Đây được coi là nguồn dự trữ lao động có chất lượng và sẽ đóng gópđáng kể vào đội ngũ lao động, còn lại 17,13% là những người đang làm nội trợ, bị ốm, tàn tật hoặc không muốn làm việc tỷ
Trang 1Uỷ ban nhân dân thành phố hà nội
Sở Lao động - Thơng binh và xã hội hà nội
************************
Đề án
Quy hoạch PHáT TRIểN mạng lới trờng cao
đẳng nghề, trờng trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề trên địa bàn thành
phố hà nội ĐếN NĂM 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Hà Nội, 6 - 2012
Trang 2MỤC LỤC
2 Thực trạng lao động thành phố Hà Nội 8
1 Định hướng phát triển dạy nghề của thành phố Hà Nội 69
4 Dự báo nhu cầu lao động kỹ thuật và lao động qua đào tạo nghề 78
b Các giải pháp về vốn 96
PHẦN IV 103
TỔ CHỨC THỰC HIỆN 103
1 Phân công nhiệm vụ 103
2 Phân kỳ thực hiện 104
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
ANQP An ninh quốc phòng
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á
ATXHAn toàn xã hội
BĐXH Bảo đảm xã hội
CNH Công nghiệp hóa
CĐN Cao đẳng nghề
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CNKT Công nhân kỹ thuật
HDI Chỉ số phát triển con người
HĐH Hiện đại hóa
HĐKT Hoạt động kinh tế
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
LĐNT Lao động nông thôn
LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 4TTDN Trung tâm dạy nghề
WTO Tổ chức Thương mại Quốc tế
UBND Uỷ ban nhân dân
UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang 6PHẦN 1 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM VÀ DẠY NGHỀ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM
1 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thành phố Hà Nội là Thủ đô của cả nước, có vị trí địa lý - chính trị quan trọng,
có ưu thế đặc biệt so với các địa phương khác trong cả nước Hà Nội là đầu nãochính trị - hành chính quốc gia, là trung tâm lớn vế văn hoá, khoa học, giáo dục,kinh tế và giao dịch quốc tế
Trong năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội là 10.9%, cao hơn tốc
độ tăng trưởng kinh tế của cả nước (tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước năm
2010 là 6.78%)
Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam Năm 2007, GDP bìnhquân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả ViệtNam là 13,4 triệu Năm 2008 GDP của Hà Nội (giá hiện hành) đạt 178.535 tỷ đồng,chiếm hơn 1 nửa tổng GDP vùng ĐBSH và 12.1% cả nước, quy mô đứng thứ 2 trên
có CMKT trong các ngành công nghiệp và dịch vụ trong thời gian tới sẽ tăng cao
Trang 7Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoàinhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án; 1.600 văn phòng đại diện nướcngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Bên cạnhnhững công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế Hà Nội Dưới đây là một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Hà Nội.
Bảng 1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Hà Nội
du lịch Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, làtrung tâm hàng đầu về khoa học - công nghệ, đào tạo, y tế, văn hoá, các cơ quanngoại giao, các văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế
Với đặc điểm kinh tế - xã hội của Hà Nội cho thấy, Hà Nội hội đủ tiềm năngphát triển kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao… Đòi hỏi,việc chuẩn bị nguồn nhân lực sau đào tạo phải có những bước thay đổi căn bản, tạonguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của một thành phố trung tâm của cả nướctrong tương lai
Trang 82 Thực trạng lao động thành phố Hà Nội
2.1 Đặc điểm chung về dân số
Theo số liệu thống kê năm 2010, dân số Hà Nội khoảng 6591 nghìn người(đứng thứ 2 trên toàn quốc), mật độ dân số là 1962 người/km2, cao gấp 7.46 mật độdân số của cả nước và gấp 2.09 mật độ dân số của vùng Đồng bằng sông Hồng Tuynhiên, nếu chỉ tính riêng cho khu vực nội đô thì mật độ dân số lớn hơn 1962người/km2 rất nhiều
Tỷ lệ dân số thành thị của Hà Nội chiếm 41.30%, cao hơn của cả nước 11.13%
và cao hơn vùng Đồng bằng sông Hồng là 11.66% nhưng thấp hơn rất nhiều so với
TP Hồ Chí Minh (tỷ lệ dân số thành thị của thành phố HCM là 83.25%) Dưới đây
là một số chỉ tiêu về dân số chủ yếu năm 2010 của cả nước, Hà Nội, ĐBSH và TP
Trang 9Bảng 3 Tỷ suất nhập cư của Hà Nội và một số TP/thành phố
Bảng 4 Số nhân khẩu thường trú thực tế chia theo nhóm tuổi năm 2010
Trang 10Bảng 5 Số người đủ 15 tuổi trở lên chia theo giới tính và trình độ học vấn
Trung học phổ thông 1,198,695 23.88 602,009 24.59 596,686 23.21Trung cấp nghề 115,657 2.30 75,160 3.07 40,498 1.58Trung cấp chuyên nghiệp 277,186 5.52 112,199 4.58 164,987 6.42
tỷ lệ này của nữ chỉ là 78.2% Điều này phần nào cho thấy sự bất bình đẳng giới của
Hà Nội Đặc biệt là tại khu vực nông thôn, nữ giới thường ít có cơ hội được học tậphơn nam giới Chính vì vậy, trong quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề của Hà Nộitrong những năm tới cần chú ý tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho lao động có cơhội được đào tạo nghề, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật
II TỔNG QUAN LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG HÀ NỘI 2010
1 Đặc điểm của lực lượng lao động
1.1 Giới tính và nhóm tuổi
Theo kết quả điều tra Lao động và Việc làm năm 2010 (Nguồn: Tổng cục
thống kê), số người từ 15 tuổi trở lên của Hà Nội là 5.019.737 người trong đó lực
lượng lao động (LLLĐ) là 3.586.678 chiếm 71,3% Số người trong độ tuổi laođộng (từ 15 đến 60 tuổi) là 3.43 triệu chiếm 96% trong LLLĐ Số người ngoài độtuổi lao động nhưng vẫn có nhu cầu làm việc là 158.000 người (4%)
Trang 11Lực lượng lao động nam là 1.805.331 người chiếm 50,33% và nữ là 1.781.347người chiếm 49,6% Như vậy, tỷ lệ nam/nữ của LLLĐ Hà Nội tương đối cân bằngtuy nhiên trong cơ cấu phân theo độ tuổi thì có sự chênh lệch nhất định Nhìnchung, số lượng lao động nữ cao hơn nam ở độ tuổi dưới 44, ngoài trừ nhóm tuổi từ30-34 vì đây là độ tuổi mà nữ giới thường phải dành thời gian để sinh con và chămsóc gia đình
Biểu đồ 1: LLLĐ phân theo giới tính và nhóm tuổi
Còn nếu chỉ chia theo 3 nhóm tuổi chính (nhóm LĐ trẻ: 15-29; trung niên:30-45; và lớn tuổi: trên 45 tuổi) có thể thấy: nhóm thanh niên (độ tuổi từ 15-29)chiếm tỷ lệ khá lớn gần 1 phần 3 trong LLLĐ (31,5%) và số nữ thanh niên lại có tỷtrọng cao hơn đáng kể so với nam giới (53% so với 47%) Điều này cho thấy cầntính đến những đặc thù về giới trong các chương trình tạo việc làm, cụ thể là chođối tượng là nữ thanh niên Tiếp đến là nhóm 30-45 tuổi có số lượng chiếm tỷ trọngcao nhất 37% còn số người trên 45 tuổi chiếm gần 27,5% Như đã phân tích, tỷ lệlao động nữ giảm dần khi độ tuổi tăng lên, cụ thể là lao động nữ từ 55-59 tuổi chỉchiếm gần 40% trong tổng số người ở độ tuổi này
Trang 121.2 Theo trình độ học vấn
Số liệu khảo sát về trình độ học vấn của LLLĐ được chia thành 11 nhóm từnhóm thấp nhất là từ “Chưa đi học” đến trình độ cao nhất là ‘Đại học và trên đạihọc” Nhìn chung, gần 50% lực lượng lao động đã đạt tốt nghiệp THPT Số ngườichưa đi học chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0.41%) và tỷ lệ chưa tốt nghiệp tiểu học là 3.08%,còn lại 45% là những người mới có trình độ tiểu học hoặc THCS
Tính trong toàn bộ lực lượng lao động, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và cóbằng/chứng chỉ là 30%, trong đó số có trình độ từ đại học trở lên chiếm hơn mộtnửa (16,35%) Số lao động trình độ bậc trung (từ sơ cấp nghề đến cao đẳng) đượccoi là LLLĐ kỹ thuật còn ít về số lượng, đạt gần 500.000 người chiếm 14% Sốngười thuộc nhóm CNKT không bằng chứng chỉ theo thống kê chưa đầy đủ vàokhoảng 10% Như vậy, số lao động có CMKT của Hà Nội năm 2010 là 40% trong
đó số lao động qua đào tạo nghề là 24%
Bảng 6 Cơ cấu dân số trên 15 tuổi và LLLĐ phân theo trình độ học vấn
Tổng số người
15 tuổi trở lên
Cơ cấutheotrình độ(%)
Lựclượng laođộng trình độ (%)Cơ cấu theoTổng số
Trang 13trình độ trung cấp chiếm đến 60% (gần một phần trong số này là trung cấp nghề).
Số người trình độ cao đẳng nghề còn rất khiêm tốn, mới đã xấp xỉ 3% (so với15,44% trình độ cao đẳng Còn lại là số lao động sơ cấp nghề chiếm khoảng 20%
Biểu đồ 2: Cơ cấu của LLLĐ trình độ CMKT bậc trung
Bảng dưới đây cho thấy sự phân hóa rõ nét về trình độ học vấn giữa 2 giới
Ở các trình độ thấp (tiểu học trở xuống) lao động nữ đều chiếm tỷ trọng cao hơnnam giới (trên 60%) Tuy nhiên, tỷ lệ nữ giới trình độ TCCN và cao đẳng cũng caohơn nam một cách đáng kể còn trình độ từ đại học trở lên thì xấp xỉ bằng nam giới.LLLĐ nam thì có tỷ trọng cao hơn hẳn ở cả 3 cấp trình độ đào tạo nghề (trên 70%)điều này phản ánh thực tế khách quan là các nghề đào tạo hiện nay phù hợp hơn vớicác học viên nam và chưa thu hút được nhiều học viên nữ
Trang 14Bảng 7 Số lượng và cơ cấu lực lượng lao động Hà Nội phân theo giới tính
1.3 Tình trạng HĐKT và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
- Người không tham gia HĐKT
Trang 15Theo số liệu thống toàn quốc, tỷ lệ không tham gia hoạt động kinh tế là 21%bao gồm: nhóm đang đi học (học sinh, sinh viên) chiếm tỷ lệ 9,54% trong tổng số.Còn lại những người không có khả năng lao động già cả, ốm đau, làm nội trợ vànhững người không có nhu cầu làm việc chiếm khoảng 11,7% dân số
Trong số 28,3% không tham gia LLLĐ của Hà Nội, số học sinh – sinh viên
là 11,16% Đây được coi là nguồn dự trữ lao động có chất lượng và sẽ đóng gópđáng kể vào đội ngũ lao động, còn lại 17,13% là những người đang làm nội trợ, bị
ốm, tàn tật hoặc không muốn làm việc (tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với toàn quốc).Mức độ tham gia họat động kinh tế có sự khác biệt khá rõ giữa các cấp trình độ.Thấp nhất là những người không được đi học và chưa tốt nghiệp tiểu học ngoài ranhóm này chỉ có số lượng rất nhỏ nên sẽ không ảnh hưởng nhiều đến chất lượngnguồn lao động của Hà Nội
Bảng 8: Tình trạng HĐKT của dân số từ 15 tuổi trở lên
Lực lượng lao động Dân số từ 15 tuổi trở lên không họat động kinh tế
Có làm việc
Thất nghiệp
Tỷ lệ có việc làm
Sinh viên/
học sinh
Tỷ lệ trong LLLĐ
Nội trợ,
ốm, tàn tật…
Tỷ lệ trong LLLĐ
Trang 16- Người tham gia HĐKT (lực lượng lao động)
Tỷ lệ tham gia LLLĐ là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất khi xemxét thị trường lao động Kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 tỷ lệ nàycủa Việt Nam là 76.5%, trong đó tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam là 81,8%, cao hơnđáng kể so với nữ là 71,4% Đối với Tp Hà Nội, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
là 71,7% tương đương với 3.58 triệu LLLĐ, trong đó nam giới là 1,8 triệu người và
nữ là 1,78 triệu người Tỷ lệ tham gia LLLĐ của nam là 73,73% có cao hơn tỷ lệcủa nữ là 69,2% tuy nhiên mức chênh lệch không lớn như của toàn quốc
Bảng 9 Tỷ lệ tham gia LLLĐ phân theo giới tính và trình độ học vấn
Tỷ lệ tham gia LLLĐ Chung
Lực lượng lao động nam
Tỷ lệ tham gia LLLĐ nam
Lực lượng lao động nữ
Tỷ lệ tham gia LLLĐ nữ
Trang 17Trong nhóm đã qua đào tạo, tỷ lệ tham gia LLLĐ cao nhất là những người cótrình độ đại học và trên đại học với gần 81% Tiếp đến là nhóm trung cấp nghề với
tỷ lệ xấp xỉ 80% và sơ cấp nghề khoảng 77% Tỷ lệ tham gia LLLĐ của lao độngcao đẳng chỉ đạt khoảng 70% và xấp xỉ bằng nhóm trình độ TCCN Đáng chú ý lànhóm lao động phổ thông (trình độ tiểu học và THCS) tham gia vào LLLĐ với tỷ lệkhá cao 76%, tương đương với 1,6 triệu người, đồng thời số LĐKT vừa ít về sốlượng và tỷ lệ tham gia LLLĐ cũng không cao điều này phần nào cho thấy chấtlượng của LLLĐ của Hà Nội còn thấp
Biểu đồ 4: Tỷ lệ tham gia LLLĐ phân theo trình độ học vấn
Trang 18thế giới tỷ lệ thất nghiệp của Hà Nội tương đối thấp, điều này một phần là kết quảcủa tốc độ phát triển kinh tế nhanh và “nóng” của thủ đô với số lượng việc làmphong phú được tạo ra hàng năm Bên cạnh đó, còn một khía cạnh cần xem xét đó
là chất lượng việc làm của một bộ phận người lao động, đặc biệt là các lao độngnhập cư còn rất thấp Để có thể tồn tại trong khu vực đô thị, người lao động luônphải tìm một công việc nào đó có thu nhập để trang trải cho các sinh hoạt phí củamình dù việc làm đó chưa phải là công việc “tốt thực sự’ hay “việc làm bền vững”
Tỷ lệ thiếu việc làm của Hà Nội theo khảo sát là 1,3% và không có sự chênh lệchgiữa lao động nam và nữ Các chỉ tiêu về tỷ lệ có việc làm, thất nghiệp hay tỷ lệthiếu việc làm mới phản ánh những nét chung trong bức tranh về thị trường laođộng Hà Nội Để có được cái nhìn rõ nét và chính xác hơn về tình trạng việc làmcần xem xét thêm chỉ tiêu phản ánh các đặc điểm về việc làm của người lao động
2.1 Việc làm phân theo vị thế công việc
Vị thế công việc của lao động được phân thành 4 nhóm chính là: Làm công ănlương, Lao động gia đình, Tự làm và Chủ cơ sở (trên thực tế còn 1 bộ phận nhỏ laođộng là thợ học việc, hội viên hợp tác xã hoặc không xác định được rõ vị thế củamình trong công việc- tuy nhiên vì số lượng chiếm tỷ lệ không đáng kể nên khôngđưa vào trong phân tích) Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ lao động làm công ăn lươngchiếm đa số với 45% tiếp đến là lao động tự làm (tự sản xuất-kinh doanh khôngthuê lao động, chiếm khoảng 35% Còn lại 16% lao động làm việc trong gia đình(không hưởng lương) và 4% là chủ các các cơ sở SXKD (có thuê ít nhất 1 laođộng) Tỷ lệ làm công ăn lương có xu hướng tăng theo trình độ của người lao động(tỷ lệ này cao nhất ở lao động trình độ ĐH và trên ĐH lên đến 92% còn của caođẳng là 87%) Ngược lại, lao động làm việc cho gia đình có tỷ lệ cao ở các trình độthấp (145 đối với trình độ THPT, 5% đối với trình độ sơ cấp và trung cấp) Trongnhóm LĐKT bậc trung, lao động qua đào tạo nghề có xu hướng tự sản xuất kinhdoanh hoặc làm chủ nhiều hơn, (cao đẳng nghề 34%, trung cấp nghề 26% và sơ cấpnghề 35%)
Trang 19Biểu đồ 5 Vị thế công việc của lao động phân theo trình độ học vấn
2.2 Phân theo nhóm ngành kinh tế
Bảng phân ngành kinh tế của Việt nam gồm 20 ngành, tuy nhiên trong nộidung này đã lựa chọn 9 nhóm ngành kinh tế mà Hà Nội có tỷ trọng lao động đáng
kể để phân tích về cơ cấu theo các cấp trình độ Trong 9 nhóm ngành thì Nông lâm, ngư nghiệp vẫn là khu vực sử dụng nhiều lao động nhất (khoảng 850.000 laođộng, tương đương 26%), chủ yếu là các lao động không có CMKT, trình độ THCS.Mặc dù tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước nhưng với số lượngđáng kể lao động nông nghiệp như vậy thì quá trình chuyển dịch kinh tế sẽ tạo áplực tương đối lớn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động Khu vực côngnghiệp với 2 nhóm ngành chính là: Công nghiệp chế tạo, chế biến cũng là ngành thuhút số lượng lao động khá lớn (657.000 lao động chiếm 22%), và ngành Xây dựng(xếp thứ 4) với số lao động là 280.000 người Khu vực dịch vụ có tỷ trọng lao độnglên đến xấp xỉ 43% trong đó, ngành Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ôtô, xe máy có sốlao động cao gấp 2 lần so với xây dựng (560.000 người) nên xếp ở vị trí thứ 3 vềthu hút lao động Tuy thuộc nhóm ngành dịch vụ nhưng đặc điểm của ngành nàykhông chỉ mang tính chất thương mại mà có gắn với kỹ thuật (các dịch vụ sửa chữaphương tiện vận tải) Các ngành dịch vụ còn lại là: Vận tải, Dịch vụ ăn uống, Giáo
Trang 20-dục-đào tạo, Hoạt động đoàn thể, hiệp hội và Hoạt động dịch vụ khác (bao gồm cácngành như: Tài chính - ngân hàng, kinh doanh bất động sản,
Thông tin - truyền thông; Khoa học - Công nghệ) …mỗi ngành thu hútkhoảng 5% lao động tương đương 150.000-170.000 người
Theo cấp trình độ, lao động THPT Hà Nội làm việc trong các ngành kinh tế
có đặc điểm tương tự như cơ cấu chung tuy nhiên tỷ lệ làm việc trong khu vực côngnghiệp và dịch vụ cao hơn Đối với lao động có CMKT thì kể từ trình độ trung cấp,
tỷ lệ làm việc trong ngành nông nghiệp đã giảm hẳn, chỉ còn từ 3-10% Nhóm laođộng qua đào tạo nghề chủ yếu tập trung trong ngành Công nghiệp chế tạo- chếbiến, tuy nhiên có điểm khác biệt: lao động sơ cấp nghề làm chủ yếu trong ngànhVận tải kho bãi; Trung cấp nghề cũng có tỷ trọng lớn hơn trong ngành Xây dựngcòn lao động cao đẳng nghề thì có nhiều người làm trong các ngành dịch vụ.Khoảng 70 % lao động trình độ TCCN, cao đẳng và đại học chủ yếu làm việc ở khuvực dịch vụ, với các đặc điểm cụ thể về nhóm ngành là: lao động TCCN làm trongngành Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa xe có động cơ; Cao đẳng thì hoạt động tronglĩnh vực giáo dục đào tạo và các ngành dịch vụ khác Lao động trình độ ĐH trở lên
có cơ cấu phân bố lao động khác đồng đều với xấp xỉ 20% cho mỗi nhóm ngànhchính
Biểu đồ 6: Cơ cấu ngành kinh tế phân theo cấp trình độ của lao động
Trang 21Để hình dung cụ thể hơn về việc làm của lao động Hà Nội, tham khảo thêm
cơ cấu lao động theo trong các ngành kinh tế trong hình dưới đây Có thể thấy sựphân hóa khá rõ nét về đặc điểm sử dụng lao động trong mỗi ngành kinh tế Mặc dùlao động PTTH còn chiếm tỷ trọng cao trong hầu hết các ngành kinh tế, tuy nhiên
có thể điểm ra một số lĩnh vực mà lao động qua đào tạo nghề chiếm ưu thế là: côngnghiệp chế tạo, chế biến, xây dựng và Bán buôn, bán lẻ sửa chữa phương tiện vậntải Tham khảo hình dưới đây:
Biểu đồ 7: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế
2.3 Phân theo loại hình kinh tế
Loại hình hay thành phần kinh tế theo số liệu thống kê hiện có bao gồm 6loại, tuy nhiên tỷ lệ tham gia loại hình tập thể là rất không đáng kể nên chủ yếu sẽphân tích vào 5 loại hình còn lại Có nhiều điểm khác biệt khi xem xét sự phân bốlao động đối với mỗi cấp trình độ khác nhau, cụ thể là 75% lao động PTTH chủ yếutham gia loại hình kinh tế có trình độ sản xuất ở mức thấp là: Hộ sản xuất kinhdoanh cá thể và hộ sản xuất Nông lâm thủy sản và Kinh tế tư nhân Lao động trình
độ THPT cũng có tỷ lệ làm việc Hộ sản xuất kinh doanh cá thể và tư nhân khá lớnchiếm 57% tuy nhiên số làm việc tại hộ sản xuất Nông lâm thủy sản đã giảm đáng
kể (3,24%) và có đến 23% làm việc trong khu vực nhà nước Đây cũng là nhóm lao
Trang 22động có tỷ lệ làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngòai cao nhất (13,3%).Đối với lao động trình độ trung cấp, số làm việc trong khu vực nhàn nước chiếm tỷtrọng tương đối lớn (40-50%), bên cạnh đó, khoảng 20-25% lao động thuộc các hộsản xuất kinh doanh cá thể Lao động cao đẳng nghề chỉ chiếm số lượng nhỏ vàphân bố tương đối đều trong các loại hình kinh tế Những người có trình độ caođẳng, đại học chủ yếu làm việc trong khu vực nhà nước và kinh tế tư nhân (chiếm từ80-90%), khoảng 5% làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngòai Như vậy làtại Hà Nội, không có loại hình kinh tế nào chiếm ưu thế thu hút lao động ở tất cảcác cấp trình độ
Bảng 10 Cơ cấu lao động phân theo loại hình kinh tế và cấp trình độ
THPT
Sơ cấpnghề
Trungcấpnghề
Trungcấpchuyênnghiệp
Caođẳngnghề
Caođẳng
Đại họctrở lên
2.4 Phân theo nhóm nghề nghiệp
Theo phân loại của Tổng cục Thống kê có 9 nhóm nghề nghiệp cơ bản, tuynhiên nhóm 1 là Các nhà lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đơn vị chỉ chiếm
1 tỷ lệ rất nhỏ trong lực lượng lao động nên nội dung về nghề nghiệp của lao động
Trang 23chỉ phân tích từ nhóm 2 đến nhóm 9 Trong cơ cấu chung thì tỷ lệ lao động làm cáccông việc giản đơn chiếm 30% trong tổng số việc làm, tiếp đến là các công việc về
Kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị chiếm tỷ lệ xấp xỉ 10% Số thợ thủcông có kỹ thuật (chủ yếu làm trong các ngành công nghiệp chế biến, xây dựng…)
có tỷ trọng 17% ngang bằng với số lao động trong nhóm nghề Nhân viên dịch vụ vàbán hàng Tỷ lệ lao động có CMKT làm việc trong lĩnh vực nông – lâm ngư nghiệpcủa Hà nội rất thấp (chưa đến 1%) Điều này rất đáng chú ý vì Hà nội sau khi mởrộng vẫn còn một bộ phận không nhỏ lao động làm nông nghiệp và cho thấy sựthiếu hụt lao động có kỹ thuật trong ngành này (nhân viên văn phòng, công ty…)chiếm tỷ lệ nhỏ, khoảng 3% và 20% còn lại là lao động thuộc nhóm nghề trình độCMKT bậc trung (6%) và bậc cao (14%) Tham khảo hình dưới đây:
Biểu đồ 8 Nhóm nghề nghiệp của lao động phân theo trình độ học vấn
Trang 24Cơ cấu việc làm trong các nhóm lao động trình độ khác nhau cũng có nhữngđặc điểm riêng Có thể thấy, số lao động trình độ đại học chủ yếu làm các công việcđược xếp vào nhóm trình độ CMKT bậc cao, chỉ có 10% làm việc trong các nhómnghề còn lại trong đó chủ yếu là làm nhân viên văn phòng, nhân viên dịch vụ bánhàng và 1 tỷ lệ nhỏ làm thợ thủ công có kỹ thuật.
Lao động trình độ cao đẳng cũng có tỷ lệ đáng kể làm việc trong nhóm nghềCMKT bậc cao (46%) và 30% là nhóm nghề bậc trung Số nhân viên có trình độcao đẳng chiếm khoảng 17% còn số làm thợ thủ công kỹ thuật và thợ vận hành máychỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 6% Hơn 50% lao động trình độ TCCN làm trong các nghề trình
độ CMKT bậc trung, các nghề về nhân viên chiếm tỷ trọng cao thứ 2 - 26% còn sốlàm thợ thủ công kỹ thuật và thợ vận hành máy có tỷ lệ lần lượt là 10% và 6% Nhưvậy, tỷ lệ lao động trình độ trung cấp, cao đẳng tham gia vào các nhóm công việcmang tính kỹ thuật trực tiếp (nhóm nghề 7 và 8) còn rất khiêm tốn Điều này làminh chứng cho thực trạng “thừa thầy thiếu thợ” khá trầm trọng hiện nay trên thịtrường lao động Hà Nội
Đối với với nhóm lao động qua đào tạo nghề, tỷ lệ làm các công việc trongnhóm nghề thợ thủ công kỹ thuật và thợ vận hành máy chiếm tỷ trọng khá cao, đặcbiệt là đối với lao động trình độ sơ cấp nghề (tỷ lệ làm việc trong nhóm nghề 7 là23% và 8 lên đến 54%) Cơ cấu việc làm của lao động trung cấp nghề phân bốtương đối đều trong các nhóm nghề sau: hơn 20% làm việc trong nhóm nghềCMKT bậc trung, khoảng 20 % lao động là nhân viên (nhóm nghề 4,5); 18% là thợthủ công kỹ thuật và 26% là thợ vận hành máy Tỷ lệ 3 nhóm nghề khác chỉ chiếm2%/nhóm nghề Lao động trình độ cao đẳng nghề có cơ cấu việc làm khác biệt đôichút so với trung cấp nghề, thể hiện ở tỷ lệ làm việc trong nhóm nghề trình độCMKT bậc cao lên đến 22% (so với 2% của trình độ trung cấp) và ngược lại tỷ lệlàm việc trong nhóm nghề CMKT bậc trung thì chỉ bằng 1 nửa 10% (so với 20%)
Số lao động cao đẳng nghề làm việc trong nhóm thợ vận hành máy chỉ vào khoảng3%
Như vậy, trong cùng nhóm qua đào tạo nghề, các lao động có trình độ khácnhau thì cấu trúc việc làm cũng có sự khác biệt tương đối rõ nét Nhìn chung, việc
Trang 25làm của lao động cũng đã có sự phân hóa theo trình độ Lao động trình độ thấp tậptrung trong khu vực việc giản đơn; lao động trình độ bậc trung (cao đẳng và TCCN)tập trung trong các nhóm nghề trình độ CMKT bậc trung và bậc cao Lao động đạihọc (và ĐH trở lên) tập trung trong nhóm nghề CMKT bậc cao còn nhóm lao độngqua đào tạo nghề thì tỷ lệ làm việc cao trong các ngành nghề kỹ thuật (nhóm nghề 7,8) cao hơn hẳn các nhóm lao động khác.
3 Thực trạng nguồn nhân lực Hà Nội và mức độ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
Mặc dù đã đạt được những thành tựu phát triển trong giáo dục nói chung vàđào tạo nghề nói riêng (Hà Nội đang là địa phương dẫn đầu cả nước với tỷ lệ laođộng qua đào tạo cao nhất nước 31,1%) và sau khi sáp nhập với Hà Tây đang cómột lực lượng lao động hùng hậu với hơn 3,5 triệu người song nhưng chất lượngnguồn nhân lực của Hà Nội vẫn chưa tạo sự chuyển biến về căn bản Thực trạng vềmất cân đối giữa cung-cầu lao động, đặc biệt năng lực của lao động chưa đáp ứngđược nhu cầu của thị trường lao động đang là yếu tố cản trở tiến trình phát triểnkinh tế - xã hội của Hà Nội Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng khoảng 3,5% tuy nhiên
số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bố không đều, tập trung ở vùng
đô thị, các quận nội thành Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở khu vực nông thôncòn thấp Do đó, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn Hà Nội vẫn rất cầnđược quan tâm triển khai để nâng cao chất lượng lao động trong khu vực nôngnghiệp
Kết quả của các phiên giao dịch việc làm trong các tháng gần đây cho thấythực tế là mới chỉ có khoảng 30% lao động tham gia đáp ứng được nhu cầu của cácdoanh nghiệp tuyển dụng Tỷ lệ kết nối cung - cầu đạt cao nhất đối với lao động
trình độ cao đẳng-đại học (khoảng 70%), tiếp đến là lao động có trình độ trung học, công nhân kỹ thuật đạt: khoảng 20% và thấp nhất là đối tượng lao động phổ thông chỉ đạt dưới 10% Điều này cho thấy thực trạng nan giải là các lao động trình độ
thấp lại có tâm lý kén chọn việc làm, ngại làm công việc giản đơn và nặng nhọc.Trong khi đó không ít doanh nghiệp thiếu lao động đã tuyển dụng cả lao động trình
Trang 26độ trung cấp, cao đẳng để làm các công việc giản đơn Tình trạng mất cân đối trongcung-cầu có diễn biến khác nhau trong các ngành nghề nhưng đều gây ra sự lãngphí nguồn nhân lực một cách nghiêm trọng Lao động qua đào tạo khó khăn trongtìm kiếm việc làm vì kỹ năng vẫn không đáp ứng đúng với nhu cầu doanh nghiệp.Việc doanh nghiệp tự tiến hành đào tạo hoặc đào tạo lại cho lao động diễn ra phổbiến Hiện tại Hà Nội đang thiếu hụt nghiêm trọng lao động trình độ cao trong cácngành kỹ thuật như kỹ sư điện tử, kỹ thuật viên và điều khiển sản xuất công nhântrong các ngành sản xuất các sản phẩm từ hóa chất, cao su, plastics…Ngoài ra, yếuđiểm của lao động Hà Nội cũng giống như của cả nước đó là đa số chưa đáp ứngđược yêu cầu về ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm, tính kỷ luật, kiến thức về phápluật lao động… mà đây đây là những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnhtranh của lao động trong bối cảnh hợp tác và hội nhập quốc tế Lao động qua đàotạo không đáp ứng được nhu cầu thị trường bên cạnh những nguyên nhân kháchquan thường được các cơ sở đào tạo nghề phản ánh do không có đủ nguồn lực cầnthiết cho đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ … theo yêu cầu của thực tế sảnxuất thì bản thân các cơ sở dạy nghề cũng chưa thực sự năng động trong việc điềuchỉnh, đổi mới nội dung và chất lượng đào tạo nghề
Năm 2011 số người trong độ tuổi lao động của Hà Nội khoảng 4,3 triệungười và dự báo đến năm 2015 sẽ là 4,667 triệu người Với mức tăng như vậy, mỗinăm thành phố cần tạo ra khoảng 175.000 - 280.000 việc làm Nhu cầu lao độnggiai đoạn 2011-2020 tạo ra do phát triển kinh tế xã hội cũng vào khoảng 130.000-150.000 người/năm Như vậy, đến năm 2015, nhu cầu lao động cho toàn bộ nềnkinh tế Hà Nội là hơn 3,9 triệu người, năm 2020 hơn 4,5 triệu người Trước áp lựclớn về nhu cầu lao động và đào tạo lao động, Hà nội rất cần xây dựng chiến lượcphát triển và qui hoạch cơ sở đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng và gắn đào tạotheo đào tạo định hướng nhu cầu của thị trường Đây sẽ là biện pháp tổng thể đểphát triển quy mô, chất lượng đào tạo nghề đảm bảo hợp lý về cơ cấu, ngành nghề
và phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động; chuyển đổi cơ cấu lao động phù
Trang 27hợp và đáp ứng dịch chuyển cơ cấu kinh tế đồng thời giải quyết những bất cập còntồn tại đối với nguồn nhân lực của Hà Nội.
II THỰC TRẠNG DẠY NGHỀ
1 Cơ chế, chính sách chung của nhà nước có liên quan đến đào tạo nghề
Để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hộinhập đòi hỏi phải có đội ngũ lao động có kỹ năng nghề cao Đây là thách thức rấtlớn vì hiện nay nguồn lao động nước ta dồi dào nhưng chất lượng thấp so với cácnước trong khu vực và thế giới Sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với đào tạonghề đã được thể hiện trong thời gian qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên
địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động” Tiếp đến đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra chủ trương
phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là: “Phát triển mạnh
hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động” và “Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề” Đại hội đảng lần thứ XI đã xác định phát triển nguồn nhân lực là
một trong ba đột phá để thực hiện mục tiêu đã đặt ra mà trong đó đào tạo nghề làmột cấu phần quan trọng nhất
Cụ thể chủ trương nêu trên, mạng lưới các cơ sở dạy nghề đã được mở rộngvới mục tiêu có thể đáp ứng tối đa nhu cầu học tập của người dân ở tất cả các trình
độ đào tạo, và theo điều kiện và khả năng Cụ thể việc mở rộng sẽ theo ba hướng:
- Một là hình thành các trường CĐN, TCN có năng lực đào tạo nghề chất
lượng cao nhằm đào tạo một số nghề đạt chuẩn quốc gia; một số trường CĐN cónăng lực đào tạo theo chương trình dạy nghề đạt trình độ của các nước phát triểntrong khu vực và trình độ thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng caocho các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế
Trang 28xuất, xuất khẩu lao động Thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năngnghề, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề cho giáo viên, giảng viên dạy nghề; mỗi TP cómột trường có năng lực đào tạo ít nhất 2 nghề đạt chuẩn quốc gia phục vụ nhu cầucủa thị trường lao động của địa phương
- Hai là phát triển các trường CĐN, TCN có năng lực đào tạo đáp ứng nhu
cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất kinh doanh của ngành, địa phươnggóp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo và giảm khoảng cách pháttriển kinh tế - xã hội giữa các vùng, miền, địa phương
- Ba là phát triển các trung tâm dạy nghề để đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp,
dạy nghề dưới 3 tháng nhằm phổ cập nghề và đào tạo lại nghề cho người lao độnggóp phần tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động,nhất là lao động nông thôn và dân tộc thiểu số
Bên cạnh việc phát triển mạng lưới các trường trung cấp nghề, cao đẳngnghề và trung tâm dạy nghề, nhà nước thúc đẩy việc phát triển các CSDN trongdoanh nghiệp và đẩy mạnh đào tạo nghề tại doanh nghiêp
Song song với việc xây dựng mạng lưới đủ năng lực, nhà nước đẩy mạnhviệc thực hiện liên thông giữa các trình độ đào tạo; hệ thống dạy nghề linh hoạt, dễtiếp cận và huy động được các lực lượng xã hội tham gia; đa dạng hóa các hìnhthức, loại hình dạy nghề (chính quy, thường xuyên, dạy nghề tại doanh nghiệp, tạilàng nghề…) với các chương trình, các khóa đào tạo phù hợp; đáp ứng nhu cầu họcnghề của mọi người, đặc biệt là lao động nông thôn, hướng tới phổ cập nghề cho laođộng thanh niên; quan tâm tới các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội và trên thịtrường lao động, phục vụ nhu cầu việc làm trong nước và cho xuất khẩu lao động
Chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người học nghề
Với vai trò quan trọng của dạy nghề không chỉ đối với sự phát triển kinh tếđất nước mà còn có ý nghĩa xã hội, nhân văn cao cả, Nhà nước đã ban hành và triểnkhai nhiều chính sách ưu đãi về dạy nghề cho các đối tượng: chính sách tín dụngcho học sinh, sinh viên trong dạy nghề chính quy; chính sách hỗ trợ dạy nghề đối
Trang 29với người dân tộc thiểu số; bộ đội xuất ngũ, người nghèo, người khuyết tật, laođộng nông thôn, lao động bị thu hồi đất canh tác v.v…
- Chính sách dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số nội trú
Chính sách dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số nội trú được quy địnhtrong Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ
và Thông tư liên tịch số 65/2006/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 12/7/2006 của liên
bộ Tài chính, lao động Thương binh và Xã hội
Chính sách này quy định cụ thể cho đối tượng là học sinh tốt nghiệp cáctrường trung học cơ sở dân tộc nội trú và trung học phổ thông dân tộc nội trú, kể cảnội trú dân nuôi được cử tuyển học nghề nội trú, trong đó ưu tiên con em các dântộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách dạy nghề nội trú.Thông qua chính sách này, học sinh dân tộc thiểu số nội trú được miễn học phí vàcác loại lệ phí thi, tuyển sinh; được hưởng học bổng, trợ cấp xã hội và các chínhsách khác tạo điều kiện giúp học sinh dân tộc thiểu số được học nghề
- Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên
Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theohọc tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đàotạo nghề được quy định tại Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 củaThủ tướng Chính phủ
Chính sách này đã đề cập đến nhiều đối tượng người học có hoàn cảnh khókhăn như: HSSV mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng ngườicòn lại không có khả năng lao động; HSSV là thành viên của hộ gia đình nghèo theotiêu chuẩn quy định; Hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo; Học sinh, sinhviên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính Nhờ chính sách này, người học thuộcdiện khó khăn đã có cơ hội, điều kiện theo học
Trang 30- Chính sách dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ
Ngày 9/10/2009, Thủ tướng Chính phủ đó ban hành Quyết định số121/2009/QĐ-TTg về cơ chế hoạt động của các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Quốcphòng và chính sách hỗ trợ bộ đội xuất ngũ học nghề Tại Quyết định này, Thủtướng Chính phủ quy định bộ đội xuất ngũ học nghề trình độ trung cấp nghề, trình
độ cao đẳng nghề được học nghề theo cơ chế đặt hàng đối với các cơ sở dạy nghềtheo quy định tại Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14/3/2008; được vay vốnhọc nghề theo quy định tại Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007; bộđội xuất ngũ học nghề trình độ sơ cấp được cấp ‘‘Thẻ học nghề’’ có giá trị tối đabằng 12 tháng tiền lương tối thiểu chung tại thời điểm học nghề và có giá trị sửdụng trong 01 năm kể từ ngày cấp thẻ
- Chính sách dạy nghề cho người nghèo
Chính sách dạy nghề cho người nghèo đã được quan tâm thông qua Chươngtrình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 (Quyết định số20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch
số 44/2010/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 29/3/2010 của liên Bộ Tài chính và BộLao động - Thương binh và Xã hội) Theo chính sách này, không chỉ người nghèokhi tham gia học nghề được hỗ trợ mà cả những cơ sở dạy nghề cho người nghèo,doanh nghiệp dạy nghề và tổ chức việc làm cho người nghèo cũng được các chínhsách hỗ trợ của nhà nước
- Chính sách dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật
Chính sách này được quy định tại Thông tư số BTC-BKHĐT ngày 19/3/2005 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - BộTài chính - Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 81/CP ngày23/11/1995 và Nghị định số 116/2004/NĐ-CP ngày 23/4/2004 sửa đổi, bổ sung một
19/2005/TTLT/BLĐTBXH-số điều của Nghị định 19/2005/TTLT/BLĐTBXH-số 81/CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người tàn tật và các quy định
Trang 31hiện hành Thông qua chính sách này, người khuyết tật, tàn tật có nhiều cơ hội tiếpcận với việc học nghề.
- Chính sách dạy nghề cho thanh niên
Chính sách học nghề và tạo việc làm cho thanh niên giai đoạn 2008 - 2015(đã được phê duyệt tại Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg ngày 21 tháng 7 năm 2008của Thủ tướng Chính phủ) đang mở ra triển vọng mới về dạy nghề, tạo bước độtphá tăng về số lượng, nâng cao chất lượng dạy nghê cho thanh niên, giúp thanh niênhọc nghề, lập nghiệp
Chính sách này nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên vay vốn học nghề,tạo việc làm và đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các chính sách hiện hànhcủa nhà nước; hỗ trợ đầu tư nâng cao năng lực và hiện đại hóa 10 trung tâm giớithiệu việc làm và dạy nghề trọng điểm của Đoàn thanh niên; tập huấn 60.000 lượtcán bộ đoàn các cấp về tư vấn học nghề, việc làm; tỷ lệ thanh niên được tiếp cậnthông tin tư vấn, giới thiệu việc làm đạt 50% vào năm 2010 và 75% vào năm 2015;100% thanh niên có nhu cầu lập doanh nghiệp được cung cấp kiến thức khởi sựdoanh nghiệp
- Chính sách dạy nghề cho phụ nữ
Chính sách hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015 cũng
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thông qua Quyết định số 295/QĐ-TTgngày 26/2/2010 Chính sách này đã tăng cơ hội học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ;đặc biệt phụ nữ khu vực nông thôn, phụ nữ độ tuổi trung niên, phụ nữ dân tộc thiểu
số vùng đặc biệt khó khăn, vùng di dời, giải tỏa Mặc khác, chính sách này cũnghuy động mọi nguồn lực trong xã hội quan tâm dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ;chú trọng đầu tư phát triển các cơ sở dạy nghề thu hút nhiều lao động nữ, đặc biệt làcác cơ sở dạy nghề thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
- Chính sách dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn
Chính sách hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn được thực hiện từ năm
2005 theo Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính
Trang 32phủ và Thông tư số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBX ngày 19/01/2006 của liên Bộ Tàichính, Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm phát triển dạy nghề cho LĐNT, gópphần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho LĐNT Để phát triển và nhân rộngnhững kết quả đó, năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” nhằmtạo ra sự thay đổi căn bản trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân
2 Mạng lưới dạy nghề
Số lượng cơ sở dạy nghề của thành phố Hà Nội từ năm 2006 - 2010 theothống kê nhìn chung có sự tăng lên đáng kể Việc nâng cấp các trung tâm dạy nghềthành các trường Trung cấp nghề, các trường Trung cấp nghề thành các trường Caođẳng nghề đã làm cho mạng lưới cũng như quy mô các cơ sở dạy nghề tại Hà Nộithực sự mở rộng và phát triển
Tính đến năm 2010, theo số liệu thống kê của Sở LĐTB&XH thành phố HàNội, cả thành phố có 238 cơ sở tham gia đào tạo nghề, trong đó có 21 trường Caođẳng nghề, 46 trường Trung cấp nghề, 59 Trung tâm dạy nghề và 106 các cơ sở cótham gia dạy nghề Xét về hình thức sở hữu, đối với loại trường CĐN có 13 cơ sởdạy nghề công lập trên và 8 cơ sở dạy nghề ngoài công lập, đối với trường Trungcấp nghề: có 21 cơ sở dạy nghề công lập và 25 trường Trung cấp nghề ngoài cônglập, tổng số Trung tâm dạy nghề trên địa bàn thành phố là 59, trong đó 25 cơ sởcông lập và 34 cơ sở ngoài công lập Trong tổng số 106 các cơ sở khác có tham giadạy nghề thì chỉ có 28 cơ sở thuộc công lập, còn lại chiếm đa số là các cơ sở dạynghề ngoài công lâp Nhìn chung về mạng lưới cơ sở dạy nghề trên địa bàn thànhphố các cơ sở ngoài công lập chiếm tỉ lệ khá cao Đây là một trong những thuận lợi
vì sự phát triển của các cơ sở dạy nghề giúp cho người muốn học có thể dễ dàngtrong việc lựa chọn cho mình một nơi để học
Trang 33Bảng 11: Tổng hợp cơ sở dạy nghề trên địa bàn Hà Nội theo loại hình công lập, ngoài công lập thuộc trung Ương và địa phương
từ năm 2006 đến năm 2010
Đơn vị tính: Trường
Các cơ sở khác có dạy nghề
Tổng số
Tổng số
Công lâp Ngoà
i công lập Tổng số
Công
ài công lập Tổng số
Công lâp Ngoà
i công lập Tổng số
Công lâp Ngoài công
Công lâp Ngo ài côn g lập
Trang 34Xét theo địa bàn, nhìn chung mỗi quận, huyện của thành phố đều có hệ thốngtrường Trung cấp nghề và Trung tâm dạy nghề Tuy nhiên mạng lưới các trườngCao đẳng nghề hiện nay chỉ tập trung chủ yếu tại một số quận, huyện trung tâm củathành phố Hà Nội, tính đến năm 2010, Hà Nội có 21 trường Cao đẳng nghề đượcphân bố trên 18 quận huyện (chiếm khoảng 86% số quận huyện) của thành phố, cònlại 11 quận, huyện chưa có hệ thống trường Cao đẳng nghề Hệ thống các trườngCao đẳng nghề hiện tại của thành phố phân bố tại các quận, huyện sau: Cầu Giấy,Hoàn Kiếm, Sóc Sơn, Ba Đình, Đống Đa, Gia Lâm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Tây
Hồ, Thanh Trì, Đông Anh, Long Biên, Từ Liêm, Thanh Oai, Ba Vì, Hoài Đức, ĐanPhượng, Phú Xuyên
Xét về mạng lưới các trường Trung cấp nghề, Hà Nội có tổng số 46 trườngTrung cấp nghề được phân bổ trên hầu hết các quận, huyện của thành phố Tính đếnnăm 2010, Hà Nội vẫn có 7 quận, huyện chưa có hệ thống trường Trung cấp nghềlà: Ba Đình, Long Biên, Quốc Oai, Ba Vì, Ứng Hòa, Phúc Thọ, Mỹ Đức
Mạng lưới các Trung tâm dạy nghề của Hà Nội hiện nay với số lượng khálớn 59 trung tâm, tuy nhiên mạng lưới các Trung tâm dạy nghề hiện nay chưa baophủ toàn bộ các quận, huyện của Hà Nội Có đến 5 quận, huyện hiện nay chưa cómột trung tâm dạy nghề công lập và ngoài công lập nào đó là các quận huyện: PhúcThọ, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Đan Phượng, Thanh Oai
Tính đến thời điểm năm 2010, Hà Nội có 2 huyện chưa có một cơ sở dạynghề nào là: Phúc Thọ và Mỹ Đức
Bảng dưới đây cho thấy thực trạng phân bổ các trường Cao đẳng nghề hiệntại trên địa bàn thành phố
Trang 35Bảng 12: Phân bổ các Trường Cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
STT Tên Quận/Huyện
Tổng số
Công lập
Ngoài CL
Tổn
g số
Công lập
Ngoài CL
Tổn
g số
Công lập
Ngoài CL
Tổn
g số
Trang 36huyện trung tâm thành phố nơi diện tích sử dụng còn chật chội, hầu hết chưa đápứng những yêu cầu tiêu chuẩn đảm bảo cho việc dạy và học Do vậy việc quy hoạchmạng lưới các trường dạy nghề của thành phố Hà Nội trong những năm tới là vôcùng cần thiết nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho người tham gia học cũng như đảmbảo các điều kiện cho việc dạy và học.
3 Quy mô và cơ cấu dạy nghề
Trong giai đoạn từ 2006 đến năm 2010, có thể nhận thấy quy mô đào tạonghề của thành phố Hà Nội có sự phát triển khá nhanh Năm 2006 số lượng tuyểnsinh của các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố mới chỉ là 64.439 người thìđến năm 2010 số lượng tuyển sinh của các cơ sở đào tạo nghề đã tăng gấp gần 10lần với tổng số 508.47 Theo số liệu thống kê của Tổng cục dạy nghề năm 2010, từnăm 2006 đến năm 2009, tổng số người qua đào tạo nghề là 95.253 người trong đó
số người đã tốt nghiệp trình độ Cao đẳng nghề là 3.380, số người tốt nghiệp trình độTrung cấp nghề là 23.018, Sơ cấp nghề là 47.823 và Dưới 3 tháng là 21.032 người.Dưới đây là bảng tổng hợp công tác tuyển sinh của các cơ sở dạy nghề giai đoạn
2006 - 2010
Bảng 13: Tổng hợp công tác tuyển sinh của các cơ sở dạy nghề
giai đoạn năm 2006 - 2010
Sơ cấp nghề 39.458 50.313 56.998 72.821 90.844 310.434 Dưới 3 tháng 7.886 11.274 17.524 21.973 21.929 80.586 Tổng 64.439 82.057 103.915 120.117 137.943 508.471
(Nguồn: Sở LĐTB&XH Hà Nội)
Từ bảng trên cho thấy quy mô đào tạo nghề ở trình độ Cao đẳng nghề cómức độ phát triển nhanh nhất Từ năm 2007, bắt đầu thực hiện dạy nghề theo 3 cấptrình độ, việc nâng cấp các trường Trung cấp nghề lên Cao đẳng nghề và việc thành
Trang 37lập một số Trường cao đẳng nghề ngoài công lập làm cho quy mô đào tạo nghề trình
độ Cao đẳng tăng nhanh chóng, năm 2006 số lượng đào tạo Cao đẳng nghề mới chỉ
50 người thì đến năm 2010 con số này đã tăng lên thành 37.315 người tăng gấp 746lần Các cơ sở này đã nhanh chóng nắm bắt nhu cầu thị trường triển khai tuyển sinh
và đào tạo, và đã thu được những kết quả đáng kể Số lượng tham gia đào tạo nghềtrình độ Sơ cấp và Dưới 3 tháng cũng tăng lên nhanh chóng gấp gần 10 lần từ năm
2006 đến năm 2010, lần lượt từ 39.458 lên 310.434 lượt người và 7.886 lên đến80.586 người
Có thể nói các cơ sở dạy nghề trên địa bàn đã và đang thực hiện tốt vai tròđào tạo phát triển nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường lao động của thành phố
và các tỉnh thành khác, tuy nhiên một thực tế là nhu cầu về lao động có trình độchuyên môn kỹ thuật và tay nghề cao hiện nay vẫn còn rất thiếu và yếu về số lượng
và chất lượng
Theo thống kê đến tháng 10 năm 2011, danh mục các nghề tạo tại hiện naycủa Hà Nội rất đa dạng, phong phù với 59 nghề đào tạo trình độ Cao đẳng nghề, 75nghề trình độ trung cấp nghề, 200 nghề đào tạo trình độ Sơ cấp nghề và 16 nghề đàotạo dưới 3 tháng Các nghề đào tạo trình độ Cao đẳng nghề tập trung chủ yếu vàocác nghề như: Điện công nghiệp; Điện dân dụng; Điện tử công nghiệp; Công nghệ ôtô; Cắt gọt kim loại; Hàn; Kế toán doanh nghiệp; Lập trình máy tính; Quản trị mạngmáy tính; Nguội chế tạo; Nguội sửa chữa máy công cụ; Nguội lắp ráp cơ khí; Kỹthuật máy lạnh và điều hoà không khí; Vẽ và thiết kế trên máy tính; Quản trị cơ sở
dữ liệu; Hệ thống điện; Kỹ thuật S/c lắp ráp máy tính Trong số 59 nghề có 13 nghềchỉ đào tạo duy nhất trình độ Cao đẳng nghề, còn 46 nghề còn lại thực hiện đào tạo
cả trình độ Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề
Trang 38Bảng 14: Quy mô đào tạo một số nghề theo 3 cấp trình độ Cao đẳng
nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề
Tên nghề đào tạo
Quy mô đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
21 Kế toán doanh nghiệp 4650 31 2700 21 2.460 12
23 Kỹ thuật lắp đặt điện và điều khiển trong công nghiệp 30 1 0 0 0 0
Trang 39Tên nghề đào tạo
Quy mô đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
24 Kỹ thuật máy lạnh và điều hoàkhông khí 220 5 340 8 290 6
26 Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính 805 8 815 14 35 1
27 Kỹ thuật thiết bị điện tử ytế
28 Kỹ thuật thiết bị cơ điện y tế
30 Kỹ thuật thiết bị sản xuất
dược
32 Lái tàu
33 Lập trình máy tính 680 12 205 4 420 3
35 May và thiết kế thời trang 365 3 250 1
Quản lý vận hành, sửa chữa
đường dây và trạm biến áp có
42 Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ 395 7 80 3 90 2
Trang 40Tên nghề đào tạo
Quy mô đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
Số lượng đào tạo
Số cơ
sở đào tạo
46 Quản trị kinh doanh vận tải Đường sắt 1 0 0 0 0
48 Sửa chữa thiết bị may 40 1 20 1 30 1
59 Xây dựng và bảo dưỡng công trình giao thông đường sắt 1 0 0 0 0
Tổng số
17.705 244 13.995 224 15.330 129Bên cạnh đó còn rất nhiều ngành nghề khác được các cơ sở đào tạo nghề đàotạo ở trình độ Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề cũng như dạy nghề ngắn hạn (cụ thểxem phụ lục….)
Nhìn chung các ngành nghề đào tạo của các cơ sở đào tạo tại thành phố rất
đa dạng, phong phú, đáp ứng được hầu như tất cả nhu cầu học các nghề của họcviên muốn theo học Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là làm sao tạo điều kiện thuậnlợi nhất cho người muốn học về địa điểm, tài chính và đảm bảo chất lượng đào tạocủa các cơ sở tham gia đào tạo nghề