1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”

113 6 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Liều Lượng Phân Hữu Cơ Đến Sinh Trưởng Phát Triển Và Năng Suất Của Giống Đậu Tương ĐT12 Tại Thừa Thiên Huế
Tác giả Nguyễn Thái Minh
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Sen
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Khoa Học Cây Trồng
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 6,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

KHOA NÔNG HỌC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Giáo viên hướng dẫn: TS Trịnh Thị Sen

Bộ môn: Khoa học cây trồng

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2021 - tháng 05/2021

Địa điểm thực tập: Khoa Nông học - Trường Đại Học Nông Lâm, Đại Học Huế Giáo viên hướng dẫn: TS Trịnh Thị Sen

Bộ môn: Khoa học cây trồng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Là sinh viên chúng ta đều nhận thức được tầm quan trọng của việc thực

tế và thực tập Theo phương châm đào tạo: “học đi đôi với hành, lý luận gắnliền với thực tiễn”, mới đem lại hiệu quả cao Chính vì vậy, thực tập tốtnghiệp là một khâu hết sức quan trọng nhằm đưa những kiến thức đã học trêngiảng đường từ đó áp dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào thực tiễn sảnxuất Kết hợp lý thuyết với thực hành giúp sinh viên rút ra được những bàihọc kinh nghiệm nhằm nâng cao những kiến thức cơ bản để có thể góp phầnnhỏ bé của mình vào phục vụ cho nền nông nghiệp nước nhà

Là sinh viên năm cuối của khoa Nông học Trường Đại học Nông LâmHuế, được sự nhất trí của Nhà trường và BCN khoa nông học tôi đã tiến hànhnghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởngphát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT12 tại Thừa Thiên Huế”

Trong thời gian thực tập, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của giađình, nhà trường và bạn bè Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến cô giáohướng dẫn TS Trịnh Thị Sen đã giành nhiều thời gian quý báu, tận tình giúp

đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành đề tài Tôi xin chân thành cảm ơnBan giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy côgiáo trong Khoa nông học Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành đề tài thực tập.Đây là công trình nghiên cứu đánh dấu bước trưởng thành của tôi sau 4năm học tập và rèn luyện tại trường Mặc dù đã cố gắng hết sức mình songchắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong được sự thôngcảm, đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè, để tôi có thể rút ra nhữngkinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thiện bản thân và có nhữngbước đi vững chắc trong quá trình công tác sau này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 02 tháng 6 năm 2021

Sinh viênNguyễn Thái Minh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BNNPTNT : Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc

ĐC : Đối chứng

TGST : Thời gian sinh trưởng

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

VCR : Tỉ suất lợi nhuận

Trang 7

MỤC LỤC

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây đậu tương (Glycine Max) thuộc cây họ đậu, là cây công nghiệpngắn ngày có giá trị kinh tế cao và có nhiều tác dụng Sản phẩm từ đậutương được làm thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu chocông nghiệp, làm hàng hóa xuất khẩu và là một trong những loại cây trồng

có tính năng cải tạo đất rất tốt Vì thế, cây đậu tương được gọi là “Ônghoàng trong các loại cây họ đậu”

Sở dĩ cây đậu tương được đánh giá cao như vậy là do hạt đậu tươngchứa nhiều chất đạm, protein, lipit, hydratcacbon và nhiều khoáng chất thiếtyếu Trong các thành phần đó protein và lipit là hai thành phần quan trọngnhất Protein chiếm 40-50%, lipit chiếm 18-20% tùy theo giống, điều kiệnthổ nhưỡng và khí hậu Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu cao hơn cácloại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng bậcnhất Lipit của đậu tương chứa một tỉ lệ cao các axít béo chưa no (khoảng60-70%) có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52-65%, oleic từ 25-36%, linolenolic khoảng 2-3% (Ngô Thê Dân và cs, 1999)[6] Sử dụng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được bệnh xơ vữađộng mạch

Đậu tương là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế cao, dễ trồng, sảnphầm được sử dụng rất đa dạng Đậu tương được chế biến thành 600 loạithực phẩm khác nhau Các thức ăn cổ truyền như đậu phụ, tương, chao, sữađậu nành… Các loại thực phẩm, chế phẩm hiện đại như kẹo, bánh đậutương, hotdogs đậu tương, đậu hũ cheese, các loại thịt nhân tạo…tất cả cácloại thực phẩm đều thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượngisoflavone trong hạt đậu tương có tác dụng làm giảm đáng kể lượngcholesterol trong máu khi sử dụng sản phẩm làm từ đậu tương (Bùi TườngHạnh, 1999) Trong công nghiệp, dầu đậu tương được sử dụng làm sơn, mực

Trang 9

in, xà phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo Hiện nay, diện tích trồng đậu tươngcủa Việt Nam được xếp vào hàng thứ 16 trên thế giới và đứng thứ 5 ở Châu

Á, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia và Triều Tiên Năng suất đậu tươngcủa Việt Nam đạt thấp (1,52 tấn/ha/năm) bằng 60,6 % so với năng suất đậutương của thế giới (FAOSTAT, 2021) [28] Hàng năm, Việt Nam phải nhậpkhẩu 1,2 triệu tấn đậu tương để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con người

và ngành chăn nuôi Mặc dù, nhà nước đã có rất nhiều dự án khuyến nông vàban hành nhiều chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển diện tích trồng đậutương, tuy nhiên diện tích trồng đậu tương đang có xu hướng giảm dần quacác năm, vào năm 2018 diện tích giảm còn 53,3 ngàn ha và tổng sản lượngđậu tương đạt 76 ngàn tấn, khoảng 10% so với nhu cầu tiêu dùng trongnước Như vậy, nhu cầu tiêu thụ đậu tương là rất lớn, thực tế sản xuất đậutương trong nước cung chưa đủ cầu, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu đậutương biến đổi gen từ Trung Quốc Trong khi, xu hướng của người tiêu dùng

là sử dụng các sản phẩm nông nghiệp sạch và an toàn

Thừa Thiên Huế là tỉnh có trên 80% người dân sinh sống theo đạoPhật Nhiều sản phẩm chế biến từ đậu tương đã trở thành những món ăntruyền thống và đi vào đời sống ẩm thực của người dân Cố đô, đặc biệt trongnhững dịp lễ Phật Đảng và ngày giữa và cuối tháng âm lịch Mặc dù, tỉnhThừa Thiên Huế đã có quy hoạch vùng trồng đậu ở các Huyện, trong đó cóđậu tương Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy, người dân trồng đậu tươngtheo kinh nghiệm, ít bón phân hữu cơ, chủ yếu sử dụng phân hóa học vàthuốc bảo vệ thực vật nên sản phẩm đậu tương chưa thật sự tạo niềm tin chongười tiêu dùng Vì vậy, việc nghiên các biện pháp kỹ thuật canh tác theohướng cơ là thật sự cần thiết trong xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơtoàn cầu như hiện nay Trong đó, liều lượng bón phân hữu cơ là một trongnhững biện pháp kỹ thuật quan trọng cần được nghiên cứu để góp phần xâydựng quy trình canh tác đậu tương theo hướng hữu cơ tại Thừa Thiên Huế

Xuất phát từ cơ sở khoa học và yêu cầu thực tiễn nêu trên chúng tôitiến hành thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh

Trang 10

trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT12 tại Thừa ThiênHuế”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơđến sinh trưởng phát triển và năng suất của đậu tương, làm cơ sở để xâydựng quy trình sản xuất đậu tương theo hướng hữu cơ tại Thừa Thiên Huế

Mục tiêu cụ thể: Xác định được liều lượng hữu cơ thích hợp cho câyđậu tương sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế caonhất

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnhhưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển, năng suất củacây đậu tương Từ đó, bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu về đậutương

* Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp xác định được liều lượng phân hữu cơthích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cây đậu tương, đảm bảo đượcnăng suất và tăng hiệu quả phân bón Từ đó làm cơ sở xây dựng quy trình kỹthuật trồng đậu tương hiệu quả cao

Cung cấp tài liệu cho hệ thống khuyến nông cũng như người nông dântrong công tác sản xuất đậu tương, tạo cơ sở để mở rộng sản xuất đậu tươngtheo hướng hữu cơ tại Thừa Thiên Huế

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây đậu tương

2.1.1.1 Nguồn gốc

Cây đậu tương (đậu nành) là một trong những cây trồng lâu đời củanhân loại Các nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất cây đậu tương cónguồn gốc từ Mãn Châu – Trung Quốc (vùng Đông Bắc Trung Quốc) Dựavào các di tích cũ thì cây đậu tương được biết đến vào 5.000 năm và đượctrồng trọt từ thế kỷ XI trước Công Nguyên Từ Trung quốc cây đậu tươngđược lan truyền khắp thế gới Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản vào 200năm trước Công Nguyên cây đậu tương được đưa vào Triều Tiên và sau đólan truyền qua Nhật Bản Đến giữa thế kỷ XVII cây đậu tương mới được nhàthực vật học người Đức Engelbert Caempfer đưa về Châu Âu và đến năm

1954 cây đậu tương mới được đưa tới trồng ở Hoa Kỳ

Ở Việt Nam nhiều nghiên cứu xác định rằng cây đậu tương đã được trồng từthời các Vua Hùng Người dân nước ta đã biết trồng và sử dụng nhiều loạiđậu trong đó có đậu tương (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6]

Do có giá trị cao về nhiều mặt nên cho đến nay diện tích đậu tương ngàycàng được mở rộng Nhiều nghiên về sinh thái cây đậu tương đã chứngminh: Trên thế giới đới khí hậu từ 00-200 vĩ Bắc có tiềm năng cho năng suấtđậu tương cao nhất Việt Nam nằm trong đới khí hậu trên nên có nhiều tiềmnăng để đẩy mạnh sản xuất đậu tương

2.1.1.2 Phân loại

Cây đậu tương thuộc bộ đậu Fabales, họ Fabaceae (hay Leguminosae)thuộc chi họ phụ cánh bướm Papilionoideae, chi Glycine L trong chiGlycine L có 2 phụ chi Glycine Willd, Bracteata Verde và Soja Trong đó làSoja là phụ chi quan trọng nhất và được nhiều nhà khoa học quan tâm

Trang 12

nghiên cứu Phụ chi Soja có 2 loài Glycine Soja Sieb bà Zuce (là loài đậutương hoang dại) và Glycine max (L) Merril (đậu tương gieo trồng).

* Theo Fukada Y.1993 con đường tiến hoá của đậu tương hoang dạithành đậu tương gieo trồng ngày nay theo trình tự sau:

G.Soja Sieb & Zuce => G.gracilis => G.max

* Theo Hymovitz (1970) cho rằng đậu tương trồng được hình thànhtrực tiếp từ đậu tương hoang dại con, dạng trung gian G.gracilis là kết quảlai giữa 2 giống trên

Theo Carasawa K (1936) với quan điểm quá trình tiến hoá từ đậu tươnghoang dại thành đậu tương trồng diễn ra nhờ sợ tích luỹ các đột biến gen với

sự bảo toàn cấu trúc nhiễm sắc thể

Do xuất phát từ những yêu cầu, căn cứ và tiêu chí phân loại khác nhaunên cũng có nhiều cách phân loại khác nhau Nhưng đến nay, hệ thống phânloại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắcthể được nhiều người sử dụng

Hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, sự phân bố địa lý và

số lượng nhiễm sắc thể do Hymowit và Newell (1984) xây dựng Theo hệ

thống này ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja Chi Glycine được

chia ra thành 7 loài hoang dại lâu năm, và chi phụ Soja được chia ra làm 2

loài: loài đậu tương trồng Glycine (L) Merr và loài hoang dại hàng năm G Soja Sieb và Zucc.

Ngoài những phân loại trên thì phân loại theo thời gian sinh trưởng có ýnghĩa thiết thực nhất trong sản xuất Tuy nhiên phân loại theo thời gian sinhtrưởng cũng có những khác nhau nhất định về khoảng thời gian Việt Namđang chia nhóm đậu tương thành 3 nhóm:

- Nhóm chín rất sớm: Có thời gian sinh trưởng từ 60 đến 80 ngày nhưcác giống Cúc Lạn Ngạn, Nhật 17, Hồng Ngự, HL22, Xanh Lơ Bắc Giang

Trang 13

- Nhóm chín sớm: Có thời gian sinh trưởng từ 80 đến 90 ngày như cácgiống Cọc chùm, Nam Vang, AKO3, AKO2, M103, DT76, MTD 22, DH4,

MD 176, HL92, HL25, HL2, K1558

- Nhóm Trung bình: Có thời gian sinh trưởng từ 90 ngày trở lên nhưcác giống MTD6, DT84, DT80, DT78, VX92, VX93, HL90, MTD455-3,A5, Vàng Mường Khương [11]

2.1.1.3 Sự phân bố của cây đậu tương

Loài đậu tương hoang (Glycine ussuriensis/ Glycine soja) là tổ tiên

hoang dại của Glycine max và được tìm thấy ở Triều Tiên, Taiwan, Nhậtbản, thung lũng Yangtze của miền Trung Trung Quốc, các tỉnh miền ĐôngBắc Trung Quốc, và các khu vực giáp giới nước Nga Chủng hoang dại nàytương tự nhưng không phải là đậu nành được trồng hiện nay và chúng có thểlai tạo được với nhau vì đồng nhất về mặt di truyền và thường được sử dụngtrong chương trình lai tạo giống để kết nạp một số đặc tính quý đặc biệtđược mong đợi trong những giống đậu nành mới được tạo ra

Loài đậu tương (Glycine max) có nguồn gốc ở Trung Quốc, từ đó lan sang

nhiều nước khác ở Châu Á như: Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam

Á, Ấn Độ

Hiện nay cây đậu tương là cây trồng phổ biến trên thế giới, đặc biệt làChâu Mỹ và Châu Á có các nước với diện tích trồng đậu tương lớn như: Mỹ,Trung Quốc, Braxin, Ấn Độ, …

2.1.2 Vai trò và giá trị của cây đậu tương

2.1.2.1 Vai trò dinh dưỡng của cây đậu tương

Hàm lượng protein cao trong hạt đậu cũng như nhiều hợp chất có giátrị làm cho đậu tương trở thành một trong những thực phẩm quan trọng trênthế giới Protein trong hạt đậu chứa 38% tùy loại, hiện nay nhiều giống đậutương có hàm lượng protein đặc biệt cao tới 40%-50%

Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng prôteintrung bình từ 35,5 - 40% Trong khi đó hàm lượng prôtein trong gạo chỉ 6,2 -

Trang 14

12%; ngô: 9,8 - 13,2% thịt bò: 21%; thịt gà: 20%; cá: 17 - 20% và trứng: 13

- 14,8%, lipit từ 15- 20%, hyđrát các bon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố vàmuối khoáng quan trọng cho sự sống (Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thi Thư,2004) Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó đượcđánh giá đồng thời cả prôtit và lipit

Có những chế phẩm của đậu tương mang tới 90-95% protein, đây là nguồnprotein thực vật có giá trị cao cung cấp cho con người Trong hạt đậu cònchứa sắt, canxi phốt pho và thành phần chất sơ tốt cho tiêu hóa Vitamintrong đậu tương có nhiều nhóm B đáng kể là vitamin B1, B2, B6, ngoài ra còn

có vitamin E, acid pholic

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của một số chất (% trọng lượng chất

Trong đậu tương có hàm lượng Protein khác với thịt động vật nhưtrứng, thịt, cá, sữa là protein của đậu tương có chứa hai acid amin làMethionin và Triptophan ở lượng thấp (thông thường các loại protein được

Trang 15

hình thành do hơn 20 acid amin tạo nên) Cũng có thể sự thiếu hụt này ở hạtđậu tương khi dùng làm thức ăn có thể được bổ sung bằng Cystein – mộtloại acid amin có chứa gốc sulfure giống methionin mà cơ thể có thể tổnghợp được, hoặc bổ sung thêm bắp có chứa acid amin không thay thế nhưTriptophan.

Trong đậu tương có hợp chất tương tự như kích thích tố nữ Estrogen

mà nhiều nghiên cứu khoa học cho biết là có hiệu quả trong việc phòng ngừa

và trị một số bệnh, đó là hợp chất Isoflavoaes Nhiều nghiên cứu cho thấyIsoflavoaes giúp làm giảm nguy cơ ung thư ngực, ung thư ruột, các nghiêncứu trên động vật đã chứng minh sử dụng sản phẩm đậu tương đã ức chế ítnhất 5% khả năng ung thư

2.1.2.2 Giá trị kinh tế của cây đậu tương

Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chếbiến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất đốtlỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương đượcdùng để ép dầu Hiện nay trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về cungcấp nguyên liệu cho ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu thựcvật Đặc điểm của dầu đậu tương: khô chậm, chỉ số iốt cao : 120- 127,ngưng tụ ở nhiệt độ : - 15 đến - 18°C Từ dầu của đậu tương người ta chế rahàng trăm sản phẩm công nghiệp khác như: làm nến, xà phòng, ni lông v.v Đậu tương còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc,1 kg hạt đậu tương đươngvới 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi Toàn cây đậu tương (thân, lá, quả, hạt) cóhàm lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ như thân lá tươi có thểlàm thức ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng hợp củagia súc Sản phẩm phụ công nghiệp như khô dầu có thành phần dinh dưỡngkhá cao: N: 6,2%, P2O5: 0,7%, K2O: 2,4%, vì thế làm thức ăn cho gia súcrất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6]

Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt 1 ha trồng đậu tương nếusinh trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30-60 kg N (Phạm Gia Thiều,2000) Trong hệ thống luân canh, nếu bố trí cây đậu tương vào cơ cấu câytrồng hợp lý sẽ có tác dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần tăng năng

Trang 16

suất cả hệ thống cây trồng mà giảm chi phí cho việc bón N Thân lá đậutương dùng bón ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng N trong thânchiếm 0,05%, trong lá: 0,19% (Nguyễn Danh Đông, 1983) [4].

2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây đậu tương

Đậu tương được nhân giống bằng hạt nên việc bảo quản hạt giống rấtquan trọng, hạt giống được bảo quản tốt thì tỷ lệ nảy mầm cao hơn Đậutương có hai giai đoạn sinh trưởng: Sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởngsinh thực Giai đoạn thứ nhất là quá trình sinh trưởng của cơ quan dinhdưỡng (rễ, thân, lá), giai đoạn thứ hai chuyển sang hình thành các cơ quansinh sản và dự trữ như hoa, quả, hạt …Sự sinh trưởng và phát triển của đậutương được phân chia thành 4 thời kỳ chính:

* Thời kỳ nảy mầm

Khi hạt đậu tương hút được một lượng nước 50% trọng lượng hạt thìbắt đầu nảy mầm nhiệt độ thích hợp là 18-260C Trên đồng ruộng đậu tươngtrồng vụ Xuân ở các tỉnh phía Bắc thời gian mọc mầm 4-5 ngày, còn ở miềnTrung thì rơi vào 5-8 ngày

Khi rễ cọc dưới đất dài 2-3 cm thì đoạn thân dưới lá mầm đã dài ra,vươn qua lớp đất phủ hạt đẩy hai lá mầm trồi lên khỏi mặt đất Để hạt đậutương nảy mầm tốt thì độ ẩm đất lúc gieo thích hợp là 65-70%, đất có cấphạt nhỏ, tơi xốp Độ sâu lấp hạt từ 3-5 cm Chất lượng hạt giống tốt, đảmbảo tỷ lệ nảy mầm >85% Nếu đất khô quá thì có thể ngâm hạt trước khigieo để cung cấp đủ lượng nước cho hạt nảy mầm

* Thời kỳ cây con

Thời kỳ này được tính từ khi hạt đã mọc tối đa đến khi cây nở hoa đầutiên

Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, cây tăng nhanh

số đốt, phát sinh cành và đốt cành nên số lá tăng nhanh Ở cuối thời kỳ câynon cũng là lúc cây phân hoá mầm hoa nên có tầm quan trọng tạo tiền đềcho sự ra hoa và tạo quả sau này

Trang 17

Thời kỳ cây con cần được chăm sóc chu đáo kịp thời đảm bảo đủ sốcây/đơn vị diện tích, bón phân, xới xáo lần 1, lần 2 và vun gốc để cho đất tơixốp, rễ phát triển mạnh, vi khuẩn cố định đạm hoạt động tốt Thời kỳ câycon nhiệt độ thích hợp cho phát triển thân cành là 20-250C Ẩm độ thích hợp

là 65-70% khi cây con mọc đến 2 lá kép, 70-75% từ 3 lá kép đến trước khi

nở hoa

* Thời kỳ ra hoa

Đây là thời kỳ quan trọng vì ảnh hưởng đến năng suất Thời gian rahoa có thể rất tập trung nhưng cũng có thể rải rác tuỳ thuộc theo giống vàthời vụ trồng Tuỳ vào giống mà thời kỳ ra hoa kéo dài từ 7-15 ngày (giốngchín rất sớm), trong khi các giống chín muộn ra hoa kéo dài từ 45-50ngày.Trên một chùm hoa, các hoa nở rải rác có thể tới 4-5 ngày, vì vậy trêncây đậu tương độ chín của các quả cũng khác nhau

Thời kỳ ra hoa là thời kỳ mẫn cảm với các yếu tố môi trường Nhiệt

độ thích hợp cho đậu tương ra hoa từ 22-280C Thời kỳ này tưới nước tạo độ

ẩm không khí thích hợp cho ruộng đậu tương Ẩm độ không khí thích hợp75-80%, ẩm độ đất từ 70-75%

* Thời kỳ hình thành quả và hạt

Sau khi hoa nở 5-7 ngày quả bắt đầu hình thành, phát triển rất chậm

và thường rất nhỏ Từ 10 ngày tiếp theo hạt hình thành và lớn nhanh nên bềgiày quả tăng nhanh Hạt càng lớn hàm lượng nước càng giảm, đồng thời sựtích luỹ chất khô tăng dần Giai đoạn cuối sự tích luỹ chất khô gần hoànthành, hàm lượng nước giảm nhanh từ 30% đến 15-20% trong vài ngày Lúcnày tán lá vàng nhanh và cũng là thời kỳ chín sinh lý của hạt, trong 7-10ngày đãc có tời ½ số là trên cây rụng Vỏ và lông quả đậu tương chuyểnvàng rồi đạt tới màu sắc đặc trưng của giống (vàng đậm, nâu, xám hoặc đen)

và khô dần, lông quả cứng cáp Tuỳ điều kiện thời tiết chín, lá đậu tươngthường rụng hết, quả chín khô, ẩm độ trong hạt còn 14-15% Nhiệt độ cầncho sự hình thành quả và hạt là 21-280C, thích hợp nhất là 21-230C Khi quảchín cần nhiệt độ 17-250C, thích hợp nhất là 19-200C

Trang 18

2.1.4 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương

* Nhiệt độ

Đậu tương có nguồn gốc ôn đới Tùy theo giống chín sớm hay muộn

mà có tổng tích ôn biến động từ 1.888- 2.700o C Từng giai đoạn sinh trưởngphát triển của cây đậu tương có yêu cầu nhiệt độ khác nhau

Cây sinh trưởng bình thường ở 10 - 37oC, nhiệt độ thích hợp 18 - 25oC.Lúc ra hoa, sợ rét và gió khô nóng Cây đậu tương cần độ ẩm cao trong suốtthời kỳ sinh trưởng phát triển với độ ẩm trung bình: 70 - 75%, cần lượngnước 400 - 500 mm Thời kỳ sinh trưởng độ ẩm 60 - 65% ảnh hưởng xấuđến sản lượng Cây đậu tương có khả năng chịu hạn nhưng sợ ngập úng, lúc

ra hoa cần tránh hạn và úng, độ ẩm trong đất 70 - 75% là tốt nhất Nhiệt độtốt nhất cho sự nảy mầm là khoảng 18oC - 26oC Thời kì lá đơn có thể chịuđược nhiệt độ trên dưới 0oC, thời kì lá kép phát triển được ở nhiệt độ >12oC.Nhiệt độ tốt nhất cho đậu tương phát triển là 22 - 27oC Nhiệt độ thấp ảnhhưởng xấu đến ra hoa kết quả, nhiệt độ khoảng 10oC ngăn cản sự phân hóamầm hoa, nhiệt độ dưới 18oC, tỷ lệ đậu quả thấp, nếu nhiệt độ cao hơn 39oCảnh hưởng xấu đến sự hình thành đốt, phát triển lóng và phân hóa hoa Nhiệt

độ thích hợp nhất cho sự quang hợp là 25 - 40oC Trong các thời kì phát triểncuối cùng nếu nhiệt độ thấp, hạt khó chín, chín không đều, tỷ lệ nước cao,chất lượng hạt kém

Bảng 2.2 Yêu cầu nhiệt độ của đậu tương trong từng giai đoạn sinh trưởng

phát triển

Thời kỳ Yêu cầu nhiệt độ thích

hợp (oC)

Tối thấp - tốicao

Từ gieo đến mọc 18 – 22 10 - 40Sinh trưởng cành 20 – 23 15 - 37Thời kỳ ra hoa 22 – 25 15 - 35Hình thành quả và hạt 21 – 23 15 - 35Thời kỳ chín 19 – 20 25 - 37

Trang 19

* Ánh sáng

Ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng khá sâu sắc tới hình thái cây đậu tương.Các giống đậu tương trồng ở Việt Nam ưa ánh sáng ngày ngắn dưới 12 giờ, nếugặp ngày dài trên 12,5 giờ sẽ ra hoa chậm, kéo dài thời gian sinh trưởng, vụĐông có ngày ngắn dưới 11,5 giờ sẽ ra hoa sớm Cây đậu tương ưa ánh sángtán xạ, với lượng mây khoảng 6 - 7 phần bầu trời là rất thích hợp cho cây đậutương phát triển Ánh sáng quyết định sự quang hợp của lá, sự cố định nốt sầncủa rễ từ đó ảnh hưởng đến thời gian nở hoa, thời gian quả chín, đến chiều caocủa cây, diện tích lá và nhiều đặc tính khác của cây bao gồm cả sản lượng chấtkhô và năng suất hạt

Đậu tương là cây ngắn ngày điển hình nên độ dài của thời gian chiếusáng chính là yếu tố quyết định sự ra hoa Đậu tương rất mẫn cảm với độ dàicủa ngày, tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất vào thời kỳ cây mới

có hai lá kép, thời gian sinh trưởng đến trước khi ra hoa, ánh sáng ngày ngắnvào thời kì này làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trưởng, chiều cao câygiảm, số đốt ít và độ dài đốt giảm Độ dài của ngày cũng tác động tới tỷ lệđậu quả, tốc độ lớn của quả Đậu tương cũng rất nhạy cảm với cường độ ánhsáng

Nếu cường độ ánh sáng giảm từ 50% trở lên so với bình thường thì cây

sẽ bị giảm số cành, số đốt, quả, năng suất hạt có thể giảm 60%, ở mức độ5000lux thì quả rụng nhiều Cây đậu tương cần nhiều ánh sáng để quang hợpnhất là thời kỳ ra hoa và hình thành quả, đây là điều kiện để đạt năng suấtcao Yêu cầu số giờ nắng trung bình cho các thời kỳ sinh trưởng của cây đậutương như sau:

Gieo hạt - mọc mầm: 5,0 - 5,5 giờ/ngày; mọc mầm - ra hoa 4,5 - 5,0giờ/ngày; ra hoa - chín quả: 4,0 - 5,0 giờ/ngày Số giờ nắng ít hơn những giátrị này là bất lợi Điều kiện này cho thấy ở các địa điểm vùng núi cao, nắngsớm muộn, nắng chiều chóng tắt, cây đậu tương thường bị rút ngắn thời giansinh trưởng nên năng suất thấp, kinh nghiệm nên chọn giống có thời giansinh trưởng dài >90 ngày để đạt năng suất cao Trong điều kiện độ dài ngàythích hợp, đậu tương chỉ cần 30% cường độ bức xạ mặt trời vì vậy đậu

Trang 20

tương có thể trồng xen các cây trồng khác, đây là một yếu tố quan trọng đểtăng vụ, tăng thu nhập trên 1 đơn vị diện tích Nhưng yêu cầu là đậu tươngcần chín trước khi cây trồng chính khép tán.

Đậu tương là cây ngắn ngày rất mẫn cảm với ánh sáng Yếu tố tiênquyết để đậu tương có năng suất cao là phải đạt hiệu quả quang hợp caonhất Vì vậy phải chăm sóc tốt để đậu nhanh chóng phủ kín đất, cây tiếp thuđược tối đa ánh sáng Đậu có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhauphản ứng với độ dài ngày khác nhau

* Nước

Trong thời kỳ sinh trưởng của đậu tương cần có một lượng mưa từ350-600mm Hệ số phát tán nước là 600-1000g/1g chất khô, vì vậy vùngsinh thái nào thời vụ trồng có lượng mưa thấp sẽ là yếu tố hạn chế đến năngsuất của đậu tương Khi nảy mầm đất thiếu độ ẩm cây mọc không đều, thời

kỳ cây con thiếu nước kết hợp với gió khô, nhiệt độ cao làm cho sự tăngtrưởng thân cành chậm, số đốt thân, cành ít, cành phát sinh kém Nếu lượngmưa nhiều thân cành dễ vươn vống, phân hoá hoa kém Đặc biệt là thời kỳhạt phát triển, thiếu nước năng suất giảm rõ rệt

Ẩm độ đất thích hợp cho thời kỳ nảy mầm đến khi cây có 2 lá kép là60-70% Khi cây có 3 lá kép đến hình thành quả, hạt cần ẩm độ từ 70-75%

Ẩm độ không khí khi cây ra hoa thích hợp 75-80%, khi hình thành quả, hạtcần 80-85% Thời kỳ hạt chín cần ẩm độ 70-75%, ẩm độ đất thấp 65%, vìvậy việc bố trí thời vụ sao cho có mưa vừa ở thời kỳ làm quả là tốt

* Điều kiện đất đai

Đất trồng đậu tương thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, tươi xốp, sâu màu,thoáng, thoát nước, pH từ 6,5- 7,2 Đậu tương không sống được trên đất quáchua, hoặc quá kiềm Đất ít màu, chua vẫn có thể trồng được, nhưng phảithoát nước, bón nhiều lân và vôi [11]

Trang 21

2.1.5 Phân hữu cơ

2.1.5.1 Khái niệm và phân loại phân hữu cơ

Phân hữu cơ được hiểu rộng ra bao gồm phụ phẩm của cây trồng và giasúc ở các giai đoạn khác nhau của quá trình phân giải và được bón vào đấtnhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng và cải thiện tính chất đất Phânhữu cơ bao gồm phân chuồng, phế phụ phẩm của trồng trọt, lâm nghiệp, rácthải công nghiệp từ các ngành sản xuất như ngành sản xuất giấy, đường, bùncống rãnh và phế phụ phẩm từ ngành chế biến nông sản

* Phân loại phân hữu cơ:

Phân chuồng

Phân chuồng là loại phân do gia súc thải ra, bao gồm: phân, nước tiểu giasúc và chất độn Nó không những cung cấp thức ăn cho cây trồng mà còn bổsung chất hữu cơ cho đất giúp cho đất được tơi xốp, tăng độ phì nhiêu, tănghiệu quả sử dụng phân hóa học…Chất lượng và giá trị của phân chuồng phụthuộc rất nhiều vào cách chăm sóc, nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng vàcách ủ phân

Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng đa lượng của phân chuồng

Đơn vị (%)

Loại phân H2O N P2O5 K2O CaO MgOLợn 82,0 0,80 0,41 0,26 0,09 0,10Trâu bò 83,1 0,29 0,17 1,00 0,35 0,13Ngựa 75,7 0,44 0,35 0,35 0,15 0,12

Gà 56,0 1,63 1,54 0,85 2,40 0,47Vịt 56,0 1,00 1,40 0,62 1,70 0,35

(Nguồn: Đường Hồng Duật, 2002)

Dựa vào bảng 2.4 có thể thấy, phân chuồng chứa đầy đủ các nguyên tố đalượng mà cây trồng cần Tuy nhiên, hàm lượng các nguyên tố này rất thấp.Đây cũng là một trong những lí do mà người dân không ưa chuộng việc sửdụng phân chuồng trong sản xuất nông nghiệp Hầu hết phân chuồng từ chănnuôi hộ gia đình được thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý hoặctái sử dụng Tuy nhiên, bên cạnh các nguyên tố đa lượng thì trong phân

Trang 22

chuồng còn có rất nhiều các nguyên tố vi lượng cần thiết mà cho cây mà nếubón phân hóa học sẽ khó bổ sung được như Bo, Mo, Zn, Cu, Mn, Co, …Ngoài ra, phân chuồng còn có khả năng cải tạo đất và dễ phân giải nênkhông gây ô nhiễm môi trường.

Đối với một nước có nền nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân, đặc biệt ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh, phânchuồng có thể được xem như một nguồn tài nguyên quý giá trong bối cảnh

cả nước đang hướng tới sản xuất nông nghiệp an toàn, hữu cơ

Phân rác

Là loại phân hữu cơ được chế biến từ rác, cỏ dại, thân lá cây xanh, bèotây, rơm rạ, chất thải từ rau quả sinh hoạt được ủ với một số phân men nhưphân chuồng, nước giải, lân, vôi cho đến khi hoai mục Phân rác có thànhphần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng và thay đổi trong những giới hạn rấtlớn tuỳ thuộc vào bản chất và thành phần của rác

Phân xanh

Phân xanh là loại phân hữu cơ, sử dụng các loại bộ phận trên mặt đất củacây Phân xanh thường được sử dụng tươi, không qua quá trình ủ Vì vậy,phân xanh chỉ phát huy hiệu quả sau khi được phân huỷ Cho nên người tathường dùng phân xanh để bón lót cho cây hàng năm hoặc dùng để “épxanh” (tủ gốc) cho cây lâu năm Tuy vậy, ở một số địa phương vùng Trung

Bộ, phân xanh được chặt nhỏ và bón cho ruộng lúa, người ta gọi là “bónbổi”

Phân hữu cơ vi sinh

Phân hữu cơ vi sinh là một chất nền chứa những vi sinh vật sống có khảnăng làm tăng năng suất cây trồng do tác động cải thiện nguồn dinh dưỡng

và mang lại một số đặc tính có lợi khác Các vi sinh vật sống có thể bám vàomột phần nào đó của rễ, thân, lá, Ở đó chúng sẽ cung cấp những thànhphần dinh dưỡng cần thiết cho cây Chúng có thể làm tăng năng suất bằngcách thay thế dưỡng chất trong đất như cố định đạm hay làm cho dưỡng chấthữu dụng hơn (hòa tan lân khó tan), tổng hợp các chất kích thích tăng trưởngcho cây hoặc làm tăng chiều dài hay diện tích bề mặt rễ, làm gia tăng tốc độhấp thu dưỡng chất (Wani và Lee, 1992) [27]

Phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm cao cấp hơn so với phân hữu cơ do được

bổ sung thêm một số loại vi sinh vật hữu ích như vi sinh vật cố định đạm, vi

Trang 23

sinh vật phân giải lân khó tan, vi sinh vật kích thích tăng trưởng cây trồng, visinh vật đối kháng,… (Đỗ Thị Thanh Ren và cs, 2004) [3].Vì vậy , phân hữu

cơ vi sinh có nhiều vai trò đối với cây trồng như cải tạo đất, cung cấp dinhdưỡng, giúp hoàn tan nhanh các chất khó tan, … Đặc biệt là làm tăng năngsuất cây trồng và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng sản phẩm

2.1.5.2 Vai trò của phân hữu cơ

- Vai trò của phân hữu cơ trong cải tạo đất

Phân hữu cơ hạn chế xói mòn đất và rửa trôi các chất dinh dưỡng Tăngkhả năng thoát nước, tránh hiện tượng ngập úng, hạn chế hiện tượng đóngváng bề mặt, ổn định nhiệt độ trong đất

Phân hữu cơ giúp cải tạo đất, bổ sung cho đất một lượng lớn mùn, axithumic, vi sinh vật hữu ích, các chất dinh dưỡng giúp đất tơi xốp, thoáng khí,tăng độ phì nhiêu, phân giải các độc tố trong đất

Bón phân hữu cơ vi sinh là cung cấp thêm chất hữu cơ, bổ sung hàmlượng mùn, làm mất độ cứng, tạo nên cấu trúc bền vững, cải thiện độ xốp,hạn chế sự rửa trôi và xói mòn của đất, giúp cây hấp thụ chất dinh dưỡng dễdàng hơn (Đỗ Thị Thanh Ren và cs, 2004) [3]

Trong quá trình phân giải, phân hữu cơ có thể tăng khả năng hòa tan cácchất khó tan, tăng khả năng trao đổi của đất Hữu cơ là nhân tố tích cực thamgia vào chuyển hóa lân trong đất từ dạng khó tan sang dạng dễ tiêu, hữudụng cho cây trồng (Nguyễn Thị Thúy và cs, 1997) [7] Mặt khác sự bổ sungchất hữu cơ cho đất thông qua phân hữu cơ góp phần gia tăng khả năng đệmtrong hầu hết các loại đất, gia tăng sự tạo phức chất hữu cơ - khoáng để khắcphục các yếu tố độc hại trong đất (Đoàn Thị Thanh Nhàn,1996) [2]

Cải thiện kết cấu đất: Phân hữu cơ vi sinh khi bón vào đất sẽ làm cho nơi

có đất sét, đất bạc màu và đất quánh rã ra, rồi khi gặp lại với đất cát lại làmcho cát rời dính lại với nhau, từ đó làm cho đất thông khí dễ dàng Phân hữu

cơ vi sinh còn cải tạo tính chất cơ lý hoá của đất, chống xói mòn, chống chaihoá đất

Tạo sự màu mỡ trong đất: Phân hữu cơ vi sinh chứa nitơ, photpho, magiê,lưu huỳnh… quá trình phân hủy tiết ra các chất dinh dưỡng, làm đất tăng sựhấp thụ khoáng chất Phân bố dinh dưỡng hợp lý, giúp phục hồi đất bạc màu,đất đã khai thác lâu năm và đất đã sử dụng nhiều phân hóa học

Trang 24

Duy trì độ ẩm cho đất: Tăng thời gian lưu giữ nước, giúp thấm lọc tốt,tránh bạc màu cho đất Các chất hữu cơ trong phân hữu cơ khi hòa tan vàođất sẽ trở thành một miếng xốp hút nước rồi luân chuyển nước vào đất đểnuôi cây Nếu thiếu chất hữu cơ nước sẽ bị thẩm thấu, từ đó đất sẽ bị đóngmàng làm nước bị ứ đọng trên bề mặt đất, chảy tràn khiến xói mòn đất.Tạo môi trường tốt cho vi khuẩn có lợi sinh sống: Phân hữu cơ vi sinh cókhả năng tạo ra các chất dinh dưỡng tốt cho các loài vi sinh vật sống trongđất, từ đó tạo ra môi trường cho các loài côn trùng và các loài vi sinh chốnglại nấm bệnh và tuyến trùng ký sinh thực vật cũng như tiêu diệt các loài côntrùng phá hoại đất đai.

Thông khí: Cây có thể đạt 95% chất dinh dưỡng từ không khí, ánh sáng vànước Đất trồng xốp giúp cho sự khuếch tán không khí vào đất để trao đổichất dinh dưỡng và độ ẩm, CO2 được thoát ra do chất hữu cơ phân hủy,khuếch tán ra ngoài và được hấp thụ bởi vòm lá bên ngoài

- Vai trò của phân hữu cơ đối với cây trồng

Phân hữu cơ hạn chế sâu bệnh hại, giúp các bộ phận cành, lá cây cứng cáphơn, lá dày, khả năng chống chịu đựng các điều kiện bất lợi cũng tốt hơn,nên sâu bệnh cũng ít hơn Tăng cường vi sinh vật hữu ích, nấm đối kháng,tăng tính đề kháng cho cây trồng gây ức chế cho hoạt động của vi sinh vật vànấm bệnh gây hại, tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển

Phân hữu cơ nâng cao chất lượng nông sản, đảm bảo cây trồng phát triểnkhỏe mạnh, ổn định, tăng sức đề kháng nên sâu bệnh ít, hạn chế được việc

sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV làm chất lượng nông sản tănglên

Chất hữu cơ còn là nguồn thức ăn cho các loài sinh vật sống trong đất.Phần lớn vi sinh vật trong đất thuộc nhóm hoại sinh Nguồn thức ăn chủ yếucủa nhóm này là dư thừa và thải thực vật Cung cấp chất hữu cơ giúp duy trìnguồn thức ăn, tạo điều kiện phát triển sinh khối, đa dạng chủng loại vàkiềm hãm sự gia tăng của các loài vi sinh vật có hại (Lê Văn Tri, 2002) [12].Phân hữu cơ vi sinh giúp duy trì thế cân bằng vi sinh vật có lợi trong đất,chủ yếu là bảo vệ và cân bằng vi sinh vật có ích cũng như các loài thiên địch

có lợi trên đồng ruộng Do đó, thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đấtcũng như các nguồn vi sinh vật có lợi để tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễphát triển hạn chế mầm bệnh (Nguyễn Đăng Nghĩa và cs, 2005) [10] Làm

Trang 25

tăng hệ số sử dụng đạm, vì vậy làm giảm lượng đạm tiêu tốn để tạo ra mộtđơn vị sản phẩm và làm tăng hiệu suất phân đạm Phân hữu cơ vi sinh cũnglàm tăng hiệu lực của phân lân do vi sinh phân giải hết lân bị kết tủa trongđất Có thể thay thế được từ 30 - 50% lượng phân đạm hóa học (tùy từngloại cây trồng 1 tấn phân vi sinh thay thế cho 10 tấn phân chuồng, 1 kg đạm

vi sinh thay thế cho 1 kg đạm urê) Giúp cây khỏe, tăng trưởng nhanh hơn,khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn

Việc bổ sung phân hữu cơ vi sinh vào đất đã cho thấy kháng một số bệnhthực vật bởi tuyến trùng, vi khuẩn hoặc nấm bệnh trong hệ thống canh tác nôngnghiệp Phân hữu cơ vi sinh tạo môi trường tốt cho các loại vi khuẩn có lợitrong đất sinh sống, có khả năng tạo ra các chất dinh dưỡng tốt cho các loại visinh vật sinh sống trong đất, từ đó tạo môi trường cho các loại côn trùng vànhững loài vi sinh vật chống lại nấm bệnh và tuyến trùng ký sinh thực vật cũngnhư tiêu diệt các loại côn trùng phá hoại đất, hoặc tác động xấu đến cây trồng(Andrés và cs, 2003) [23]

Sử dụng phân hữu cơ vi sinh và các chế phẩm sinh học sẽ làm tăng năngsuất cây trồng và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao chất lượng

và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam (Lê Văn Hưng, 2004) [13].Phân hữu cơ dễ dàng phân hủy sinh học và không gây ô nhiễm môitrường, bảo vệ đa dạng sinh học, cân bằng hệ sinh thái, tạo ra nguồn nôngsản sạch đảm bảo sức khỏe và an toàn với con người

Từ những ảnh hưởng xấu của phân bón hóa học nền nông nghiệp đangdần có những chuyển biển sang hướng canh tác nông nghiệp hữu cơ, hạn chếdùng phân bón hóa học, thuốc BVTV, thuốc kích thích và sinh vật biển đổigen

Phân vô cơ chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn, chính vì thế cần phảithường xuyên bổ sung dinh dưỡng cho đất, một số trường hợp phân vô cơcây không hấp thụ được gây lãng phí, phân tích tụ trong đất gây ô nhiễmmôi trường Lợi ích của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp đã đượcminh chứng từ hàng ngàn năm nay Từ xa xưa cha ông ta đã sử dụng phânhữu cơ cho canh tác nông nghiệp Phân hữu cơ không để lại những hậu quảđối với môi trường, sức khỏe như phân vô cơ Việc sử dụng phân hữu cơ làcon đường giúp nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững

Trang 26

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và trong nước

2.2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Đậu tương là cây trồng lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất trênthế giới, đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô Hiện đậu tươngđược trồng khắp các châu lục, tại 78 nước Do khả năng thích ứng rộng nên

nó đã được trồng ở khắp năm châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở hai châu:Châu Mỹ là 33.960.000ha trong đó nước Mỹ trồng 23.560.000ha năng suấtbình quân đạt 25,17tạ/ha Châu Á trồng 16.500.000 ha trong đó Trung Quốc

có diện tích lớn nhất là 9.400.000ha Năng suất đạt 13,50tạ/ha Hiện nay trêndiện tích hẹp đã đạt trên 50tạ/ha tại Mỹ, Braxin Các điển hình năng suất caochủ yếu nhờ tiến bộ trong công tác giống và sự thâm canh đồng bộ Sảnlượng thế giới đạt 189.234 nghìn tấn/ năm, hàng năm Mỹ đạt sản lượng caonhất 65.795 nghìn tấn, Brazil 51.532 nghìn tấn, Argentina 34.819 nghìn tấn,Trung Quốc16.500 nghìn tấn, Ấn Độ 6.800 nghìn tấn

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất đậu tương trên toàn cầu trong những năm gần

Trang 27

cây đậu tương đang trở thành một loại cây được các nước trên thế giới quantâm.

- Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới năm 2015 đạt năngsuất 26,7 tấn/ha nhưng đến năm 2019 thì sản lượng là 27,6 tấn/ha (tăng 0.9tấn), tăng không đáng kể

- Về sản lượng: sản lượng cây đậu tương tăng lên theo những năm đầu

và giảm dần về sau Năm 2015 thì đạt 323,3 triệu tấn, đến năm 2017 thì lên359,5 triệu tấn (tăng 36,2 triệu tấn so với năm 2015) và cho đến năm 2019thì sản lượng đạt 333,6 (tăng 10,3 triệu tấn so với năm 2015) giảm 3 lần sovới năm 2017

2.2.1.2 Tình hình sản xuất đậu tương trong nước

Ở Việt Nam, cây đậu tương là cây thực phẩm có thuyềnthống lâu đời, quan trọng, cung cấp protein chủ yếu cho conngười Trước năm 80 năng suất đậu tương của Việt Nam cònthấp, nguyên nhân do bộ giống cũ năng suất thấp, kỹ thuậtcanh tác lạc hậu Nhờ công tác chuyển giao kỹ thuật cácgiống đậu tương mới cao sản tại nhiều địa bàn đã được chútrọng, diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương Việt Nam

đã tăng nhanh và có dấu hiệu chững lại

Tình hình tiêu thụ đậu tương của Việt Nam nằm trongnhóm các quốc gia tiêu thụ đậu tương lớn của thế giới Sảnphẩm hạt đậu tương phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoàinhằm phục vụ cho công nghiệp chế biến thực phẩm và thức

ăn chăn nuôi của các tập đoàn đa quốc gia Bình quân trong

3 năm gần đây, mỗi năm nước ta nhập hơn 1,1 triệu tấn(năm 2011) đến hơn 1,4 triệu tấn (năm 2012) với tổng kimngạch nhập khẩu dao động từ 600 triệu USD đến gần 859triệu USD

Nhìn chung, diện tích đậu tương Việt Nam không ổn định,sản xuất đậu tương nội địa mới chỉ đủ cung cấp cho khoảng

Trang 28

8–10 % nhu cầu, đến năm 2017, diện tích trồng đậu tươngtrên cả nước đạt khoảng 100 ngàn ha, năng suất khoảng1,57 tấn/ha, sản lượng đạt 157 ngàn tấn Dự kiến năm 2018diện tích đậu tương cả nước đạt 105 ngàn ha, năng suấttrung bình 1,6 tấn/ha, sản lượng đạt 168 ngàn tấn.

Trang 29

Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương Việt Nam từ 2010 –

2019

Chỉ

tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018

Sơ bộ 201 9 Diện

2019 giảm xuống gần 4 lần còn 49,7 ngàn ha

Năng suất đậu tương bình quân của Việt Nam thuộcnhóm thấp nhất thế giới, trong 9 năm qua năng suất đậutương có tăng nhưng không đáng kể.Năm 2010 năng suấtđạt 1,51 tấn/ ha Năm 2016 năng suất đậu tương đạt mứccao nhất 1,61 tấn/ha Năng suất từ 2010 - 2019 tăng 0,02tấn/ha

Sản lượng cây đậu tương giảm theo từng năm Từ năm

2010 -2016 tăng giảm không đồng đều, năm 2019 sản lượng

Trang 30

đậu tương 76 ngàn tấn, giảm xuống hơn một nửa so với năm

2016 là giảm 84,5 ngàn tấn

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm sút trên có thểdo: Điều kiện sinh thái nhiều vùng thay đổi không phù hợpvới yêu cầu chung của cây đậu tương Do các hạn chế về kỹthuật, thiếu bộ giống tốt có khả năng thích ứng rộng và phùhợp với từng vùng trồng, phòng trừ sâu bệnh kém, trình độthâm canh thấp, giá thành của đậu tương chưa được cao nênngười dân không sản xuất

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Do điều kiện thời tiết khắc nghiệt: thiên tai, lũ lụt, hạn hán,… diễn rathường xuyên trên địa bàn Thừa Thiên Huế Vì vậy diện tích cũng như sảnlượng các loại cây trồng cũng giảm đi đáng kể qua các năm

Bảng 2.6 Diện tích, sản lượng đậu các loại phân theo huyện/quận/xã/thành

phố thuộc tỉnh của Thừa Thiên Huế

443 369 301 301 293 276 206

Thị xã Hương Thuỷ

153 120 137 137 112 103 92Huyện Phú Lộc 216 244 197 197 190 178 118

Trang 31

Huyện Nam Đông

(Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế, 2018) [30]

Đậu tương là loài cây công nghiệp ngắn ngày cho năng suất và giá trịkinh tế cao nên được ưa chuộng trồng nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Thừa ThiênHuế, nhưng những năm gần đây diện tích trồng giảm đi nhiều, thay vào đó

Trang 32

người dân đã phát triển trồng các loại cây khác đem lại giá trị kinh tế caohơn, dễ trồng hơn và đặc biệt là phù hợp với tình hình thời tiết diễn ra Quabảng 2.1 có thể thấy diện tích và sản lượng đậu các loại đều giảm xuống quacác năm.

2.3 Các kết quả nghiên cứu về phân hữu cơ cho đậu tương trên thế giới

Từ đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm ứng dụng

và mở rộng sản xuất các loại phân bón vi sinh cố định nitơ

mà thành phần còn được phối thêm một số vi sinh vật có íchkhác như các vi khuẩn, xạ khuẩn cố định nitơ sống tự do, các

xạ khuẩn có khả năng phân giải cellulose, một số chủng visinh vật có khả năng chuyển hóa phospho và kali ở dạng khóhòa tan thành dạng dễ hòa tan cho cây trồng dễ sử dụng Năm 1970, ở Nam Phi người ta đã sản xuất phân hữu cơlân tự nhiên nghiền mịn và amonium cacbonat Theo Lê VănTri , Trung Quốc được xem là nước có truyền thống sử dụngphân hữu cơ lâu đời nhất với các nguồn phân chủ yếu làphân chuồng, rơm rạ, phân xanh, khô dầu tương, tương

Trang 33

đương 9,8 triệu tấn NPK nguyên chất/năm Năm 1980, GS.TSTeruo Higa - Đại học Ryu Kyus – Okinawa – Nhật Bản đã phátminh ra chế phẩm EM (Effective Microorganisms) Chế phẩmnày có chứa khoảng 80 loài vi sinh vật có nguồn gốc tựnhiên: Vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, (Trần ThịThanh, 2001) Chế phẩm này được ứng dụng rộng rãi ở nhiềuquốc gia trên thế giới và thu được những kết quả đáng kể,đặc biệt những nước thuộc Châu Á

Năm 1982, ở Mỹ đã sản xuất được khoảng 100 triệutấn/năm từ bùn cống, mùn cưa, vôi và đá phosphate, ở ĐàiLoan thì phân hữu cơ bắt đầu sản xuất từ năm 1986 từ thanbùn, mùn cưa và lân tự nhiên Trong những năm qua, BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có nhiều hướng dẫngiúp bà con nông dân tại các địa phương sử dụng WEHG như

là một biện pháp kỹ thuật mới sử dụng trong sản xuất nôngnghiệp, được Cục trồng trọt hướng dẫn sử dụng như một biệnpháp sản xuất an toàn theo hướng VietGAP trên các sảnphẩm như rau, quả, chè để hạn chế hàm lượng nitrat và dưlượng thuốc bảo vệ thực vật trong các loại sản phẩm trênnhằm tạo ra những sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm

và vệ sinh môi trường

Sở nghiên cứu khoa học Đông Bắc Trung Quốc năm 1955

đã cho sản xuất phân vi sinh vật chuyển hóa phospho bóncho lúa nước, lúa mì, khoai tây, đậu tương, lạc kết quả thuđược đều cho năng suất cao hơn

Theo nghiên cứu của Myint C.C, đã cho thấy: Nếu chỉ bónđơn độc EM (Effective Microorganisms) cho ruộng lúa thìnăng suất tăng từ 2 - 11% nhưng nếu bón kết hợp EM(Effective Microorganisms) với các chất hữu cơ thì năng suấtlúa tăng từ 17,0 - 41,5%

Trang 34

Tại Trung Quốc, khi nghiên cứu ảnh hưởng của EM(Effective Microorganisms) trên đậu tương các tác giả LiZhengao, Wo Shengchun và Yn Shen cũng đã đưa ra kết luậnrằng: EM (Effective Microorganisms) có ảnh hưởng rõ rệt đến

sự sinh trưởng phát triển, năng suất của đậu tương; việc bónkết hợp EM (Effective Microorganisms) với các chất hữu cơ đãcho năng suất đậu tương tăng từ 13,7% so với chỉ bón phânhóa học

Như vậy, việc sản xuất phân vi sinh đã rất phổ biến ngay

từ đầu thế kỉ XX, nhưng việc nghiên cứu và sản xuất phânhữu cơ sinh học bằng cách phối trộn phân hữu cơ và phân visinh mới chỉ manh nha vào cuối thế kỉ XX (Võ Minh Kha,2003) [16]

2.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về phân hữu cơ cho đậu tương ở Việt Nam

Năm 2011, phân sinh học WEHG (Worldwise EnterpriseHaeven’s Green) đã được Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT côngnhận là tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa theo VietGAP.Phân hữu cơ sinh học là một sản phẩm sinh học Sự ra đờicủa nó xuất phát từ việc phát minh và ứng dụng phân vi sinhvật trong sản xuất nông nghiệp Nhiều sản phẩm được tạo ra

từ các quy trình nêu trên đã được thử khảo nghiệm trên diệnrộng và được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận và chođăng ký trong danh mục các loại phân bón được phép sửdụng tại Việt Nam như: Phân Lân hữu cơ vi sinh Sông Gianh,Phân VSV cố định nitơ cho cây họ đậu, Phân lân hữu cơ visinh KOMIX, Phân bón sinh tổng hợp BIOMIX, Phân lân vi sinhHUMIX, Phân vi sinh Phytohoocmon, HUDAVIL, Tùy theocông nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật thể chứa sinh khối

từ 1 chủng hay nhiều chủng vi sinh vật đã tuyển chọn sản

Trang 35

phẩm có thế được sản xuất ở dạng bột hoặc lỏng (NguyễnHữu Tề, 1994) [9]

Theo tác giả Võ Minh Khai (1998) [15], khi nghiên cứu tạiViệt Nam cho thấy trên đất đồi chua, hàm lượng sắt nhômcao phân bón và lân đạm có tác dụng nâng cao năng suấtđậu tương rõ rệt Theo tác giả trên đất tương đối nhiều dinhdưỡng, bón đạm cũng làm tăng năng suất 40-50% Bón đạm

có tầm quan trọng để có năng suất tối đa nhưng bón nhiều

có thể gây dư thừa NO3 trong đất và cây, ảnh hưởng đến sứckhoẻ con người nên cần có những nghiên cứu để đưa ra cáckhuyến cáo bền vững

Tác giả Luân Thị Đẹp và cs (1999) [14] khi nghiên cứu vềảnh hưởng của liều lượng phân chuồng và thời kỳ bón đạmđến khả năng cố định đạm và năng suất đậu tương tại TháiNguyên cho thấy: Bón đạm cho giai đoạn 4-5 lá kép với lượng

từ 20-50 kg N/ha sẽ làm tăng sự phát triển của rễ cũng nhưlàm tăng lượng nốt sần Bón lân làm tăng khả năng hìnhthành nốt sần cây đậu tương Hiệu lực của lân tuỳ thuộc vàogiống, thời tiết và giai đoạn phát triển của cây Đất chuathường thiếu lân do hàm lượng Fe, Al, Mn cao Vùng nhiệt đớithường sản xuất đậu tương trên đất dốc, đất chua và khôhạn Trên các loại đất này, hàm lượng độc tố và nhôm do đấtchua là các yếu tố hạn chế cơ bản của cây trồng

Theo tác giả Ngô Thế Dân và cs (1999), ở đất nghèo kali,đất cát đậu tương phản ứng rõ rệt với phân kali, nhưng đốivới các vùng trồng đậu tương tại đồng bằng sông Hồng vàsông Cửu Long do đất tương đối giàu kali nên hiệu quả phânbón vùng này thấp [6]

Trang 36

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Vật liệu nghiên cứu

* Phân bón:

- Phân chuồng: phân bò được ủ hoai mục do người dân tự sản xuất theophương pháp truyền thống

- Phân hoá học gồm:

+ Phân đạm: đạm ure có hàm lượng N là 46%

+ Phân lân: supe lân có hàm lượng P2O5 là 16%

+ Phân kali: kaliclorua có hàm lượng K2O là 60%

* Đất thí nghiệm:

Nghiên cứu được tiến hành trên đất phù sa cổ tại vườn thực nghiệm khoaNông học Trường Đại Học Nông Lâm, Đại Học Huế

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Nông họcTrường Đại Học Nông Lâm, Đại Học Huế

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong vụXuân năm 2021 (từ 01/2021 đến 05/2021)

Trang 37

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng hữu cơ đến khả năng sinh trưởng vàphát triển

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng hữu cơ đến khả năng chống chịu sâubệnh hại

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng hữu cơ đến các yếu tố cấu thànhnăng suất và năng suất

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến hiệu quả kinh tế

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm:

- Thí nghiệm gồm 5 mức phân hữu cơ (0 (đối chứng), 3, 6, 9 và 12 tấn/ha)trên nền đất 30kg N + 60kg P2O5 + 30kg K2O, 300kg vôi bột/ha được bố trítheo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), số lần nhắc lại 3

- Diện tích 1 ô thí nghiệm là 5m2 (2m x 2,5m) Tổng diện tích các ô thínghiệm 75m2, diện tích bảo vệ 25m2 Tổng diện tích thí nghiệm là 100m2

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Bảo vệ

Bảo vệVI.c V.c II.c III.c I.c

II.b I.b V.b IV.b III.b

V.a III.a I.a II.a VI.a

Bảo vệ

Trong đó: I, II, III, IV, V là ký hiệu các công thức tương ứng với các mức

phân hữu cơ 0, 3, 6, 9, 12 tấn/ha

Trang 38

a, b, c, là ký hiệu tương ứng với các lần nhắc lại của các côngthức

3.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nghiên cứu

Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi theo quy chuẩn quốc gia QCVN 58: 2011/BNNPTNT về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giốngđậu tương [1] Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:

01-a Chỉ tiêu về thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng phát triển:

- Thời gian mọc mầm: từ khi gieo đến khi có 50% số cây/ô mọc 2 lá mầm,quan sát trên ô thí nghiệm

- Ngày ra hoa: Khoảng 50% cây/ô có ít nhất 1 hoa nở Quan sát tất cả cáccây trên ô thí nghiệm

- Thời gian ra hoa: tính từ khi bắt đầu ra hoa đến khi kết thúc ra hoa

- Thời gian sinh trưởng: tính từ khi gieo đến khi chín hoàn toàn (quả và hạtchín, khoảng 90% số quả/ô có vỏ quả chuyển màu nâu hoặc đen)

b Chỉ tiêu về sinh trưởng và đặc trưng hình thái:

- Chiều cao thân chính: Đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thânchính của 10 cây mẫu/ô bắt đầu đo và ghi chép khi cây có khoảng 50% sốcây/ô có 3 lá mầm, quan sát trên ô thí nghiệm

- Số lá/thân chính: Đếm số lá trên thân chính của 10 cây mẫu/ô bắt đầu ghichép khi cây có khoảng 50% số cây/ô có 3 lá mầm

- Số cành cấp 1/cây: Đếm số cành mọc từ thân chính của 10 cây mẫu/ô từkhi cây bắt đầu phân cành

c Chỉ tiêu về sâu bệnh hại:

- Chỉ tiêu về sâu hại: Điều tra mức độ sâu hại chính

- Sâu cuốn lá (%): Tỷ lệ lá bị hại = Số lá bị cuốn/tổng số lá điều tra Điều tra

ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc giai đoạn trướcthu hoạch

Trang 39

- Sâu đục quả (%): Tỷ lệ quả bị hại = Số quả bị hại/tổng số quả điều tra.Điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc giai đoạntrước thu hoạch.

+ Sâu khoang: Tỷ lệ lá bị hại = Số lá bị hại/tổng số lá điều tra Điều tra ítnhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc giai đoạn trước thuhoạch

+ Sâu đục quả: Theo dõi ở các giai đoạn đậu quả tới khi thu hoạch, kết thúctheo dõi trước khi thu hoạch Đánh giá theo thang điểm từ 1-5 như thangđiểm đánh giá cho sâu ăn lá

- Bệnh hại: Điều tra mức độ bệnh hại chính

- Bệnh lở cổ rễ cây con - Fusarium sp (điểm): Tỷ lệ cây bị bệnh = Số cây bịbệnh/tổng số cây điều tra Điều tra toàn bộ các cây trên ô, giai đoạn sau gieo

15 ngày

Điểm 1:Không nhiễm (<5% số cây có vết bệnh)

Điểm 2: Nhiễm nhẹ (6 - 25 % số cây có vết bệnh)

Điểm 3: Nhiễm trung bình (26 -50% số cây có vết bệnh)

Điểm 4: Nhiễm nặng (51 - 75% số cây có vết bệnh)

Điểm 5: Nhiễm rất nặng (>76% số cây có vết bệnh)

+ Bệnh sương đen: Đánh giá khi bị hại bằng cách quan sát tất cả các cây cótriệu chứng bị bệnh trên ô thí nghiệm Đánh giá theo thang điểm từ 1-5.Điểm 1: 0 - 5% số cây bị bệnh

Điểm 2: Từ 5 - 15% số cây bị bệnh

Điểm 3: Từ 15 - 30% số cây bị bệnh

Điểm 4: Từ 30 - 50% số cây bị bệnh

Điểm 5: Trên 50% số cây bị bệnh

d Chỉ tiêu về năng suất:

Trang 40

- Số quả/cây: Đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình 1 cây giaiđoạn thu hoạch.

- Số quả chắc/cây (quả): Đếm tổng số quả chắc trên 10 cây mẫu/ô Tínhtrung bình 1 cây giai đoạn thu hoạch

- Số hạt/quả (hạt): Đếm tổng số hạt trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình 1 câygiai đoạn thu hoạch

- Khối lượng 1000 hạt : Cân 3 mẫu hạt, mỗi mẫu 1000 hạt ở độ ẩm 12%, lấy

1 chữ số sau dấu phẩy

- Năng suất lý thuyết (tấn/ha): thu hoạch quả của 10 cây theo dõi khi câychín hoàn toàn Cân toàn bộ hạt thu hoạch được của 10 cây theo dõi trên các

ô thí nghiệm của 3 lần nhắc để tính năng suất lý thuyết Năng suất lý thuyếtđược tính theo công thức:

Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = [(số cây/m2) × (số quả chắc/cây) × (số hạtchắc/quả) × (P1000 hạt) × (7500m2)]/108

- Năng suất thực thu (tấn/ha): Năng suất thực thu (tạ/ha) = năng suất 1m2 x7500m2 Tính năng suất trên toàn ô (bao gồm thu hoạch lần thứ nhất và cáclần sau), bỏ hạt lép, phơi khô (độ ẩm hạt khoảng 12%), cân khối lượng (gồm

cả hạt của 10 cây mẫu) để tính năng suất trên ô, sau đó qui ra năng suất tạ/hasau thu hoạch

e Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế:

- Lãi ròng = Tổng thu – Tổng chi

+ Tổng thu: Năng suất thực thu x Giá bán sản phẩm (đồng/kg) tại thờiđiểm bán

+ Tổng chi: Giống + Phân bón + Công lao động …

- Hiệu suất phân chuồng: kg đậu tương tăng lên khi đầu tư 1 kg phânchuồng/ha (kg đậu tương/kg phân chuồng)

- Lãi suất đầu tư vào phân chuồng (VCR): Là lãi suất đầu tư một đồng vốnvào phân bón

Ngày đăng: 06/01/2023, 21:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Yêu cầu nhiệt độ của đậu tương trong từng giai đoạn sinh trưởng - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 2.2. Yêu cầu nhiệt độ của đậu tương trong từng giai đoạn sinh trưởng (Trang 18)
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương Việt Nam từ 2010 – - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương Việt Nam từ 2010 – (Trang 29)
Bảng 2.6. Diện tích, sản lượng đậu các loại phân theo huyện/quận/xã/thành - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 2.6. Diện tích, sản lượng đậu các loại phân theo huyện/quận/xã/thành (Trang 30)
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 37)
Bảng 3.2. Thời tiết, khí hậu vụ Xuân năm 2021 tại Thừa Thiên Huế - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 3.2. Thời tiết, khí hậu vụ Xuân năm 2021 tại Thừa Thiên Huế (Trang 42)
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng phát triển của giống đậu tương ĐT12 - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng phát triển của giống đậu tương ĐT12 (Trang 45)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến tốc độ tăng trưởng - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến tốc độ tăng trưởng (Trang 48)
Hình 4.1. Động thái ra lá trên thân chính của giống đậu tương ĐT12 - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Hình 4.1. Động thái ra lá trên thân chính của giống đậu tương ĐT12 (Trang 51)
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến số cành cấp 1 trên - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến số cành cấp 1 trên (Trang 52)
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến tình hình sâu bệnh - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến tình hình sâu bệnh (Trang 55)
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến các yếu tố cấu thành - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến các yếu tố cấu thành (Trang 56)
Bảng 4.7. Hiệu suất phân hữu cơ đối với giống đậu tương ĐT12 - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Bảng 4.7. Hiệu suất phân hữu cơ đối với giống đậu tương ĐT12 (Trang 58)
Hình 4. Hạt nảy mầm Hình 5. Làm cỏ - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Hình 4. Hạt nảy mầm Hình 5. Làm cỏ (Trang 68)
Hình 5. Đo lần 1 (21NST) Hình 6. Đo lần 2 (28 NST) - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Hình 5. Đo lần 1 (21NST) Hình 6. Đo lần 2 (28 NST) (Trang 69)
Hình 7. Làm cỏ, bón thúc, vun gốc  Hình 8. Cây khi có khoảng 4 - 5 lá - “Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu tương đt12 tại thừa thiên huế”
Hình 7. Làm cỏ, bón thúc, vun gốc Hình 8. Cây khi có khoảng 4 - 5 lá (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w