấy tỷ lệ nhiễm cao hơn, dao động từ 7,6% đến 10,9%, cho thấy sự tồn tại của mầm bệnh ngoài môi trường vẫn còn đáng kể.
Các tỉnh phía Nam Việt Nam như Long An, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm huyện Củ Chi, Thủ Đức, Hóc Môn) đã ghi nhận số ca nhiễm giun lươn ngày càng tăng Ngoài ra, một số tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên cũng phát hiện nhiều trường hợp mắc bệnh trong những năm gần đây Sự tăng trưởng này chủ yếu nhờ vào việc áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại như huyết thanh miễn dịch và sinh học phân tử, giúp chẩn đoán chính xác, nhanh chóng hơn.
Trong nghiên cứu của Trần Mạnh Siêu và cộng sự năm 2006, khảo sát 447 bệnh nhân nhập viện tại các khoa nội tiêu hóa tại Bệnh viện Trưng Vương, Bệnh viện Nhiệt Đới TP.HCM từ tháng 10/2004 đến tháng 7/2006, đã xác định tỷ lệ nhiễm giun lươn ở bệnh nhân mắc hội chứng dạ dày tá tràng là 24,6% Hầu hết các bệnh nhân đều có cơ địa suy giảm miễn dịch, tiểu đường hoặc mắc các vấn đề về đau dạ dày mãn tính.
Khái quát chung về giun lươn và bệnh giun lươn ở người
1.3.1 Tác nhân gây bệnh và vòng đời phát triển
Có khoảng 104 loài giun lươn, trong đó 52 loại thường gặp nhất đều có khả năng gây bệnh cho con người Bệnh giun lươn (strongyloidiasis) chủ yếu do loài giun tròn gây ra, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người Ngoài ra, một số loại giun lươn còn gây bệnh cho thú nuôi trong nhà và các loại động vật khác, đe dọa sự an toàn của cộng đồng.
Strongyloides stercoralis, ít hơn là Strongyloides fuelleborni [22].
Dưới đây là vị trí của giun lươn trong hệ thống phân loại:
Vật chủ chính của giun lươn bao gồm con người và một số động vật như chó, khỉ Bệnh phổ biến chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng Ngoài ra, tại các vùng ôn đới có điều kiện vệ sinh kém hoặc có yếu tố thuận lợi cho truyền bệnh qua phân, nguy cơ mắc bệnh giun lươn cũng tăng cao.
Cơ thể mảnh, gần như trong suốt, dài khoảng 2mm, có miệng hình lục giác được bao quanh bởi sáu nhú Thực quản hình trụ dài, gồm 25% phía trước chứa cấu tạo cơ và 75% còn lại là thực quản tuyến, kết nối với ruột thành một ống dài, mỏng chỉ một tế bào Thực quản kết thúc tại trực tràng mở ra hậu môn gần mút đuôi Trong khoảng chiều dài thực quản có vòng thần kinh, giúp điều chỉnh các hoạt động của chúng Hai ống bài tiết chạy dọc hai bờ của cơ thể, được liên kết bởi một ống ngang và một tế bào bài tiết duy nhất ở ngay phía sau vòng thần kinh Hai tử cung mở rộng về phía trước và sau của cơ thể, bắt nguồn từ âm đạo rất ngắn.
Tử cung chứa một số lượng ít trứng xếp thành một hàng Lỗ sinh dục mở ra ở đường giữa mặt bụng 1/3 phía sau cơ thể (Hình 1.5) [5], [22].
1.3.2.2 Giun lươn sống tự do
Giun cái có kích thước nhỏ, biểu bì mỏng, trong suốt và có các đường vân mịn, dễ nhìn thấy bằng mắt thường Thực quản của chúng có dạng phình chia thành ba phần rõ ràng gồm phần trước hình trụ, vùng eo hẹp và phần hành hình tròn, tiếp nối với ruột và kết thúc tại hậu môn gần cuối đuôi Hệ thống sinh sản của giun cái tương tự như con cái ký sinh ngoại trừ việc mỗi tử cung chứa nhiều trứng, cho thấy khả năng sinh sản cao.
Giun đực nhỏ hơn giun cái, có đuôi nhọn uốn cong về phía trước tạo hình chữ J, giúp phân biệt rõ ràng Hệ thống sinh sản của chúng gồm một ống thẳng đơn giản, phía trước là tinh hoàn nối với ống dẫn tinh dẫn tới túi tinh, chứa tinh trùng Các cơ quan này đổ tinh trùng vào xoang sinh dục, được bao quanh bởi hai gai sinh dục, giúp đảm bảo quá trình sinh sản hiệu quả.
Trứng do giun cái sống tự do đẻ có vỏ mỏng, hình bầu dục, kích thước khoảng
40 x 70μm, trải qua một số lần phân chia và thành phôi đầy đủ.m, trải qua một số lần phân chia và thành phôi đầy đủ.
Trứng do giun cái ký sinh đẻ tương tự, nhưng nở trong tử cung và hiếm khi nhìn thấy trứng [5], [22].
1.3.2.4 Ấu trùng Ấu trùng giai đoạn 1 (rhabditiform larva– AT có thực quản phình): nở từ trứng, thường thấy trong phân hoặc dịch ruột Kích thước khoảng 200 μm, trải qua một số lần phân chia và thành phôi đầy đủ.m, rộng hơn về phía trước và có đuôi hình nón Thực quản rõ chiếm 1/3 phía trước cơ thể, có eo thắt nên có dạng phình (Hình 1.1). Ấu trùng giai đoạn hai (filariform larva- AT có thực quản hình ống): phát triển từ AT giai đoạn 1 Kớch thước thay đổi từ 400 – 700 àm, thực quản cú dạng hỡnh ống dài từ 1/3 – 1/2 chiều dài toàn thân Đuôi tù hoặc có hình chẻ 2 ở tận cùng như đuôi chim én hoặc hình chữ V (Hình 1.2) [5], [22].
Hình thể các giai đoạn phát triển của Strogyloides spp
(nguồn Centers for Disease Control and Prevention (CDC))
Hình 1.4 Giun đực sống tự do (x100)
Hình 1.5 Giun cái sống ký sinh
Hình 1.3 Giun cái sống tự do (x100)
Chu kỳ phát triển sinh học của giun lươn
Trên thực tế có hai giai đoạn của chu kỳ sinh học giun lươn: chu kỳ ký sinh (trực tiếp) và chu kỳ sống tự do (gián tiếp) [5], [26].
Chu kỳ trực tiếp xảy ra chủ yếu ở vùng ôn đới, nơi điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự lây truyền trực tiếp của mầm bệnh Trong khi đó, chu kỳ gián tiếp lại phổ biến ở vùng nhiệt đới, do mầm bệnh thích nghi với điều kiện sống thay đổi của môi trường ngoài trời Điều này cho thấy môi trường khí hậu ảnh hưởng lớn đến cơ chế lây truyền của mầm bệnh trong các khu vực khác nhau.
Giun trưởng thành sống trong niêm mạc ruột non, đặc biệt tại đoạn hổng tràng Giun cái đẻ trứng trực tiếp trong niêm mạc ruột để phát triển trong môi trường nge an toàn Quá trình này dẫn đến sự hình thành của trứng giun, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hoạt động tiêu hóa của người bệnh.
AT giai đoạn 1 trong vài giờ sau đó tại niêm mạc ruột AT giai đoạn 1 sẽ di chuyển đến thành ruột non rồi thải ra phân.
Ngoài môi trường, AT rất linh hoạt trong việc lấy dinh dưỡng từ các mảnh vụn tế bào chết xung quanh, phát triển thêm qua phân và trong đất Dưới điều kiện ngoại cảnh tối ưu như khí hậu ấm và ẩm cùng with đầy đủ chất dinh dưỡng, quá trình phát triển của AT diễn ra tự nhiên và gián tiếp Trong quá trình này, AT lột xác một lần nữa để chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ phát triển.
Giun trưởng thành sống tự do trong môi trường khoảng 36 giờ, sau đó tiến hành giao phối và đẻ trứng Trứng sau đó phát triển thành ấu trùng (AT), trải qua quá trình lột xác nhiều lần để đạt tới giai đoạn lây nhiễm Quá trình này dẫn đến khả năng xâm nhập và gây bệnh cho con người, gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng [9].
Trong điều kiện thuận lợi của môi trường, chu kỳ trực tiếp của AT diễn ra nhanh chóng, với giai đoạn 1 lột xác hai lần để tạo ra AT cảm nhiễm trong vài ngày Khi tiếp xúc với da người, AT xâm nhập gây viêm da tại vị trí xâm nhập ban đầu Tiếp theo, AT đi vào mạch máu nhỏ hoặc hệ mạch lympho, sau đó di chuyển đến cơ quan tim rồi tới phổi Sau khi xuyên qua phế nang, AT di chuyển theo đường dẫn khí, ngược lên hầu họng rồi xuống thực quản và đến ruột non, gây ảnh hưởng đến các bộ phận này.
Sau 17 ngày kể từ khi tiếp xúc và xuyên qua da, giun cái đào hầm trong niêm mạc đường tiêu hóa và đẻ trứng Mỗi ngày, giun cái không đẻ quá 50 trứng, và nhiều tác giả ủng hộ lý thuyết rằng chỉ có giun cái sinh sản đơn tính (trinh sản) mà không có giun đực ký sinh cùng.
Tuổi thọ của loài giun S stercoralis này có thể kéo dài khoảng 5 năm.
1.4.2 Chu trình tự nhiễm (mạn tính)
Hiện tượng tự nhiễm chủ yếu xảy ra với loài S stercoralis, gây các bệnh nghiêm trọng ở con người, cao hơn các tác nhân ký sinh trùng ruột khác Quá trình này xảy ra khi một số hoặc tất cả các ấu trùng giai đoạn 1 cư trú trong thành ruột lột xác nhanh thành ấu trùng giai đoạn nhiễm, hình thành một vòng phát triển ký sinh bên trong vật chủ Tình trạng tự nhiễm có khả năng duy trì suốt đời của vật chủ, gây ra các vấn đề sức khỏe kéo dài và phức tạp.
AT giai đoạn nhiễm xâm nhập vào niêm mạc ruột non gây hiện tượng tái nhiễm từ bên
Hình 1.6 Chu trình phát triển của S Stercoralis
(Nguồn CDC) trong, hay có thể xâm nhập tại da xung quanh hậu môn gây hiện tượng tái nhiễm từ bên ngoài [4], [9]
Sau khi đi vào hệ tuần hoàn, AT sẽ di chuyển đến phổi rồi quay trở lại ruột để phát triển thành con cái có khả năng gây bệnh Hiện tượng tự nhiễm này giải thích cho diễn tiến mạn tính của bệnh ở những người di cư đến vùng lưu hành giun lươn, cũng như duy trì bệnh lâu dài trong cơ thể dù không nhiễm thêm cá thể AT mới Tình trạng này thường gặp ở những đối tượng có khiếm khuyết về miễn dịch qua trung gian tế bào, góp phần vào khả năng tồn tại kéo dài của bệnh.
Quá trình tự nhiễm đưa đến 2 hình thái quan trọng nhất của bệnh giun lươn đó là hội chứng tăng nhiễm và bệnh giun lươn lan toả [30].
Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng bệnh giun lươn
Với chu kỳ phát triển của giun lươn mô tả ở trên, biểu hiện lâm sàng của bệnh giun lươn có thể chia làm 3 thể bệnh như sau:
Bệnh giun lươn mạn tính thường không gây ra triệu chứng rõ ràng, nhưng có thể xuất hiện các triệu chứng ngắt quãng ở đường tiêu hóa, da và phổi theo chu kỳ tự nhiễm Trong những trường hợp hiếm gặp, bệnh có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như viêm khớp, rối loạn nhịp tim và rối loạn hấp thu mạn tính.
Bệnh giun lươn cấp tính thường bắt đầu với các biểu hiện lâm sàng liên quan đến con đường di chuyển của ký sinh trùng đến ruột non Ban đầu, triệu chứng thường xuất hiện trên da tại vị trí AT xâm nhập, gây ngứa hoặc phát ban Sau đó, bệnh có thể gây các vấn đề ở đường hô hấp và tiêu hóa như ho, khó thở hoặc đau bụng Hiểu rõ các dấu hiệu này giúp phát hiện và điều trị bệnh kịp thời, giảm thiểu biến chứng.
Hội chứng tăng nhiễm và thể bệnh giun lươn lan tỏa thường gặp ở bệnh nhân sử dụng corticoides lâu dài hoặc giảm miễn dịch do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong trường hợp nhiễm giun lươn mãn tính và hội chứng tăng nhiễm, các tác nhân chủ yếu giới hạn ở ống tiêu hóa và phổi Tuy nhiên, nhiễm lan tỏa có thể gây xâm lấn ở nhiều cơ quan khác nhau, đòi hỏi chẩn đoán và điều trị phù hợp để ngăn chặn biến chứng nghiêm trọng.
Với các đặc điểm của bệnh đã nêu trên các nhóm triệu chứng có thể gặp là:
Triệu chứng da khi AT xâm nhập lần đầu gây viêm da, khiến da ngứa, sưng đỏ, bạch cầu ái toan (BCAT) tăng nhưng nhanh khỏi Tuy nhiên, các lần sau thường nặng hơn, với các vệt ngứa tập trung chủ yếu ở thân dưới, đùi và mông Vết sưng đỏ có thể di chuyển vài centimet mỗi giờ, gây khó chịu và làm bệnh nhân không chú ý đến các dấu hiệu ban đầu.
Triệu chứng ở phổi do tác nhân gây bệnh thường bao gồm viêm phổi, đặc biệt khi có biến chứng Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể không xuất hiện triệu chứng ho rõ ràng nhưng sẽ gặp phải các biểu hiện như khò khè, khó thở và đôi khi là suy hô hấp, cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời để phòng ngừa biến chứng nặng.
Triệu chứng ở ruột khi giun trưởng thành ký sinh với số lượng nhiều bao gồm cảm giác nóng rát, đau vùng thượng vị giống như loét dạ dày tá tràng Người bệnh thường gặp phải dấu hiệu tiêu chảy kéo dài với phân lỏng như nước, đi nhiều lần trong ngày, xen kẽ với những đợt táo bón phổ biến trong các trường hợp nhiễm vừa và nặng Ngoài ra, các triệu chứng khác như đầy hơi, chán ăn, buồn nôn và nôn cũng thường gặp Khám lâm sàng có thể ghi nhận bụng đề kháng ở vùng thượng vị, đau co cứng vùng bụng dưới đi kèm với tiêu chảy từng đợt hoặc kéo dài Trong các trường hợp nhiễm nặng, suy dinh dưỡng có thể xảy ra, cùng với các biến chứng hiếm gặp như viêm ruột hoại tử hoặc chảy máu dạ dày tá tràng.
Bệnh giun lươn lan tỏa là tình trạng nhiễm trùng nguy hiểm thường gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, khiến tăng khả năng nhiễm và gia tăng tỷ lệ tử vong Trong bệnh lý này, ký sinh trùng có thể xâm nhập vào nhiều bộ phận như dạ dày, phổi, hệ thần kinh trung ương, phúc mạc, gan và thận, gây ra các biến chứng nguy hiểm Nhiễm trùng huyết và viêm màng não có thể xảy ra do hàng rào niêm mạc bảo vệ bị phá vỡ, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng toàn thân Bệnh thường thấy ở các bệnh nhân đã ghép tạng, mắc ung thư máu, u lympho hoặc dùng corticoides kéo dài, đòi hỏi phải có biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời.
Triệu chứng đặc trưng của bệnh giun lươn bao gồm tăng BCAT theo từng đợt, thể hiện rõ qua biểu đồ dạng lavier hình răng cưa, phản ánh các chu kỳ tự nhiễm diễn ra trên cơ thể bệnh nhân Tăng BCAT cũng có thể xuất hiện trong các trường hợp bệnh nặng, cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình trạng sức khỏe.
Thiếu máu, giảm số lượng bạch cầu và albumin trong máu đều là những triệu chứng có thể xuất hiện trong các bệnh lý liên quan Xét nghiệm phân giúp phát hiện máu ẩn, phân nhầy và tinh thể Charcot-Leyden, hỗ trợ chẩn đoán chính xác Những dấu hiệu này đều quan trọng trong việc theo dõi và chẩn đoán các bệnh lý tiêu hóa liên quan.
1.5.2 Chẩn đoán nhiễm giun lươn
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và kết quả các xét nghiệm cận lâm sàng, các kỹ thuật chẩn đoán bệnh giun lươn bao gồm xét nghiệm ký sinh trùng, xét nghiệm miễn dịch và kỹ thuật phân tử, giúp xác định chính xác tình trạng nhiễm bệnh và định hướng điều trị hiệu quả.
1.5.2.1 Xét nghiệm ký sinh trùng
Kỹ thuật xét nghiệm phân truyền thống chủ yếu nhằm phát hiện kháng thể chống giun lươn mà không phát hiện trứng như các bệnh giun đường ruột khác, giúp chẩn đoán chính xác hơn trong một số trường hợp Tuy nhiên, độ nhạy của phương pháp này vẫn còn rất thấp, gây khó khăn trong việc xác định chính xác bệnh nhiễm giun lươn qua xét nghiệm phân.
Kato-Katz là kỹ thuật đơn giản để xác định cường độ nhiễm giun sán bằng cách đếm số lượng trứng trên gram phân, được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu nhiễm giun sán, nhưng không hiệu quả với cường độ nhiễm thấp hay AT giun lươn Để tìm AT giun lươn, kỹ thuật Baermann thường được áp dụng, tuy nhiên ít phổ biến trong chẩn đoán do phương pháp này phức tạp, tốn kém và yêu cầu có sự hiện diện của AT sống.
Phát hiện kháng thể IgG bằng kỹ thuật ELISA ngày càng phổ biến trong chẩn đoán nhiễm giun lươn, đặc biệt khi kết hợp với xét nghiệm phân Các xét nghiệm này có giá trị dự đoán âm tính cao, giúp loại trừ chính xác nhiễm giun lươn Tuy nhiên, chúng còn tồn tại một số hạn chế như phản ứng chéo ở bệnh nhân nhiễm giun chỉ, độ nhạy thấp hơn ở bệnh nhân mắc u ác tính về huyết học, và không thể phân biệt được giữa nhiễm hiện tại hay quá khứ.
Phát hiện kháng nguyên là phương pháp xét nghiệm giúp xác định sự có mặt của kháng nguyên S stercoralis trong phân, góp phần vượt qua một số hạn chế của các xét nghiệm phát hiện kháng thể Hiện nay, các kỹ thuật ELISA đang được thử nghiệm để phát hiện kháng nguyên này trong mẫu phân, nâng cao độ chính xác và hiệu quả chẩn đoán bệnh.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu 1
Bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược Huế được chỉ định làm xét nghiệm huyết thanh tìm kháng thể IgG kháng S stercoralis.
Tiêu chuẩn lựa chọn: bệnh nhân được chỉ định làm xét nghiệm huyết thanh
ELISA phát hiện kháng thể IgG kháng giun lươn.
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu xác định tỷ lệ nhiễm giun lươn được xác định theo công thức:
- d = 0,05 là độ chính xác tuyệt đối mong muốn
Trong nghiên cứu của Võ Thị Lâm Bình (2014), tỷ lệ nhiễm giun lươn tại xã Dương Thành, huyện Phú Bình, Thái Nguyên và xã Cáo Điền, huyện Hạ Hòa, Phú Thọ được ước tính là 7,6%, sử dụng phương pháp ELISA để phát hiện các ca nhiễm Các công thức tính toán cho thấy mẫu cần lấy tối thiểu là 108 mẫu, tuy nhiên, thực tế chúng tôi đã thu thập được tổng cộng 193 mẫu để đảm bảo kết quả chính xác hơn.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
2.1.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiên từ tháng 6/2020 đến tháng 4/2021 tại Khoa Ký sinh trùng Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế.
Bảng 2.1: Các biến số sử dụng trong nghiên cứu cho mục tiêu 1
STT Tên biến Cách đo lường Loại biến
1 Giới tính Tham khảo hồ sơ xét nghiệm
2 Tuổi Tham khảo hồ sơ xét nghiệm
Mức phân nhóm: dưới 15 tuổi, từ 15 đến 60 tuổi và trên 60 tuổi
3 Địa chỉ Tham khảo hồ sơ xét nghiệm Định danh
Tham khảo hồ sơ xét nghiệm Mức phân nhóm: Bệnh tiêu hóa, bệnh tim mạch, bệnh hô hấp, bệnh ký sinh trùng, các bệnh khác Định danh Định danh
Tham khảo hồ sơ xét nghiệm Khoa Nội Tổng hợp, Khoa Nội tim mạch, phòng khám Nội, Khoa Ngoại, các khoa khác Định danh
Tham khảo hồ sơ xét nghiệm Kết quả xét nghiệm ELISA: chỉ số OD Mức phân nhóm đánh giá: Có nhiễm (+): OD>1,0 và không nhiễm (-): OD ≤1,0 Định lượng
Thu thập thông tin bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm huyết thanh giun lươn tại khoa Ký sinh trùng tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế.
Kỹ thuật ELISA để phát hiện kháng thể IgG kháng giun lươn sử dụng bộ kit của Cortez Diagnostics, Hoa Kỳ, thiết kế với kháng nguyên Strongyloides đã được gắn sẵn trong các miếng nhựa polystyren để nâng cao độ nhạy Quá trình này dựa trên việc kháng nguyên liên kết với kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh người, sau đó tạo thành phức hợp với kháng thể IgG người gắn men peroxidase Khi thêm cơ chất, men peroxidase phân giải H2O2 tạo oxy nguyên tử, làm oxy hóa cơ chất và thay đổi màu phản ứng Mức độ phản ứng được đo bằng máy đo quang để xác định chỉ số OD, giúp chẩn đoán chính xác nhiễm giun lươn.
Nhập số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0.
Sử dụng thống kê mô tả tần số và tỷ lệ (%) là phương pháp hiệu quả để phân tích biến định tính, giúp xác định rõ các phân phối và tỷ lệ phần trăm của từng giá trị Đối với biến định lượng, việc áp dụng các thống kê mô tả như trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất (Min) và lớn nhất (Max) sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về phân phối dữ liệu, đồng thời hỗ trợ đánh giá mức độ biến động và phạm vi dữ liệu Các phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả phân tích dữ liệu, tối ưu hóa quá trình nghiên cứu và đảm bảo kết quả chính xác, phù hợp với các tiêu chuẩn SEO về nội dung phân tích thống kê.
Phân tích các mối liên quan, so sánh sự khác nhau giữa các biến số bằng test χ 2 để phân tích với mức ý nghĩa p
Bảng 2.3: Giá trị các chỉ số cận lâm sàng
Chỉ số Đơn vị Bình thường
Creatin μm, trải qua một số lần phân chia và thành phôi đầy đủ.mol/L 52 – 120
Kỹ thuật phỏng vấn thu thập dữ liệu
- Thực hiện phỏng vấn trực tiếp, thăm khám các triệu chứng nếu có, thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi có cấu trúc được soạn sẵn.
- Thu thập thông tin bệnh nhân từ bệnh án tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế.
Nhập số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0.
Phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả về tần số và tỷ lệ phần trăm (%) của các biến định tính để đánh giá phân phối dữ liệu Ngoài ra, còn sử dụng thống kê mô tả như trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất (Min) và lớn nhất (Max) để mô tả đặc điểm của các biến định tính, giúp cung cấp cái nhìn tổng quan chính xác và rõ ràng về dữ liệu nghiên cứu.
Phân tích các mối liên quan, so sánh sự khác nhau giữa các biến định lượng bằng test t để phân tích với mức ý nghĩa p 0,05 xác nhận rằng sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun lươn giữa nam và nữ là không có ý nghĩa thống kê Điều này cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ nhiễm giun lươn trong cộng đồng nghiên cứu.
Bảng 3.7: Phân bố độ tuổi ở bệnh nhân nhiễm giun lươn Độ tuổi 15-60
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm giun lươn
Tỷ lệ nhiễm giun lươn cao nhất ở người trên 60 tuổi, đạt 50,0%, trong khi ở nhóm tuổi từ 15-60 tuổi tỷ lệ nhiễm là 31,4% Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun lươn giữa các độ tuổi có ý nghĩa thống kê với p