Nhằm cung cấp một cáinhìn chung về tình hình tập luyện Dưỡng sinh của người dân thành phố Huế để từ đó tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát t
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Người dân ở 3 phường Vĩnh Ninh, Tây Lộc và An Hòa trên địa bàn Thành phố Huế (Người từ 18 tuổi trở lên trả lời được câu hỏi phỏng vấn).
Người dân sinh sống và có hộ khẩu tại ba phường Vĩnh Ninh, Tây Lộc và An Hòa, thành phố Huế, từ 18 tuổi trở lên và có khả năng trả lời câu hỏi phỏng vấn sẽ được ưu tiên tham gia Đây là nhóm đối tượng chính để khảo sát nhằm thu thập dữ liệu chính xác và phù hợp để phục vụ các mục tiêu nghiên cứu hoặc dự án Việc lựa chọn các cá nhân thuộc khu vực này giúp đảm bảo tính đa dạng và phản ánh đúng thực trạng cộng đồng địa phương.
- Người từ chối phỏng vấn.
- Người không sinh sống hoặc không có hộ khẩu tại 1 trong 3 phường VĩnhNinh, Tây Lộc và An Hòa – Thành phố Huế
Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu nhằm ước lượng tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh của người dân tại 3 phường, với đối tượng nghiên cứu là người dân từ 18 tuổi trở lên Công thức này giúp xác định số lượng mẫu phù hợp để đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả, dựa trên các yếu tố như mức độ tự tin và sai số cho phép Việc tính cỡ mẫu chính xác đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu để đảm bảo phân tích thống kê có độ tin cậy cao.
+ Z: Là trị số nghiên cứu (tùy thuộc vào mức tin cậy)
Với mức tin cậy là 95% thì Z = 1,96 (α = 0,05).
+ p: Là tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh của người dân tại 3 phường trên, ước tính p = 0,5.
Vậy số lượng cần khảo sát là 384 người dân.
- Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (3 phường Vĩnh Ninh, Tây Lộc và An Hòa tương ứng với 3 tầng).
Bước 1: Tính cỡ mẫu của từng phường n i =n × N i
+ ni: cỡ mẫu của phường i
+ n: cỡ mẫu của cả 3 phường (n = 384)
+ Ni: tổng số người dân của phường i
+ N: tổng số người dân của 3 phường trên (tức của quần thể nghiên cứu) [11].
- Dựa trên danh sách số khẩu được cung cấp, tôi tính được: n tayloc = 168; n vinhninh = 99; n anhoa = 117
Bước 2: Trong mỗi phường, lập danh sách tất cả các tổ; sau đó lấy ngẫu nhiên
3 tổ/phường vào nghiên cứu (tổng cộng có 9 tổ được khảo sát).
Bước 3: Thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên đơn trong từng tổ đã chọn
+ Phường Vĩnh Ninh: chọn ngẫu nhiên mỗi tổ 99/3 cá thể.
+ Phường Tây Lộc: chọn ngẫu nhiên mỗi tổ 168/3 cá thể.
+ Phường An Hòa: chọn ngẫu nhiên mỗi tổ 117/3 cá thể.
Cách chọn tại thức địa:
Trong quá trình khảo sát, mỗi phường được chọn ngẫu nhiên 3 tổ, và trong mỗi tổ, hướng đi được xác định bằng phương pháp quay cổ chai để đảm bảo tính khách quan Trong từng nhà, người phỏng vấn sẽ chọn ngẫu nhiên một người từ 18 tuổi trở lên có hộ khẩu tại đó để trả lời bộ câu hỏi, và nếu đối tượng từ chối, sẽ chuyển sang người khác hoặc bỏ qua nếu vắng nhà, sau đó chuyển sang nhà kế tiếp theo theo phương pháp “nhà liền nhà” Trường hợp không đủ đối tượng để khảo sát, điều tra viên sẽ quay lại vị trí ban đầu và đi theo hướng ngược lại nhằm đảm bảo khảo sát đầy đủ và chính xác các đối tượng cần thiết.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3.1 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2020 đến tháng 2/2021.
Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào việc chọn ra ba phường thuộc các vùng khác nhau trên địa bàn thành phố Huế để làm rõ đặc điểm từng khu vực Cụ thể, vùng nội thành, gồm phường Tây Lộc, mang đặc trưng của khu trung tâm sôi động, nhộn nhịp và phát triển vượt bậc Vùng trung tâm thành phố, với phường Vĩnh Ninh, nổi bật bởi các tiện ích, các hoạt động văn hóa và trung tâm thương mại sầm uất, thu hút đông đảo cư dân và khách du lịch Trong khi đó, vùng rìa của thành phố, có phường An Hòa, là khu vực có môi trường yên tĩnh, phù hợp cho cuộc sống bình yên, kết nối với các khu vực ngoại thành và phát triển hạ tầng đô thị mới.
Nội dung và biến số nghiên cứu
Trên cơ sở dữ liệu thu thập được qua phiếu điều tra, chúng tôi phân tích, xử lý qua các mục sau:
2.4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
- Tuổi (tính theo dương lịch) của đối tượng điều tra
+ Trung học cơ sở (THCS)
+ Trung học phổ thông (THPT)
+ Trên trung học phổ thông
+ Cán bộ công nhân viên chức (CBCNVC)
+ Công nhân và thợ thủ công
+ Hưu trí, mất sức lao động (MSLĐ)
2.4.2 Tình hình tập luyện dưỡng sinh của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
+ Số người dân tập luyện
+ Số người dân không tập luyện
- Tỷ lệ bệnh nhân có hiểu biết về Dưỡngsinh:
+ Số người dân không biết
- Hiểu biết về tập luyện Dưỡng sinh từ :
+ Sách vở, báo chí, tivi, internet
+ Gia đình và những người xung quanh + Cán bộ y tế
- Hình thức Dưỡng sinh đã tập luyện: + Khí công
+ Các bài tập thể dục
+ Đi bộ, đi xe đạp,…
- Thời gian mỗi lần tập:
- Thời điểm thường tập luyện:
+ Nhà văn hóa/ Công viên
- Cảm giác sau khi tập:
- Lí do tập luyện Dưỡng sinh:
+ Cải thiện bệnh lý đang mắc
+ Có thời gian rảnh nên tập
- Lí do không tập luyện:
+ Không biết về các bài tập, động tác
+ Động tác khó thực hiện
+ Không có người hướng dẫn
2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến việc tập luyện Dưỡng sinh của người dân.
- Tuổi và việc tập luyện Dưỡng sinh.
- Nghề nghiệp và việc tập luyện Dưỡng sinh.
- Trình độ học vấn và việc tập luyện Dưỡng sinh.
- Tôn giáo liên quan với việc tập luyện Dưỡng sinh.
- Bệnh lý liên quan với tập luyện Dưỡng sinh.
- Có hiểu biết về Dưỡng sinh và việc tập luyện Dưỡng sinh.
- Phường cư trú với việc tập luyện Dưỡng sinh.
Phương pháp thu thập số liệu
Với mục tiêu nghiên cứu tổng thể, cần thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hóa – xã hội của ba phường Vĩnh Ninh, An Hòa, Tây Lộc tại Thành phố Huế Những dữ liệu này giúp hiểu rõ đặc điểm địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để phát triển bền vững Việc phân tích điều kiện tự nhiên như địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, góp phần xác định tiềm năng phát triển kinh tế cho từng phường Đồng thời, khảo sát về kinh tế và các hoạt động sản xuất, dịch vụ của cộng đồng địa phương giúp đánh giá thực trạng, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Bên cạnh đó, nghiên cứu văn hóa – xã hội của các phường này sẽ giúp bảo tồn giá trị truyền thống và thúc đẩy hoạt động du lịch, góp phần phát triển toàn diện cho khu vực.
- Liên hệ với Uỷ ban nhân dân (UBND), Trạm y tế (TYT) của 3 phường trên.
- Lập phiếu điều tra gồm các câu hỏi đóng mở.
- Thực hiện điều tra thử 20 hộ, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa và hoàn thiện phiếu.
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 384 người dân tại phường Vĩnh Ninh, An Hòa và Tây Lộc, thành phố Huế Các cuộc khảo sát được thực hiện theo phiếu điều tra có sẵn, bao gồm người dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp hay trình độ văn hóa Nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu đa dạng và chính xác phục vụ cho mục tiêu phân tích sâu hơn về cộng đồng địa phương Thông qua phương pháp này, chúng tôi đảm bảo phản ánh chân thực ý kiến cũng như các vấn đề mà người dân đang quan tâm.
Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được phân tích, xử lý theo phương pháp thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0
- Sử dụng các thuật toán:
+ Trung bình cộng tuổi các đối tượng được phỏng vấn chúng tôi tính theo công thức:
+ Độ lệch chuẩn tính theo công thức:
+ Tính tỷ lệ phần trăm (%)
+ So sánh các tỷ lệ bằng kiểm định χ 2
Với p > 0,05: sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Với p < 0,05: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Đạo đức nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đào tạo nhà trường thông qua và cho phép thực hiện.
- Người phỏng vấn giải thích rõ trước khi bắt đầu phỏng vấn Việc điều tra không gây tổn hại đến sức khỏe người được phỏng vấn.
- Chỉ phỏng vấn những người đồng ý trả lời Tôn trọng câu trả lời của đối tượng phỏng vấn, ghi chép đúng sự thật.
- Các thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu được xử lý và công bố dưới dạng số liệu, không nêu danh tính.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1: Tỷ lệ theo giới của đối tượng nghiên cứu
Giới Số lượng Tỷ lệ
Nhận xét: Trong số 384 người dân được phỏng vấn thì tỷ lệ người dân là nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới (205/179)
3.1.2 Đặc điểm theo nhóm tuổi
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Trong 384 người dân được khảo sát: nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm trên 60 tuổi (chiếm 38%), chiếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm 18- 30 tuổi n = 146 n = 117 n = 84 n = 37
18 - 30 tuổi 31 - 45 tuổi 46 - 60 tuổi Trên 60 tuổi
(9,6%) Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 54,7 16,3 Tuổi lớn nhất là 90 tuổi, nhỏ nhất là 18 tuổi
3.1.3 Đặc điểm về tôn giáo
Bảng 3.2: Đặc điểm tôn giáo của đối tượng nghiên cứu
Trong số 384 người dân được khảo sát, tỷ lệ người không theo tôn giáo nào cao nhất, chiếm 51,3%, tiếp đến là người theo đạo Phật với 42,7%, tôn giáo Thiên Chúa giáo chiếm 5%, và còn lại 1% tin theo các tôn giáo khác.
3.1.4 Đặc điểm về trình độ học vấn
Bảng 3.3: Học vấn của đối tượng nghiên cứu
Trình độ học vấn n Tỷ lệ %
Trên trung học phổ thông 160 41,7
Trong số 384 người dân được khảo sát, tỷ lệ mù chữ chỉ chiếm 0,5%, cho thấy trình độ nhận thức cơ bản của cộng đồng tương đối cao Trong đó, tỷ lệ người có trình độ tiểu học là 10,9%, trung học cơ sở đạt 20,3%, trung học phổ thông chiếm 26,6%, và tỷ lệ người có trình độ trên trung học phổ thông cao nhất là 41,7% Điều này cho thấy sự phát triển trong giáo dục của cộng đồng, với phần lớn dân cư đạt trình độ trung học phổ thông trở lên.
3.1.5 Đặc điểm về nghề nghiệp
Công nhân - thợ thủ công
Hưu trí - MSLĐ Buôn bán Khác
Biểu đồ 3.2 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Trong cuộc điều tra với 384 người, tỷ lệ người cao tuổi hoặc mất khả năng lao động chiếm lớn nhất là 26.6%, cho thấy rằng chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ người mất sức lao động là vấn đề quan trọng Ngành buôn bán đứng thứ hai với tỷ lệ 26,0%, phản ánh sự đa dạng trong hoạt động kinh tế của cộng đồng Nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất chỉ 5,7%, cho thấy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề trong xã hội Các cán bộ công nhân viên chức chiếm 18,8%, trong khi công nhân và thợ thủ công chiếm 14,8%, thể hiện sự phân bổ nghề nghiệp đa dạng trong cộng đồng Ngoài ra, các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ 8,1%, góp phần làm phong phú thêm bức tranh kinh tế địa phương.
3.1.6.Xếp loại kinh tế hộ gia đình
Bảng 3.4: Xếp loại kinh tế hộ gia đình
Xếp loại kinh tế n Tỷ lệ %
Trong số 384 người dân được điều tra, tỷ lệ hộ gia đình trung bình chiếm cao nhất với 63,0%, phản ánh đặc điểm kinh tế trung bình của cộng đồng Các hộ gia đình khá chiếm 22,7%, thể hiện mức sống ổn định và khả năng tự trang trải cao hơn Trong khi đó, tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất chỉ là 3,1%, cho thấy tình hình kinh tế của địa phương có nhiều chuyển biến tích cực Cận nghèo chiếm 11,2%, là nhóm cần tập trung hỗ trợ để nâng cao mức sống và đảm bảo an sinh xã hội.
3.1.7 Đặc điểm về phường cư trú
Biểu đồ 3.3 Phường cư trú của đối tượng nghiên cứu
Tình hình tập luyện dưỡng sinh của người dân trên một số địa bàn Thành phố Huế
3.2.1 Tỷ lệ người dân đã từng nghe qua Dưỡng sinh
Tỷ lệ bệnh nhân biết về Dưỡng sinh Từng nghe qua
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người dân đã từng nghe qua Dưỡng sinh
Trong tổng số 384 người dân được khảo sát, có 81,5% (gần 313 người) đã nghe qua về Dưỡng sinh, trong khi 18,5% (đạt 71 người) chưa từng nghe về khái niệm này Tuy nhiên, số người thực sự hiểu biết về Dưỡng sinh chỉ chiếm 47,7% (183 người), còn lại 52,3% (201 người) không biết gì về phương pháp này Điều này cho thấy rằng việc nghe qua về Dưỡng sinh không đồng nghĩa với việc người dân hiểu rõ về nó hoặc biết các bài tập hàng ngày, nhiều người chỉ nghe tên mà không nhận thức đúng về ý nghĩa và hình thức tập luyện của Dưỡng sinh.
3.2.2 Nguồn cung cấp thông tin về Dưỡng sinh của người dân
Sá ch v ở, bá o ch í, tiv i, int ern et
Gi a đ ình và nh ữn g n gư ời xu ng qu an h
Biểu đồ 3.5 Nguồn cung cấp thông tin Dưỡng sinh cho người dân
Dưỡng sinh được người dân biết đến chủ yếu qua sách vở, báo chí, truyền hình và internet, chiếm tỷ lệ 70,9% Bên cạnh đó, một số người nhận thông tin từ gia đình và người xung quanh, chiếm 48,2% Ngoài ra, có 17,9% người được các cán bộ y tế chia sẻ kiến thức về Dưỡng sinh, trong khi một số nguồn khác như cán bộ phường, cán bộ công ty cũng đóng vai trò cung cấp thông tin nhưng chiếm tỷ lệ thấp, 4,5%.
3.2.3 Tỷ lệ tập luyện Dưỡng Sinh của người dân trên một số địa bàn thành phố Huế
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ tập luyện dưỡng sinh của người dân
Nhận xét: Trong khảo sát 384 người dân, có 183 người dân có tập luyện
Dưỡng sinh chiếm tỷ lệ 47,7%; 201 người dân không tập luyện chiếm 52,3%.
3.2.4 Các hình thức Dưỡng sinh được người dân tập luyện
Th ái cự c q uy ền
Cá c b ài tậ p th ể d ục Đi b ộ, đ i x e đ ạp ,…
Biểu đồ 3.7 Các hình thức Dưỡng sinh được người dân tập luyện
Trong số 183 người dân tập luyện Dưỡng sinh, các bài tập thể dục chiếm tỷ lệ lớn nhất với 54,6%, phản ánh việc chú trọng vào hoạt động thể chất để duy trì sức khỏe Đi bộ, đi xe đạp và các hình thức vận động nhẹ nhàng khác chiếm 31,7%, cho thấy sự ưa thích các hoạt động ngoài trời giúp nâng cao thể trạng Tự xoa bóp cũng rất phổ biến, chiếm 31,1%, giúp thư giãn và giảm căng thẳng cơ thể Yoga được ưa chuộng với tỷ lệ 27,3%, mang lại lợi ích về linh hoạt và tinh thần Thái cực quyền chiếm 14,2%, thể hiện sự quan tâm đến rèn luyện khí dựa trên nguyên tắc cân bằng nội khí và vận động chậm rãi Cuối cùng, khí công chiếm 8,7%, là phương pháp tập luyện giúp nâng cao năng lượng và sức khỏe toàn diện.
3.2.5 Địa điểm diễn ra tập luyện Dưỡng sinh của người dân
Tại nhà Nhà văn hóa-Công viên Bệnh viện Khác
Biểu đồ 3.8 Địa điểm diễn ra tập luyện Dưỡng sinh của người dân
Theo kết quả điều tra, nhà là địa điểm luyện tập phổ biến nhất, chiếm 62,8%, phản ánh xu hướng tập luyện tại không gian gia đình Ngoài ra, nhà văn hóa và công viên tiếp tục là các địa điểm ưa thích của cộng đồng, với tỷ lệ lần lượt là 43,2% Trong khi đó, bệnh viện là nơi ít được sử dụng nhất để tập luyện, chỉ chiếm 9,8% Các địa điểm khác như nơi làm việc, ven sông hoặc các con đường lại chiếm tỷ lệ 31,1%, cho thấy sự đa dạng trong lựa chọn không gian tập luyện của người dân.
3.2.6 Tần suất tập luyện Dưỡng sinh của người dân trên 1 tuần
Hàng ngày 2- 4 ngày/tuần 5- 7 ngày/tuần Không cố định
Biểu đồ 3.9 Tần suất luyện tập Dưỡng sinh
Trong số 183 người dân tham gia tập luyện Dưỡng sinh, có tới 60,1% duy trì thói quen tập hàng ngày, cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì luyện tập đều đặn để nâng cao sức khỏe Ngoài ra, 27,3% người tập từ 2-4 ngày mỗi tuần, phù hợp với các lịch trình bận rộn nhưng vẫn duy trì hoạt động thể chất đều đặn Một tỷ lệ nhỏ hơn, 7,1%, tập từ 5-7 ngày mỗi tuần, phản ánh sự cam kết cao trong việc duy trì luyện tập liên tục Trong khi đó, 5,5% người dân tập luyện linh hoạt tùy theo thời gian rảnh, cho thấy nhu cầu phù hợp với lịch trình cá nhân để duy trì sức khỏe qua hoạt động thể thao.
3.2.7 Thời gian mỗi lần tập luyện của người dân
Biểu đồ 3.10 Thời gian mỗi lần luyện tập
Trong số 183 người dân tham gia tập luyện, tỷ lệ lớn nhất (47,5%) tập luyện từ 30 đến 60 phút mỗi lần, cho thấy mức độ phổ biến của việc duy trì bài tập trung bình Có 29% người tập luyện dưới 30 phút mỗi lần, phản ánh xu hướng tập ngắn ngày và phù hợp với nhịp sống bận rộn Trong khi đó, 23,5% người dân dành trên 60 phút cho mỗi buổi tập, thể hiện sự quan tâm đến các bài tập kéo dài hơn để nâng cao sức khỏe Số liệu này cung cấp cái nhìn rõ nét về thói quen luyện tập của cộng đồng, giúp xây dựng chiến lược nâng cao sức khỏe phù hợp với từng nhóm người.
3.2.8 Thời điểm diễn ra tập luyện Dưỡng sinh của người dân
Biểu đồ 3.11 Thời điểm diễn ra tập luyện trong ngày
Theo khảo sát, buổi sáng là thời điểm tập luyện Dưỡng sinh được nhiều người dân ưa chuộng nhất, chiếm 61,2% Tiếp đến, buổi chiều được lựa chọn bởi 48,6% người tham gia, trong khi buổi tối có tỷ lệ thấp hơn, chỉ khoảng 20,2%.Thông tin này cho thấy buổi sáng là thời điểm lý tưởng để tập luyện Dưỡng sinh, phù hợp với thói quen sinh hoạt của phần lớn cộng đồng.
3.2.9 Cảm giác của người dân sau khi tập luyện Dưỡng sinh
Biểu đồ 3.12 Cảm giác sau khi tập luyện Dưỡng sinh
Trong số 183 người dân tham gia tập luyện Dưỡng sinh, phần lớn người cảm thấy thoải mái, thư giãn sau buổi tập chiếm tỷ lệ 86,9%, cho thấy tác dụng tích cực của phương pháp này trong việc nâng cao sức khỏe và giảm căng thẳng Ngoài ra, 9,8% người cảm thấy bình thường sau khi tập luyện, trong khi chỉ có 3,3% cảm thấy mệt hơn, chứng tỏ Dưỡng sinh là hoạt động phù hợp và an toàn cho đa số người tham gia.
3.2.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện thường xuyên của người dân
Biểu đồ 3.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện
Dựa trên khảo sát 183 người dân tập luyện Dưỡng sinh, yếu tố thời tiết như mưa, lụt, bão là tác nhân ảnh hưởng lớn nhất đến việc tập luyện, chiếm tỷ lệ 86,3% Thời gian là lý do chính khiến người dân bỏ lỡ tập luyện, góp phần vào 7,7% các trường hợp liên quan đến bệnh lý Ngoài ra, một số người gặp khó khăn trong thực hiện các động tác, gây mệt mỏi sau tập (4,4%), hoặc cảm thấy không thấy rõ hiệu quả (1,1%) Các yếu tố khác như dịch bệnh, không đủ sức khỏe, ngủ quên cũng ảnh hưởng đến việc duy trì luyện tập Tuy nhiên, vẫn có một nhóm người dân (42,6%) không gặp bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng đến thói quen tập luyện của họ.
3.2.11 Lý do người dân lựa chọn tập luyện Dưỡng sinh
An toàn Ít tốn kém
Có thời gian rảnh nên tập
Biểu đồ 3.14 Lý do người dân lựa chọn tập luyện Dưỡng sinh
Phần lớn người dân lựa chọn tập luyện Dưỡng sinh do nhận thấy hiệu quả rõ rệt (86,9%), đồng thời đánh giá cao tính an toàn và dễ tập luyện (53%) Thời gian rảnh rỗi cũng là một lý do phổ biến, chiếm 38,3%, cùng với chi phí thấp (33,3%) và khả năng cải thiện các bệnh lý hiện có (17,5%) Ngoài ra, một số người tham gia Dưỡng sinh vì lý do xã hội như gặp gỡ bạn bè hoặc vì yêu cầu từ cơ quan (5,5%).
3.2.12 Lý do người dân không tập luyện Dưỡng sinh
Không biết về các bài tập, động tác
Sợ tốn tiền Động tác khó thực hiện
Không có người hướng dẫn
Biểu đồ 3.15 Lý do không tập luyện Dưỡng sinh
Khảo sát cho thấy, lý do phổ biến nhất khiến người dân không tập luyện dưỡng sinh là thiếu thời gian, chiếm tới 73,6% Ngoài ra, 68,2% người tham gia nói rằng họ không biết về các bài tập và động tác phù hợp để thực hiện Một số khác cho biết họ gặp khó khăn vì không có người hướng dẫn (16,9%), hoặc cho rằng các động tác quá khó để thực hiện (4,5%) Một số người e ngại tốn tiền khi tham gia các lớp học dưỡng sinh, với tỷ lệ 3,5% Ngoài ra, 25,4% người dân đưa ra các lý do khác như không đủ sức khỏe, cảm thấy không phù hợp hoặc đã có chế độ luyện tập riêng.
Một số yếu tố liên quan tới việc tập luyện dưỡng sinh
Bảng 3.5 Tuổi và việc tập luyện Dưỡng sinh
Nhóm tuổi Có tập Không tập p n % n %
Nhận xét: Tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh ở nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao
Nhóm tuổi từ 46-60 chiếm tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh cao nhất với 49,6%, tiếp theo là nhóm 53,4%, trong khi đó, tỷ lệ này thấp hơn rõ ràng ở nhóm 18-30 tuổi (35,1%) và nhóm 31-45 tuổi (40,5%) Sự khác biệt về tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh giữa các nhóm tuổi tại một số địa bàn thành phố Huế có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Bảng 3.7 Tôn giáo và việc tập luyện Dưỡng sinh
Tôn giáo Có tập Không tập p n % n %
Tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh cao nhất trong nhóm phật giáo đạt 53,0%, trong khi đó nhóm thiên chúa giáo có tỷ lệ thấp nhất là 21,1% Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh giữa các tôn giáo của người dân tại các địa bàn thành phố Huế không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.8 Trình độ học vấn và việc tập luyện Dưỡng sinh
Trình độ học vấn Có tập Không tập p n % n %
Trên trung học phổ thông 95 59,4 65 40,6
Tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh cao nhất đạt 59,4% ở nhóm người dân có trình độ trên trung học phổ thông, trong khi nhóm mù chữ không tập luyện Dưỡng sinh nào Mặc dù có sự chênh lệch về tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh giữa các nhóm trình độ học vấn khác nhau tại các địa bàn thành phố Huế, nhưng các sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy trình độ học vấn không ảnh hưởng đáng kể đến thói quen tập luyện Dưỡng sinh của người dân.
Bảng 3.9 Xếp loại kinh tế hộ gia đình và việc tập luyện Dưỡng sinh
Xếp loại kinh tế hộ gia đình
Tỷ lệ tập luyện dưỡng sinh cao nhất trong nhóm nghèo đạt 58,3%, trong khi đó thấp nhất là nhóm có điều kiện kinh tế khá với 36,8% Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ tập luyện dưỡng sinh giữa các nhóm kinh tế tại các địa bàn thành phố Huế không mang ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy mức độ tiêu thụ hoạt động này không chênh lệch đáng kể giữa các nhóm kinh tế khác nhau.
Bảng 3.10 Nghề nghiệp và việc tập luyện Dưỡng sinh
Nghề nghiệp Có tập Không tập p n % n %
Công nhân và thợ thủ công 23 40,4 34 59,6
Hưu trí - Mất sức lao động 71 69,6 31 30,4
Tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh cao nhất được ghi nhận ở nhóm Hưu trí – Mất sức lao động với mức đạt 69,6%, trong khi đó nhóm cán bộ công chức viên chức (CBCNVC) có tỷ lệ này là 58,3% Ngược lại, nhóm nông dân có tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh thấp nhất, chỉ đạt 22,7% Sự khác biệt về tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh giữa các nhóm nghề nghiệp của người dân trên một số địa bàn thành phố Huế có ý nghĩa thống kê (p0,05), cho thấy các phường có mức độ tham gia tương đối đồng đều trong hoạt động dưỡng sinh.
Bảng 3.12 Từng nghe về Dưỡng sinh và việc tập luyện Dưỡng sinh
Từng nghe thông tin về
Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh giữa nhóm người dân có kiến thức về Dưỡng sinh và nhóm không biết về Dưỡng sinh tại một số địa bàn thành phố Huế, với giá trị p60 tuổi Trong đó nhóm 18-30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (9,6%) với
Nhóm tuổi 31-45 chiếm tỷ lệ 21,9% với 84 đối tượng, trong khi các nhóm tuổi 46-60 và trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn lần lượt là 30,5% (177 đối tượng) và 38% (146 đối tượng) Đây đều là các đối tượng trung niên và cao tuổi, thường xuyên ở nhà, hòa đồng, dễ tiếp xúc và tích cực tham gia trả lời phỏng vấn.
Tuổi trung bình là 54,7 ± 16,3 Tuổi lớn nhất là 90 tuổi, nhỏ nhất là 18 tuồi.
Về giới: Tỷ lệ nữ giới được khảo sát chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới (205:179).
4.1.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
Trong khảo sát gồm 384 người dân, nhóm có trình độ trên trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,7%, trong khi đó, nhóm mù chữ chiếm tỷ lệ thấp nhất chỉ 0,5% Nhóm có trình độ tiểu học cũng chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 10,9%, cho thấy đây là hai nhóm có trình độ học vấn thấp nhất và ít tiếp xúc với các lĩnh vực cũng như thông tin hơn các nhóm khác Do đó, việc tuyên truyền về Dưỡng sinh cần được điều chỉnh về kiến thức và phương pháp truyền đạt phù hợp để đạt hiệu quả cao hơn.
4.1.3 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đối tượng hưu trí - mất sức lao động chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 26,6% với 102 người, phù hợp với nhóm tuổi từ 46 đến trên 60 tuổi Tiếp đó, hoạt động buôn bán chiếm 26% với 100 người, do khu vực thành phố thuận lợi cho kinh doanh và trao đổi hàng hóa, trong khi diện tích đất nông nghiệp đang dần thu hẹp và chỉ chiếm 5,7% với 22 đối tượng khảo sát.
4.1.4 Xếp loại kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu
Trong số 384 người dân được điều tra, phần lớn (85,7%) thuộc nhóm có mức thu nhập trung bình và khá giả, phản ánh mức sống ngày càng nâng cao của người dân Cụ thể, có 329 người, trong đó chỉ 11,2% (43 người) rơi vào nhóm cận nghèo và 3,1% (12 hộ) nằm trong diện hộ nghèo Việt Nam đã đạt mức thu nhập bình quân đầu người trung bình, tỉnh Thừa Thiên Huế đang triển khai các chương trình giảm tỷ lệ hộ nghèo nhằm nâng cao đời sống người dân phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế.
Tình hình tập luyện dưỡng sinh của người dân trên một số địa bàn Thành phố Huế
4.2.1 Tỷ lệ có hiểu biết về Dưỡng sinh của người dân trên một số địa bàn thành phố Huế
Trong cuộc khảo sát với 384 người dân, chỉ có 183 người hiểu biết về Dưỡng sinh, dù có tới 313 người từng nghe qua khái niệm này Tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh tương đương với số người biết về nó, nhưng nhiều người vẫn chưa nhận thức đúng về mối liên hệ giữa hiểu biết và thực hành Điều này phản ánh sự bất cập trong việc tuyên truyền, khi Dưỡng sinh vẫn còn xa lạ với nhiều người, trong khi nếu coi đó là hình thức tập thể dục hay nâng cao sức khỏe, người dân sẽ dễ hiểu và tiếp cận hơn Do đó, cần xây dựng các chương trình giới thiệu đơn giản, chính xác về Dưỡng sinh để nâng cao nhận thức cộng đồng, đồng thời đẩy mạnh truyền thông từ các cán bộ y tế, những người đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.
4.2.2 Nguồn cung cấp thông tin về Dưỡng sinh cho người dân trên một số địa bàn thành phố Huế
Dưới đây là những điểm chính từ bài viết đã được chỉnh sửa theo chuẩn SEO và đảm bảo tính mạch lạc:Theo biểu đồ 3.5, phần lớn người dân nắm bắt kiến thức về dưỡng sinh qua sách vở, báo chí, internet, và truyền hình, chiếm tỷ lệ 70,9% Ngoài ra, nguồn thông tin từ gia đình, người thân và cán bộ y tế cũng đóng vai trò quan trọng, chiếm 48,2% và 17,9% tương ứng Một số người khác còn tiếp cận dưỡng sinh qua các cán bộ địa phương, truyền thông công ty, câu lạc bộ đội nhóm, chiếm 4,5% Điều này phản ánh xu hướng xã hội hiện nay khi việc xem sách báo, truyền hình và sử dụng internet trở thành hoạt động quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày Đặc biệt, các đối tượng khảo sát chủ yếu là những người có thời gian rảnh rỗi tại nhà, giúp họ tiếp cận thông tin dưỡng sinh qua các phương tiện truyền thông một cách dễ dàng Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra vấn đề về độ chính xác của thông tin, bởi phần lớn người dân tự tiếp thu kiến thức từ các nguồn thông tin đại chúng mà không có ai kiểm chứng Với sự bùng nổ của internet, nguồn thông tin ngày càng phong phú nhưng đa phần không được kiểm duyệt, dễ gây hiểu lầm hoặc lan truyền sai lệch.
Dưỡng sinh có lịch sử phát triển lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong các gia đình Việt Nam Người dân thường truyền đạt kiến thức dưỡng sinh qua các mối quan hệ gần gũi, thân thiết như gia đình và người thân, giúp tăng cường sự tin tưởng và động lực tập luyện Tuy nhiên, việc chia sẻ thông tin dưỡng sinh trong cộng đồng cũng mang nhược điểm khi nguồn thông tin không chính xác có thể gây ra những hậu quả tiêu cực Sự gắn kết trong cộng đồng góp phần thúc đẩy việc duy trì lối sống lành mạnh và nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Nguồn thông tin từ cán bộ y tế chiếm tỷ lệ khá thấp, chỉ 17,9%, so với các nguồn khác Cán bộ y tế không chỉ chăm sóc sức khỏe ban đầu và điều trị bệnh cho người dân mà còn đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền tải thông tin chính thống về sức khỏe Để nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, cần tăng cường vai trò của cán bộ y tế trong việc cung cấp thông tin chính xác tới cộng đồng.
4.2.3 Tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh của người dân trên một số địa bàn thành phố Huế
Dưới bản đồ 3.6, có tới 47,7% trong số 384 người dân được điều tra (tương đương 183 người) tập luyện Dưỡng sinh, phản ánh xu hướng phát triển của phong trào này trong cộng đồng những năm gần đây Phương pháp Dưỡng sinh có truyền thống lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã nhận được nhiều sự nghiên cứu, phát triển từ các danh y Trong đời sống hàng ngày của người dân thành phố Huế, việc thực hành Dưỡng sinh trở thành một thói quen sinh hoạt để nâng cao sức khỏe Đồng thời, các hoạt động cộng đồng tuyên truyền tập luyện thể dục thể thao đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi từ nhiều nhóm tuổi, nghề nghiệp, cho thấy dù xã hội phát triển nhanh và công việc bộn bề, người dân vẫn chú trọng tự luyện tập để bảo vệ sức khỏe trước khi cần đến y học, thể hiện phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh.
4.2.4 Các hình thức Dưỡng sinh được người dân trên một số địa bàn thành phố Huế tập luyện
Biểu đồ 3.7 cho thấy, người dân lựa chọn đa dạng các hình thức tập luyện, trong đó các bài tập thể dục chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,6%, vượt xa so với nghiên cứu của Nguyễn Đức Lộc (19,6%); tiếp theo là đi bộ và đi xe đạp với tỷ lệ lần lượt là 31,7% và 31,1% Các hình thức tập luyện này phổ biến do tính đơn giản, dễ thực hiện và linh hoạt về thời gian cũng như địa điểm, giúp mọi người duy trì hoạt động thể thao thường xuyên.
Yoga chiếm tỷ lệ cao đạt 27,3%, vượt xa so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Lộc (19,6%), cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của yoga tại Huế và trên toàn Việt Nam trong những năm gần đây Sự mở rộng của các trung tâm yoga, số lượng học viên ngày càng tăng và đa dạng về độ tuổi thể hiện rõ xu hướng này Người tập yoga không chỉ nhằm nâng cao sức khỏe mà còn hướng tới việc cải thiện vóc dáng hình thể, đáp ứng nhu cầu làm đẹp và rèn luyện bản thân.
Khí công chiếm tỷ lệ 8,8%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Đức Lộc (4,7%), cho thấy sự phổ biến ngày càng tăng của hình thức này Trong khi đó, thái cực quyền chỉ chiếm 14,2%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Đức Lộc (16,8%), phản ánh mức độ phổ biến còn hạn chế của môn võ cổ xưa này, có thể do tính phức tạp và yêu cầu cao về độ kiên trì của người tập Hai hình thức này có tỷ lệ thấp hơn so với các hình thức luyện tập khác, phần lớn vì chúng còn xa lạ, ít phổ biến hơn và đòi hỏi sự chăm chỉ, kiên nhẫn trong quá trình luyện tập Thái cực quyền, là môn võ có nguồn gốc lâu đời của Trung Quốc, có thể khó tiếp cận đối với người mới bắt đầu, mặc dù những người luyện võ thường tập luyện môn này nhiều hơn so với người bình thường.
4.2.5 Địa điểm tập luyện Dưỡng sinh của người dân trên một số địa bàn thành phố Huế
Dựa trên biểu đồ 3.8, có đến 62,8% người dân chủ yếu tập luyện Dưỡng sinh tại nhà riêng của mình, thể hiện rằng nhà là nơi phù hợp nhất để duy trì thói quen này Một khảo sát của Đoàn Thị Thu Sương cũng cho thấy tỷ lệ cao nhất các buổi tập diễn ra tại nhà ở, do nhà mang lại cảm giác thoải mái, yên tĩnh và thuận tiện Điều này cho thấy rằng, nhà là địa điểm lý tưởng để tập luyện Dưỡng sinh vì không phải mất thời gian di chuyển và tránh bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu khi tập ngoài trời hoặc ở nơi công cộng.
Nhà văn hóa và công viên chiếm 43,2% các địa điểm phù hợp để tổ chức các buổi tập thể Đây là những không gian mở, lý tưởng để hướng dẫn tập luyện cho nhiều người cùng lúc trong cùng một thời điểm Việc sử dụng nhà văn hóa và công viên giúp nâng cao ý thức về sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy hoạt động thể thao ngoài trời hiệu quả.
Các chương trình chăm sóc sức khỏe cho người già hiện nay rất đa dạng, trong đó phong trào tập Dưỡng sinh tại nhà văn hóa và công viên là phổ biến Tập luyện cùng người khác giúp nâng cao tinh thần, duy trì đều đặn và mang lại lợi ích cả về thể chất lẫn tinh thần Tham gia các hoạt động này không chỉ giúp rèn luyện sức khỏe mà còn tạo cơ hội giao lưu, trò chuyện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.
Bệnh viện YHCT tỉnh Thừa Thiên Huế có khoa châm cứu-dưỡng sinh hoạt động hiệu quả trong việc ứng dụng tập dưỡng sinh vào điều trị bệnh Người dân tập dưỡng sinh tại bệnh viện chiếm 9,8%, chủ yếu là những bệnh nhân được bác sĩ hướng dẫn tập các động tác phù hợp để hỗ trợ quá trình điều trị Sau khi ra viện, người dân duy trì việc tập luyện hàng ngày tại nhà, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị Tuy nhiên, tỷ lệ người tập dưỡng sinh tại bệnh viện thấp hơn so với các địa điểm như nhà riêng hoặc các trung tâm văn hóa, công viên do tính chất đặc thù của hoạt động.
Hiện nay, nhiều người chọn tập yoga tại các trung tâm uy tín để nâng cao sức khỏe và tinh thần Thời gian gần đây, nhóm tuổi trẻ và trung niên, đặc biệt là nữ giới, tham gia các lớp yoga rất đông đảo, cho thấy xu hướng tích cực về việc duy trì lối sống lành mạnh ở mọi lứa tuổi Tập luyện dưỡng sinh không chỉ dành cho người già mà còn phù hợp và cần thiết cho tất cả mọi người để nâng cao sức khỏe tổng thể Ngoài ra, hoạt động dưỡng sinh còn được tổ chức tại cơ quan, trường học, cũng như dọc các con sông và trên các tuyến đường, góp phần thúc đẩy phong trào luyện tập và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
4.2.6 Thời gian, thời điểm, tần suất tập luyện Dưỡng sinh của người dân trên một số địa bàn thành phố Huế
Người dân thường xuyên tập luyện Dưỡng sinh, trong đó tỷ lệ người tập hàng ngày đạt 60,1%, cho thấy việc duy trì thói quen này đã trở thành phần quan trọng trong sinh hoạt hàng ngày của họ Nghiên cứu của Phạm Huy Hùng cho thấy, luyện tập đều đặn từ 1-6 buổi mỗi tuần, bất kể loại hình nào, đều giúp nâng cao sức khỏe và cải thiện tự đánh giá về tình trạng sức khoẻ của người tập Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự thường xuyên trong luyện tập để đạt hiệu quả tối ưu, tránh những tác hại do việc luyện tập không đều đặn hoặc không nhất quán gây ra.
Dựa trên biểu đồ 3.10, đa số người dân tập thể dục từ 30-60 phút mỗi lần (chiếm 47,5%), trong khi đó, 29% tập dưới 30 phút và 23,5% tập trên 60 phút Các bài tập như tự xoa bóp, khí công hay thái cực quyền thường kéo dài dưới 60 phút, còn yoga thường diễn ra từ 90-120 phút, thể hiện sự chênh lệch lớn về thời gian tập Theo hướng dẫn hoạt động thể chất của Bộ Y tế Mỹ (2018), người lớn cần ít nhất 150-300 phút hoạt động vừa phải hoặc 75-150 phút hoạt động cường độ cao hàng tuần, kết hợp các hoạt động tăng cường cơ bắp ít nhất 2 ngày/tuần Đặc biệt, người cao tuổi nên tập đa dạng, bao gồm các bài tập cân bằng, thể dục nhịp điệu và tăng cường cơ bắp để đạt hiệu quả tối ưu Thời gian mỗi buổi tập lý tưởng là khoảng 30 phút, phù hợp với tần suất tập luyện trong tuần, giúp mang lại lợi ích sức khỏe tối đa dựa trên các nghiên cứu đã chỉ ra.
Một số yếu tố liên quan tới việc tập luyện dưỡng sinh người dân trên một số địa bàn Thành phố Huế
4.3.1 Tuổi và việc tập luyện Dưỡng sinh của người dân trên một số địa bàn thành phố Huế
Bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ tập luyện Dưỡng sinh của người dân tại các địa bàn thành phố Huế khác nhau có ý nghĩa thống kê (p0,05), cho thấy rằng việc tập luyện Dưỡng sinh không phân biệt theo trình độ học vấn của người dân.
Dựa trên bảng 3.9, tỷ lệ tập luyện dưỡng sinh cao nhất là 58,3% trong nhóm nghèo và thấp nhất là 36,8% ở nhóm có điều kiện kinh tế khá, nhưng sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê (p>0,05) Một trong những lý do khiến nhiều người dân chọn tập dưỡng sinh là vì đặc tính ít tốn kém, phù hợp với những người có kinh tế thấp không dễ tiếp cận các dịch vụ y học hiện đại, họ ưu tiên các phương pháp đơn giản, dễ thực hiện nhưng hiệu quả để bảo vệ và nâng cao sức khỏe Điều này cho thấy, việc tập luyện thể dục dưỡng sinh không phân biệt điều kiện kinh tế của mỗi người.
Dựa trên Bảng 3.11, tỷ lệ tập luyện dưỡng sinh cao nhất ở phường Vĩnh Ninh với 52,5%, trong khi thấp nhất là ở phường An Hòa với 43,6% Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ tập luyện dưỡng sinh giữa các khu vực cư trú tại thành phố Huế không mang ý nghĩa thống kê (p>0,05) Điều này phản ánh rằng, do các phường nằm trong một thành phố nhỏ với điều kiện sinh sống, tập quán và thói quen tương đối giống nhau, nên không có sự khác biệt đáng kể trong việc tập luyện dưỡng sinh Sẵn sàng tập luyện dưỡng sinh không phân biệt khu vực cư trú của người dân tại thành phố Huế.