MỤC LỤC Lời mở đầu 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI 2 1. Một số khái niệm 2 2. Các thước đo đánh giá bình đẳng giới. 3 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ẤN ĐỘ 6 1. Giới thiệu về Ấn Độ 6 2. Thực trạng bất bình đẳng giới trong các mặt xã hội 9 3. Nguyên nhân bất bình đẳng giới ở Ấn Độ 19 4. Hệ quả của bất bình đẳng giới gây ra cho kinh tếxã hội 24 CHƯƠNG 3: CÁC NỖ LỰC CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ẤN ĐỘ………… 28 1. Các chính sách của chính phủ 28 2. Các tổ chức quốc tế, phi chính phủ 30 3. Phong trào đòi bình đẳng giới của phụ nữ Ấn Độ 32 4. Đánh giá 33 CHƯƠNG 4: NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ VIỆT NAM 34 KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU 1. Hình Hình 1: Các tầng lớp xã hội Ấn Độ 8 2. Bảng Bảng 1. Tỷ trọng các ngành dịch vụ công nghiệp nông nghiệp Ấn Độ 6 Bảng 2: Chỉ số GDI của Ấn Độ, các nước đang phát triển và trên thế giới năm 2014 10 Bảng 3: Chỉ số GEM của Ấn Độ năm 1996 và 2006 10 Bảng 4: Tỉ lệ biết chữ giữa nam và nữ trên 7 tuổi ở Ấn Độ từ 19812015 11 Bảng 5: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nữ giới và nam giới từ 2000 – 2014 13 3. Biểu đồ Biểu đồ 1: Biểu đồ tỷ lệ nhập học giữa nam và nữ ở Ấn Độ (% ) năm 2011……………...12 Biểu đồ 2. Chênh lệch trong vai trò quản lý của nữ giới so với nam giới Ấn Độ ………...15 Biểu đồ 3: Bất bình đẳng trong thu nhập ở Ấn Độ (2007 2013) ………………………….16 Biểu đồ 4: Tỷ lệ phụ nữ trong hạ viện Lok Sabha, Ấn Độ (19522014)……………………18 1 | N h ó m 1 0 Lời mở đầu Cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái đã có nhiều thay đổi trong ¼ thế kỷ qua. Phụ nữ hiện chiếm hơn 40% lực lượng lao động toàn cầu. Tuy nhiên, ở một số khu vực, tốc độ tiến bộ về bình đẳng giới còn hạn chế. Phụ nữ vẫn có mức thu nhập và năng suất lao động, cũng như có tiếng nói thấp hơn trong xã hội. Sự tồn tại dai dẳng của vấn đề bình đẳng giới là vấn đề nhức nhối cần quan tâm, trong quá trình hoạch định chính sách tăng cường bình đẳng giới cũng như cải thiện các mục tiêu phát triển khác. Phát triển kinh tế là không đủ để xóa bỏ mọi tình trạng bất bình đẳng giới – vì vậy, cần sử dụng hợp lý những chính sách bổ sung khác. Ấn Độ là một trong những quốc gia, mà ở đó hiện tượng bất bỉnh đẳng vẫn đang diễn ra theo chiều hướng tiêu cực; đi ngược lại xu thế của toàn cầu. Bây giờ, nhắc tới Ấn Độ là người nghe không còn nghĩ tới Cung điện Taj Mahal, hay Lãnh tụ Ghandi nữa mà ngay lập tức là những cụm từ hiếp dâm, nữ quyền bị xâm hại. Theo thống kê, tại Ấn Độ, cứ 22 phút lại có một vụ hiếp dâm, tỉ lệ hiếp dâm ở thủ đô New Delhi là cao nhất, bởi vậy, thủ đô này còn có tên gọi khác là thủ đô hiếp dâm. Nạn hãm hiếp phụ nữ tại Ấn Độ thường xuyên xảy ra, kể cả các đối với các du khách Tây phương đến Ấn Độ. Và điều ngạc nhiên đối với thế giới bên ngoài là cảnh sát và chính quyền rất thờ ơ đối với các vụ hãm hiếp. Với những tính chất nghiêm trọng đặc biệt của vấn đề bất bình đẳng giới ở quốc gia này, nhóm 10 quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Bất bình đẳng giới ở Ấn Độ” để hiểu rõ hơn về thực trạng, nguyên nhân và tìm ra hướng đi giải quyết vấn đề này. Nhóm 10 xin được chân thành cảm ơn ThS. Hoàng Bảo Trâm đã hướng dẫn và giúp đỡ nhóm 10 hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do khả năng còn hạn chế nên trong quá trình tìm hiểu không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy nhóm rất mong nhận được sự góp ý của cô cùng các bạn. Nhóm 10 xin chân thành cảm ơn 2 | N h ó m 1 0 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. Một số khái niệm • Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xa hội và những hành vi liên quan đến nam và nữ. Nó được coi là phạm trù xã hội có vai trò quyết định chủ yếu đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong xã hội và nền kinh tế. • Vai trò giới: Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong muốn phụ nữ và nam giới thực hiện. Đó là các hành vi cụ thể, các công việc cụ thể mà xã hội trông chờ ở mỗi người với tư cách là phụ nữ hay nam giới, như vai trò sản xuất, nuôi dưỡng con cái, vai trò sinh sản, vai trò tham gia các công việc của cộng đồng. Vai trò giới liên quan đến những công việc nữ giới và nam giới được mong đợi phải thực hiện và cách thức nữ giới và nam giới đối xử với nhau. • Bình đẳng: là sự bằng nhau. Bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội về một hay một số phương diện xã hội nào đó. Thí dụ: sự nganng bằng nhau về những quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về khả năng, cơ hội, mức độ thỏa mãn những nhu cầu cụ thể nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần,... Bình đẳng xã hội không loại trừ sự khác nhau về giới tính, lứa tuổi, chủng tộc, màu da. Đó là sự khác nhau về mặt sinh học tự nhiên, chứ không phải là sự khác nhau về mặt xã hội. • Bình đẳng giới: là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngang bằng nhau mà bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới trẻ em gái và trẻ em trai phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng các quyền của họ.Và vì thế bình đẳng giới đòi hỏi các chương trình phát triển các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội phải được thiết kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt phù hợp với mức độ ưu tiên 3 | N h ó m 1 0 khác nhau của phụ nữ và nam giới. Nếu làm được việc này thì sự phát triển kinh tế xã hội sẽ dẫn tới sự công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả và mở ra cơ hội như nhau cho phụ nữ và nam giới trong việc phát huy các tiềm năng của cá nhân họ. • Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước. Nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các dạng tồn tại bất bình đẳng giới như: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến dập khuôn và bạo lực trên cơ sở giới tính. Mục tiêu bình đẳng giới nói chung vừa là vấn đề quyền con người vừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng và hiệu quả. Vì vậy, việc nghiên cứu về tình trạng bất bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc hướng tới sự bình đẳng trong xã hội mà còn góp phàn tìm kiếm các biện pháp để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của tăng trưởng kinh tế xã hội. 2. Các thước đo đánh giá bình đẳng giới. 2.1. Chỉ số phát triển giới (Gender related Development Index = GDI) GDI là thước đo sự chênh lệch về các thành tựu đạt được giữa hai giới nam và nữ. Chỉ số GDI được UNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995. GDI= 13 (ITT + IGD + ITN ) Trong đó: ITT là chỉ số phân bổ công bằng về tuổi thọ trung bình. IGD là chỉ số phân bổ công bằng về giáo dục. ITN là chỉ số phân bổ công bằng về thu nhập. Cũng như chỉ số HDI, GDI nhận giá trị từ 0 đến 1, giá trị càng tiến tới 0 thì mức độ chênh lệch giữa 2 giới càng lớn và ngược lại. Về cơ bản GDI vẫn dựa trên những số liệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp của yếu tố giới để qua đó đánh giá trình 4 | N h ó m 1 0 độ phát triển giới của mỗi quốc gia. Sự khác biệt so với HDI là ở chỗ chỉ số GDI điều chỉnh mức độ đạt được của mỗi quốc gia về tuổi thọ, học vấn và thu nhập cùng với mức độ đạt được của nam giới và nữ giới (UNDP, 1995). Do bất bình đẳng giới có mặt ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thường thấp hơn so với HDI. Về mặt đo lường, việc đưa ra chỉ số GDI không yêu cầu sự tính toán phức tạp và cũng không cần đo đạc thêm số liệu mà hoàn toàn dựa trên các kết quả thống kê về HDI nhưng có sự tính toán tách biệt cho hai giới. Chính vì vậy có người đã gọi GDI là một biến thể khác của HDI, có ý nghĩa bổ sung chứ không hề mâu thuẫn với HDI. Chỉ số GDI giảm xuống khi mức độ đạt được của cả nam giới và nữ giới giảm xuống hoặc khi sự chênh lệch về những gì đạt được của nam và nữ tăng lên. Sự chênh lệch về những khả năng cơ bản giữa nam và nữ càng tăng thì chỉ số GDI càng thấp khi so sánh với HDI. Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số phát triển giới (GDI) ngày càng trở nên rõ ràng. Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên Hợp Quốc về mức thang phát triển của mỗi quốc gia khu vực hiện nay đã trở nên phổ biến. Mặc dù hoàn toàn dựa trên cách tính tính toán của HDI nhưng trong một số trường hợp GDI đã thay thế HDI trong các đánh giá phát triển liên quan tới yếu tố giới. 2.2. Chỉ số vai trò giới (Gender Empowerment Measure = GEM) GEM được dùng để đo lường sự đóng góp của phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực hoạt động chính trị và kinh tế. Để tính toán chỉ số vai trò giới cần có 3 nhóm chỉ tiêu sau: • Các chỉ tiêu phản ánh sự tham gia hoạt động kinh tế và quyền thông qua các quyết định quản lý trong lĩnh vực kinh tế. Tỷ lệ % phụ nữ và nam giới giữ các chức vụ hành chính và cán bộ quản. Tỷ lệ % phụ nữ và nam giới chia theo nghề nghiệp và trình độ kỹ thuật. • Chỉ tiêu phản ánh sự tham gia hoạt động chính trị và hoạt động chính sách được thể hiện qua tỷ lệ phụ nữ và nam giới trong quốc hội. 5 | N h ó m 1 0 • Các chỉ tiêu về dân số và lao động Tỷ lệ % dân số nam và nữ. Tỷ lệ nam nữ hoạt động kinh tế. Chỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới xem xét phụ nữ và nam giới có thể tham gia tích cực như thế nào vào đời sống kinh tế chính trị và quá trình ra quyết định. Nếu chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI) tập trung vào việc mở rộng khả năng thì chỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới (GEM) quan tâm tới việc sử dụng những khả năng đó để đem lại lợi ích về các cơ hội của họ trong đời sống xã hội. GEM cố gắng đánh giá xem phụ nữ được trao quyền hay được giải phóng như thế nào để tham gia vào những lĩnh vực khác nhau của đời sống chung trong mối tương quan với nam giới. Nhưng do sự hạn chế về số liệu nên tiếc rằng chỉ số này không đo lường được sự trao quyền ở một số lĩnh vực khác, ví dụ như trong đời sống hộ gia đình, cộng đồng và ở các khu vực nông thôn. Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng: Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào mức thu nhập hoặc giai đoạn phát triển. Thu nhập cao không phải là điểu kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội cho phụ nữ. Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bậc về sự bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống và ở các nước trên thế giới. Vì vậy, bình đẳng giới được coi là vấn đề trung tâm của phát triển, là mục tiêu của phát triển, đồng thời cũng là một yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia và xóa đói giảm nghèo.
Trang 1KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đề tài:
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ẤN ĐỘ
Trang 3Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI 2
1 Một số khái niệm 2
2 Các thước đo đánh giá bình đẳng giới 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ẤN ĐỘ 6
1 Giới thiệu về Ấn Độ 6
2 Thực trạng bất bình đẳng giới trong các mặt xã hội 9
3 Nguyên nhân bất bình đẳng giới ở Ấn Độ 19
4 Hệ quả của bất bình đẳng giới gây ra cho kinh tế-xã hội 24
CHƯƠNG 3: CÁC NỖ LỰC CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở ẤN ĐỘ………… 28
1 Các chính sách của chính phủ 28
2 Các tổ chức quốc tế, phi chính phủ 30
3 Phong trào đòi bình đẳng giới của phụ nữ Ấn Độ 32
4 Đánh giá 33
CHƯƠNG 4: NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ VIỆT NAM 34
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 4Bảng 3: Chỉ số GEM của Ấn Độ năm 1996 và 2006 10
Bảng 4: Tỉ lệ biết chữ giữa nam và nữ trên 7 tuổi ở Ấn Độ từ 1981-2015 11
Bảng 5: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nữ giới và nam giới từ 2000 – 2014 13
3 Biểu đồ
Biểu đồ 1: Biểu đồ tỷ lệ nhập học giữa nam và nữ ở Ấn Độ (% ) năm 2011……… 12
Biểu đồ 2 Chênh lệch trong vai trò quản lý của nữ giới so với nam giới Ấn Độ ……… 15 Biểu đồ 3: Bất bình đẳng trong thu nhập ở Ấn Độ (2007 - 2013) ……….16
Biểu đồ 4: Tỷ lệ phụ nữ trong hạ viện Lok Sabha, Ấn Độ (1952-2014)……… 18
Trang 5L i m đ u ờ ở ầ
Cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái đã có nhiều thay đổi trong ¼ thế kỷ qua Phụ
nữ hiện chiếm hơn 40% lực lượng lao động toàn cầu Tuy nhiên, ở một số khu vực, tốc độtiến bộ về bình đẳng giới còn hạn chế Phụ nữ vẫn có mức thu nhập và năng suất laođộng, cũng như có tiếng nói thấp hơn trong xã hội Sự tồn tại dai dẳng của vấn đề bìnhđẳng giới là vấn đề nhức nhối cần quan tâm, trong quá trình hoạch định chính sách tăngcường bình đẳng giới cũng như cải thiện các mục tiêu phát triển khác Phát triển kinh tế
là không đủ để xóa bỏ mọi tình trạng bất bình đẳng giới – vì vậy, cần sử dụng hợp lýnhững chính sách bổ sung khác
Ấn Độ là một trong những quốc gia, mà ở đó hiện tượng bất bỉnh đẳng vẫn đangdiễn ra theo chiều hướng tiêu cực; đi ngược lại xu thế của toàn cầu Bây giờ, nhắc tới Ấn
Độ là người nghe không còn nghĩ tới Cung điện Taj Mahal, hay Lãnh tụ Ghandi nữa màngay lập tức là những cụm từ "hiếp dâm, nữ quyền bị xâm hại" Theo thống kê, tại Ấn
Độ, cứ 22 phút lại có một vụ hiếp dâm, tỉ lệ hiếp dâm ở thủ đô New Delhi là cao nhất, bởivậy, thủ đô này còn có tên gọi khác là "thủ đô hiếp dâm" Nạn hãm hiếp phụ nữ tại Ấn Độthường xuyên xảy ra, kể cả các đối với các du khách Tây phương đến Ấn Độ Và điềungạc nhiên đối với thế giới bên ngoài là cảnh sát và chính quyền rất thờ ơ đối với các vụhãm hiếp Với những tính chất nghiêm trọng đặc biệt của vấn đề bất bình đẳng giới ở
quốc gia này, nhóm 10 quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Bất bình đẳng giới ở Ấn Độ”
để hiểu rõ hơn về thực trạng, nguyên nhân và tìm ra hướng đi giải quyết vấn đề này
Nhóm 10 xin được chân thành cảm ơn ThS Hoàng Bảo Trâm đã hướng dẫn và giúp đỡ
nhóm 10 hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do khả năng còn hạn chế nên trong quá trình tìmhiểu không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy nhóm rất mong nhận được sự góp ý của
cô cùng các bạn Nhóm 10 xin chân thành cảm ơn!
Trang 6 Bình đẳng: là sự bằng nhau Bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa các cánhân hay nhóm xã hội về một hay một số phương diện xã hội nào đó Thí dụ: sự
nganng bằng nhau về những quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về khả năng,
cơ hội, mức độ thỏa mãn những nhu cầu cụ thể nhất định trong các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hóa, tinh thần, Bình đẳng xã hội không loại trừ sự khác nhau về giớitính, lứa tuổi, chủng tộc, màu da Đó là sự khác nhau về mặt sinh học tự nhiên, chứkhông phải là sự khác nhau về mặt xã hội
Bình đẳng giới: là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện
và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình vàthụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó Bình đẳng giới không có nghĩa
và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngangbằng nhau mà bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới trẻ em gái và trẻ em traiphải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng các quyền của họ.Và vì thế bình đẳnggiới đòi hỏi các chương trình phát triển các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội phảiđược thiết kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt phù hợp với mức độ ưu tiên
Trang 7khác nhau của phụ nữ và nam giới Nếu làm được việc này thì sự phát triển kinh tế xãhội sẽ dẫn tới sự công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả và mở ra cơ hội nhưnhau cho phụ nữ và nam giới trong việc phát huy các tiềm năng của cá nhân họ.
Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơhội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi
từ sự phát triển của gia đình, của đất nước Nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối
xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận cácnguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đờisống xã hội Các dạng tồn tại bất bình đẳng giới như: Gánh nặng công việc, sự phânbiệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến dập khuôn và bạo lựctrên cơ sở giới tính Mục tiêu bình đẳng giới nói chung vừa là vấn đề quyền con ngườivừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng và hiệu quả Vì vậy, việc nghiêncứu về tình trạng bất bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc hướngtới sự bình đẳng trong xã hội mà còn góp phàn tìm kiếm các biện pháp để nâng caohiệu quả và hiệu lực của tăng trưởng kinh tế xã hội
2 Các th ướ c đo đánh giá bình đ ng gi i ẳ ớ
2.1 Ch s phát tri n gi i (Gender- related Development Index = GDI) ỉ ố ể ớ
GDI là thước đo sự chênh lệch về các thành tựu đạt được giữa hai giới nam và nữ.Chỉ số GDI được UNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995
GDI= 1/3 (I TT + I GD + I TN )
Trong đó: ITT là chỉ số phân bổ công bằng về tuổi thọ trung bình
IGD là chỉ số phân bổ công bằng về giáo dục
ITN là chỉ số phân bổ công bằng về thu nhập
Cũng như chỉ số HDI, GDI nhận giá trị từ 0 đến 1, giá trị càng tiến tới 0 thì mức
độ chênh lệch giữa 2 giới càng lớn và ngược lại Về cơ bản GDI vẫn dựa trên những sốliệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp của yếu tố giới để qua đó đánh giá trình
Trang 8độ phát triển giới của mỗi quốc gia Sự khác biệt so với HDI là ở chỗ chỉ số GDI điềuchỉnh mức độ đạt được của mỗi quốc gia về tuổi thọ, học vấn và thu nhập cùng vớimức độ đạt được của nam giới và nữ giới (UNDP, 1995) Do bất bình đẳng giới có mặt
ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thường thấp hơn so với HDI
Về mặt đo lường, việc đưa ra chỉ số GDI không yêu cầu sự tính toán phức tạp vàcũng không cần đo đạc thêm số liệu mà hoàn toàn dựa trên các kết quả thống kê vềHDI nhưng có sự tính toán tách biệt cho hai giới Chính vì vậy có người đã gọi GDI làmột biến thể khác của HDI, có ý nghĩa bổ sung chứ không hề mâu thuẫn với HDI Chỉ
số GDI giảm xuống khi mức độ đạt được của cả nam giới và nữ giới giảm xuống hoặckhi sự chênh lệch về những gì đạt được của nam và nữ tăng lên Sự chênh lệch vềnhững khả năng cơ bản giữa nam và nữ càng tăng thì chỉ số GDI càng thấp khi so sánhvới HDI
Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số phát triển giới (GDI) ngày càngtrở nên rõ ràng Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên Hợp Quốc
về mức thang phát triển của mỗi quốc gia khu vực hiện nay đã trở nên phổ biến Mặc
dù hoàn toàn dựa trên cách tính tính toán của HDI nhưng trong một số trường hợp GDI
đã thay thế HDI trong các đánh giá phát triển liên quan tới yếu tố giới
2.2 Ch s vai trò gi i (Gender Empowerment Measure = GEM) ỉ ố ớ
GEM được dùng để đo lường sự đóng góp của phụ nữ và nam giới trong lĩnh vựchoạt động chính trị và kinh tế Để tính toán chỉ số vai trò giới cần có 3 nhóm chỉ tiêusau:
Các chỉ tiêu phản ánh sự tham gia hoạt động kinh tế và quyền thông qua các quyết định quản lý trong lĩnh vực kinh tế
Tỷ lệ % phụ nữ và nam giới giữ các chức vụ hành chính và cán bộ quản
Tỷ lệ % phụ nữ và nam giới chia theo nghề nghiệp và trình độ kỹ thuật.
Chỉ tiêu phản ánh sự tham gia hoạt động chính trị và hoạt động chính sách được thể hiện qua tỷ lệ phụ nữ và nam giới trong quốc hội
Trang 9 Các chỉ tiêu về dân số và lao động
Tỷ lệ % dân số nam và nữ
Tỷ lệ nam - nữ hoạt động kinh tế.
Chỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới xem xét phụ nữ và nam giới có thểtham gia tích cực như thế nào vào đời sống kinh tế chính trị và quá trình ra quyết định.Nếu chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI) tập trung vào việc mở rộng khả năng thìchỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới (GEM) quan tâm tới việc sử dụng nhữngkhả năng đó để đem lại lợi ích về các cơ hội của họ trong đời sống xã hội GEM cốgắng đánh giá xem phụ nữ được trao quyền hay được giải phóng như thế nào để thamgia vào những lĩnh vực khác nhau của đời sống chung trong mối tương quan với namgiới Nhưng do sự hạn chế về số liệu nên tiếc rằng chỉ số này không đo lường được sựtrao quyền ở một số lĩnh vực khác, ví dụ như trong đời sống hộ gia đình, cộng đồng và
ở các khu vực nông thôn
Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng:
- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào mức thu nhập hoặc giai đoạn phát triển
- Thu nhập cao không phải là điểu kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội cho phụnữ
- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bậc về sự bình đẳnggiới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống và ở các nướctrên thế giới
Vì vậy, bình đẳng giới được coi là vấn đề trung tâm của phát triển, là mục tiêucủa phát triển, đồng thời cũng là một yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng củaquốc gia và xóa đói giảm nghèo
Trang 10CH ƯƠ NG 2: TH C TR NG, NGUYÊN NHÂN VÀ H U QU C A B T BÌNH Đ NG Ự Ạ Ậ Ả Ủ Ấ Ẳ
vụ Dù 2/3 lực lượng lao động Ấn Độ vẫn trực tiếp hay gián tiếp sống bằng nghề nôngnhưng dịch vụ là một lĩnh vực đang tăng trưởng và hiện đang đóng góp vai trò ngàycàng quan trọng trong nền kinh tế Ấn Độ Kể từ khi bắt đầu cải cách kinh tế vào năm
1991, thay vì đi theo mô hình cổ điển ở châu Á là tập trung lao động phục vụ xuấtkhẩu, sản xuất hàng hóa gia công rẻ mạt cho phương Tây, nước này đã hướng đến thịtrường nội địa hơn là thị trường xuất khẩu, đến tiêu thụ nội địa hơn là thu hút đầu tưnước ngoài, đến dịch vụ hơn là công nghiệp, đến kỹ thuật cao hơn là gia công với taynghề thấp
Cơ cấu kinh tế của Ấn Độ tương tự một số nước phát triển Nếu như năm 1980, tỷtrọng của các ngành dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp trong GDP lần lượt là: 36,6%,24,5% và 38,9% thì tới năm 2014, các tỷ trọng tương ứng là: 51%, 32% và 17%.( nguồn Vietstock.vn)
Bảng 1 Tỷ trọng các ngành dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Ấn Độ năm 1908
Trang 11Mô hình tăng trưởng trên đây đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ của Ấn Độtrong thời gian qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 7% trong suốt haithập kỷ GDP của Ấn Độ năm 2014 đã đạt trên 2.000 tỷ (nếu tính theo cân bằng sứcmua là 8.000 tỷ USD).
Tuy nhiên, đất nước đông dân thứ hai thế giới đang đứng trước một số tháchthức Nền kinh tế không thể tăng tốc bứt phá, thậm chí có biểu hiện chậm lại do khôngkhai thác được các thế mạnh của mình Năm 2012, tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ chỉđạt 6,6% và năm 2013 chỉ còn 5,1%
Các nhà lãnh đạo mới của Ấn Độ bắt đầu nhận thấy cần phải chú trọng pháttriển ngành gia công chế tạo Từ khi lên cầm quyền tháng 4/2015, Thủ tướng Ấn ĐộNarendra Modi đã phát động nhiều chiến dịch như “Made in India” (Sản xuất tại ẤnĐộ), “Skill India” (Kỹ năng Ấn Độ), “Digital India” (Số hóa Ấn Độ)… nhằm thu hútđầu tư nước ngoài vào ngành chế tạo, và khai thác nguồn nhân lực dồi dào trong nước.Chính phủ đề ra mục tiêu tăng hơn nữa tỷ trọng của ngành chế tạo và tạo ra 100 triệuviệc làm mới vào năm 2022
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tăng trưởng GDP của Ấn Độ năm tàikhóa 2015 - 2016 sẽ ở mức 7,4% Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD) vừa mới hạthấp dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới xuống còn 3% trong năm 2015, nhưng vẫn dựbáo kinh tế Ấn Độ tăng trưởng ở mức 7,2% với nhận định quốc gia này “sẽ là nền kinh
tế lớn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong vòng hai năm tới”
1.2 Đ c đi m văn hóa xã h i ặ ể ộ
Văn hoá: Ấn Độ là một đất nước có nền văn hoá lâu đời Lịch sử văn hóa Ấn
Độ kéo dài hơn 4.500 năm Trong thời kỳ Vệ Đà (1700 – 500 TCN), các nền tảng củatriết học, thần thoại, văn học Ấn Độ giáo được hình thành Ngoài ra còn có sự hìnhthành của nhiều đức tin và chúng vẫn tồn tại cho đến ngày nay, ví dụ như Dharma,Karma, Yoga và Moksha Ấn Độ có sự đa dạng về mặt tôn giáo, trong đó có Ấn Độgiáo, Sikh giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, và Jaina giáo Ấn Độ giáo là tôn giáo chiếm ưu
Trang 12thế, được định hình thông qua nhiều trường phái mang tính lịch sử về tư tưởng Ấn Độcòn là miền đất của hội chợ và những lễ hội truyền thống, ít nhất ngày nào trong nămcũng đều có hội chợ Hội chợ và lễ hội đã làm phong phú thêm cho sắc màu đời sống
xã hội của người dân Ấn Độ Một số hội chợ và lễ hội quan trọng: Hội chợ Pushkar ởRajasthan, Hội chợ hàng thủ công Mela ở Surajkund, v.v
• Xã hội: Xã hội truyền thống Ấn
Độ được xác định theo đẳng cấp xãhội, hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ làhiện thân của nhiều xếp tầng xã hội
Xã hội Ấn được chia thành 4 giai cấp:giai cấp cao nhất là “Brahmins” gồmcác tư tế, người trí thức, các nhà chútruyền đạo; giai cấp thứ hai là
“Kshatriyas” gồm các nhà lãnh đạoquân sự, các chiến sĩ tức giới thượnglưu quân sự; giai cấp thứ ba là
Hình 1: Các tầng lớp xã hội Ấn Độ “Vaishyas” gồm các thương gia, các
nông dân và các người chăn nuôi súcvật; giai cấp thứ tư là “Kshudras” gồm những người làm thủ công nghệ, đầy tớ và côngnhân thợ thuyền Thấp nhất trong bậc thang xã hội là các người “ngoài giai cấp”thường được gọi là những người “paria” hay “không thể đụng tới”, vì các công việc ô
uế và hèn hạ họ làm như thu dọn vệ sinh, chùi rửa cầu tiêu và chôn người chết, haynhững người đã vi phạm các luật lệ và mất các quyền xã hội và tôn giáo như thànhphần của các giai cấp khác Ngày nay những người “paria” này thích tự định nghĩa họ
là “dalit” – “những người bị áp bức”
Trang 13Tuy trên lý thuyết việc phân chia giai cấp đã chính thức được hủy bỏ, nhưngtrên thực tế, trong tiềm thức và cung cách hành xử của người dân Ấn, việc phân chia và
kỳ thị giai cấp vẫn tiếp tục hiện diện và đè nặng trên cuộc sống của các giai cấp thấpkém hơn
Phân biệt giới tính vẫn còn là một vấn nạn ở Ấn Độ Theo truyền thống Ấn Độ,
nữ giới thường bị coi là thấp kém hơn nam giới Với nền kinh tế chủ yếu dựa vào nôngnghiệp, đàn ông thường được cho là người lao động tốt hơn
Tại Ấn Độ, những phụ nữ đã lập gia đình phải đối mặt với sức ép cực kỳ to lớn
là sinh con trai để nối dõi tông đường, làm trụ cột trong gia đình cũng như chăm sóccha mẹ già Người con trai là một tài sản quý của gia đình Trong hôn nhân, ngoài sốcủa hồi môn mà nhà cô dâu mang tới, con trai là chủ gia đình và duy trì danh tiếng củadòng họ Con trai cũng được thừa kế gia sản và được coi là người phụng dưỡng cha mẹkhi về già Quan niệm trọng nam khinh nữ, trao đặc quyền nối dõi huyết thống và kếthừa gia sản cho con trai vẫn ăn sâu bám rễ trong xã hội Ấn Độ
cụ thể chỉ số HDI tính cho nữ giới là 0,525 thấp hơn so với nam giới là 0,66 Trong đó,chênh lệch về tuổi thọ trung bình và số năm đi học ước tính giữa nam và nữ là khôngđáng kể, tuy nhiên sự chênh lệch về số năm đi học trung bình và thu nhập bình quân làrất lớn Cụ thể, năm 2014, số năm học trung bình ở nữ giới chỉ là 3,6 năm, bằng ½ sovới nam giới là 7,2 năm, khoảng cách về thu nhập trung bình giữa 2 giới tại Ấn Độ cònlớn hơn với 2.116 USD/năm ở nữ giới và 8,656 USD ở nam giới
Trang 14Bảng 2: Chỉ số GDI của Ấn Độ, các nước đang phát triển và trên thế giới năm 2014
India Developing countries World
income per capita
(2011 PPP $)
Nguồn: UNDP
Về chỉ số vai trò giới, năm 2006 chỉ số GEM của Ấn Độ là 0,497 Chỉ số phân
bổ đồng đều về đại biểu quốc hội là 0,625, về tham gia kinh tế là 0,546 và về nắm giữcác nguồn lực kinh tế là 0,319 Như vậy, mức độ trao quyền cho phụ nữ trong đời sốngchính trị, kinh tế và xã hội còn khá thấp, phụ nữ vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi
Bảng 3: Chỉ số GEM của Ấn Độ năm 1996 và 2006
Nguồn: Báo cáo Phát triển con người năm 2009, UNDP
Những con số này chứng minh rằng vấn đề bất bình đẳng giới ở Ấn Độ khôngchỉ diễn ra trên một khía cạnh mà toàn bộ các phương diện của xã hội, đặc biệt tronggiáo dục, lao động và chính trị
Trang 152.1 B t bình đ ng trong giáo d c ấ ẳ ụ
Giảm thiểu tối đa khoảng cách giới tính trong giáo dục là một trong những nhân
tố mang tính chất quyết định trên con đường đạt đến bình đẳng giới, nhằm nâng cao vịthế và quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ Nhận thức được tầm quan trọngcủa vấn đề này, xóa bỏ bất bình đẳng trong giáo dục là một trong tám mục tiêu pháttriển thiên niên kỉ do UNDP đưa ra
Mặc dù chính phủ Ấn Độ đã thể hiện sự quyết tâm trong việc giải quyết vấn đềbất bình đẳng giới tính trong giáo dục, khoảng cách giới tính trong trường học vẫnchưa được cải thiện một cách rõ rệt, đặc biệt là ở vùng nông thôn Hiện nay, Ấn Độ làmột trong những nước châu Á có tỉ lệ biết chữ thấp nhất, chỉ 2/3 trẻ em gái và 3/4 trẻ
em trai từ 6-17 tuổi được đến trường Sự phân biệt giới tính trong giáo dục ở Ấn Độ có
sự khác nhau theo vùng miền, độ tuổi và kinh tế của gia đình
Bảng 4: Tỉ lệ biết chữ giữa nam và nữ trên 7 tuổi ở Ấn Độ từ 1981-2015
Nguồn: Census of India
Tỉ lệ biết chữ là một chỉ số cơ bản phản ánh mức độ giáo dục của một quốc gia.
Theo số liệu trên, khoảng cách tỉ lệ biết chữ ở nam và nữ trên 7 tuổi ở Ấn Độ ngàycàng giảm dần Năm 1981 tỉ lệ đàn ông biết chữ gần gấp đôi phụ nữ (nam: 56.4%, nữ:29.8%) thì đến năm 2015 khoảng cách này chỉ còn 16.7% Tuy nhiên khoảng cách nàyvẫn cao so với nức trung bình trên thế giới những giai đoạn gần đây vào khoảng 10%(theo World Economic Forum)
Trang 16Theo một nghiên cứu về giáo dục được thực hiện bởi Văn phòng điều tra Quốcgia Ấn Độ vào thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2014, tỷ lệ biết chữ trong độ tuổitrên 7 tuổi cả nước là 75% Tại các khu vực nông thôn, đó là 71% so với 86% ở khuvực thành thị.
Biểu đồ 1: Biểu đồ tỷ lệ nhập học giữa nam và nữ ở Ấn Độ (% ) năm 2011
Tỉ lệ đăng kí học cấp 2 và cấp 3 của bé trai luôn cao hơn tỉ lệ nhập học của bé
gái, dao động từ 6% đến 10% bất kể ở tầng lớp/bộ lạc thuộc chính sách hay khôngthuộc chính sách Năm 2011, ở tầng lớp thuộc chính sách có 54.52% bé trai đăng kíhọc trong khi chỉ 48.86% bé gái Ở tầng lớp không thuộc chính sách, chênh lệch tỉ lệnày của nam và nữ ít hơn (chỉ 6.32%) Xét trung bình cả 2 loại tầng lớp/ bộ lạc thì tỉ lệđăng kí học cấp 2 và cấp 3 của bé trai và bé gái lần lượt là 52.39% và 45.86%
Chênh lệch trình độ giáo dục giữa nam và nữ của Ấn Độ còn có thể dễ dàng nhận
ra qua thống kê học vị Theo http://www.dnaindia.com, với trình độ tốt nghiệp THPTthì tại các khu vực nông thôn, năm 2015 gần 4.5% nam giới và 2.2% nữ giới hoànthành trình độ học vấn tốt nghiệp, trong khi ở các khu đô thị 17% nam giới và 13% nữgiới hoàn thành cấp học này Ở những trình độ càng cao, khoảng cách này càng rõ rệt.Đặc biệt ở trình độ hậu tiến sĩ (Post Doctoral) thì tỉ lệ số nam hơn số nữ đạt học vị nàylên tới 180.6%
Trang 172.2 B t bình đ ng trong l c l ấ ẳ ự ượ ng lao đ ng ộ
Bên cạnh giáo dục, việc làm cũng là một trong những nhân tố mang lại quyềnlợi và tiếng nói cho phụ nữ ở Ấn Độ Có một công việc ổn định sẽ giúp người phụ nữ
Ấn Độ có được sự tự chủ về kinh tế, vị thế trong xã hội Tuy nhiên, thực trạng hiện naychỉ ra rằng phụ nữ Ấn Độ đang phải đối mặt với sự bất bình đẳng trong lực lượng laođộng trên nhiều phương diện
Tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ Ấn Độ rất thấp Phụ nữ
chiếm gần 1/2 dân số Ấn Độ, nhưng chỉ 1/3 trong số đó tham gia vào lực lượng laođộng và chỉ đóng góp 17% vào tổng sản phẩm quốc nội (theo Báo cáo nghiên cứuMGI), thấp hơn nhiều so với tỷ lệ đóng góp trung bình vào GDP của phụ nữ trên thếgiới là 37% Theo số liệu từ World Bank, tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động ở nữgiới Ấn Độ rất thấp so với nam giới, năm 2014, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nữgiới là 27%, trong khi nam giới là 79.9% Xét theo khu vực thành thị và nông thôn,trong tổng số nữ giới đang trong độ tuổi lao động, chỉ có 21% nữ giới tham gia vào lựclượng lao động ở khu vực thành thị và 36% ở nông thôn, nếu so với 76% ở thành thị và81% ở nông thôn của nam giới, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nữ giới chỉ chiếm1/3 Ngoài ra, tỷ lệ tham gia lao động ở nữ giới của đất nước này đang có xu hướnggiảm, từ 36.9% năm 2005 xuống còn 27% năm 2014
Bảng 5: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nữ giới và nam giới từ 2000 – 2014
Trang 18Xét theo cơ cấu ngành, lao động nữ ở Ấn Độ thường làm việc ở những ngành cónăng suất thấp và không có trợ cấp xã hội 75% lao động nữ làm việc ở khu vực nôngnghiệp, chủ yếu thuộc khu vực năng suất hạn chế và trả lương thấp Chỉ có một lượngnhỏ phụ nữ được làm việc trong khu vực kinh tế hiện đại, được trả lương cao và đượchưởng các khoản trợ cấp lao động như lương hưu, nghỉ thai sản Chỉ 0,08% phụ nữ Ấn
Độ làm việc ở những ngành nghề yêu cầu kĩ thuật, với năng suất lao động tối đa vàmức lương cao, đối với nam giới thì tỉ lệ này cao gấp 4 lần Ở những ngành nghề liênquan đến vận tải thông tin và cũng là khu vực được trả lương cao, chỉ có 0,43% lựclượng lao động nữ được làm việc trong khu vực này, trong khi đó với nam giới là hơn6% Những công việc cộng đồng ở Ấn Độ đảm bảo được mức lương ổn định và đemlại công ích cho xã hội, tuy nhiên cũng chỉ 16% việc làm trong khu vực này là thuộc về
nữ giới Chỉ có 11% nữ giới so với 19% nam giới có những công việc thông thường.Hầu hết phụ nữ đều làm các công việc trong khu vực không chính thức
Cơ hội tìm kiếm việc làm của phụ nữ Ấn Độ cũng khá thấp so với nam giới Tỉ
lệ thất nghiệp của cả nam giới và nữ giới ở vùng nông thôn là 2%, tuy nhiên ở vùngthành phố, tỉ lệ này có sự chênh lệch lớn, tương ứng là 7% nữ giới so với 4% đối vớinam giới Những nghiên cứu về tình trạng lao động ở Ấn Độ chỉ ra rằng, phụ nữ Ấn Độthường bị bó buộc nhiều bởi hôn nhân, chăm sóc gia đình và con cái nên tỉ lệ phụ nữ cóviệc làm ở đất nước này bị hạn chế rất nhiều Khảo sát cho thấy, phụ nữ độc thân, lyhôn hoặc góa phụ sẽ có cơ hội nhiều hơn để tham gia vào lực lượng lao động Còn vớiđàn ông, không có nhiều sự khác biệt về khả năng có việc làm Ở vùng nông thôn, đa
số việc làm đều liên quan đến nông nghiệp, những công việc không đòi hỏi trình độhọc vấn hay kĩ thuật cao, cho nên người phụ nữ có nhiều cơ hội có việc làm hơn.Ngược lại, ở vùng thành thị, do định kiến xã hội và sự bất bình đẳng, người phụ nữluôn bị đánh giá thấp và không được ưu tiên tham gia vào lực lượng lao động tại cácngành nghề yêu cầu trình độ cao Theo NHFS-3 tỉ lệ phụ nữ có việc làm tại bất cứ thờiđiểm nào trong vòng 12 tháng biến động từ 23% ở Delhi, 25% ở Punjab, 28% ở
Trang 19Haryana cho đến 64% tại Manipur, 69% tại Chhattisgarh, và cao nhất là 73% tạiArunachal Pradesh.
Vai trò của phụ nữ tại nơi làm việc cũng không được đề cao, phụ nữ ít được
tham gia vào những vị trí quản lý cấp cao và có quyền ra quyết định: chỉ có 7.7% cổphần công ty được nắm giữ bởi nữ giới, 54% tổng số công ty không có phụ nữ nằmtrong hội đồng quản trị Số lượng nữ giới ở vị trí từ cấp quản lý trở lên thấp hơn 1/3 sốlượng nam giới
Biểu đồ 2 Chênh lệch trong vai trò quản lý của nữ giới so với nam giới Ấn Độ
Trang 20Phụ nữ ở Ấn Độ không chỉ chịu thiệt
thòi ở những công việc có thu nhập thấp, mà
còn cả ở những công việc không có thu nhập
Phụ nữ Ấn Độ tham gia các công việc không
được trả lương gấp 10 lần nam giới, trong đó
¾ công việc không có thu nhập là việc nhà
(như nấu ăn, dọn dẹp) và chăm sóc (như
chăm sóc trẻ em, người ốm và người già) tại
gia đình Thời gian dành cho các công việc
này của phụ nữ gấp 3 lần so với đàn ông Dù
đóng vai trò quan trọng đối với phát triển con người nhưng công việc chăm sóc thườngkhông được thừa nhận Một phần là bởi công việc này không có thu nhập nên khôngđược phản ánh trong các chỉ số kinh tế như GDP Nếu các công việc này được định giánhư các công việc khác, nó có thể đóng góp 39% GDP ở Ấn Độ (theo Báo cáo pháttriển con người năm 2015) Do phải đảm nhiệm phần lớn công việc chăm sóc, phụ nữ
có ít thời gian tham gia các hoạt động khác hơn nam giới, trong đó bao gồm việc làm
có thu nhập và giáo dục Khi phụ nữ không còn sự lựa chọn nào khác và phải ưu tiênđảm nhận công việc chăm sóc không có thu nhập và đứng ngoài lực lượng lao động, họphải hy sinh rất nhiều, có thể là cả cơ hội để nâng cao năng lực của mình trong côngviệc Họ cũng mất đi cơ hội độc lập về kinh tế
2.3 B t bình đ ng gi i trong v th chính tr ấ ẳ ớ ị ế ị
Có thể nói, vấn đề bất bình đẳng giới ở Ấn Độ xảy ra trên mọi phương diện củaquốc gia này, trở thành nỗi bức bối khiến cả thế giới phải quan tâm Một trong nhữngphương diện bất bình đẳng khiến phụ nữ không được hưởng những đặc quyền chínhđáng, không có tiếng nói với xã hội, đó là bất bình đẳng trong chính trị
Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân
Biểu đồ 3: Bất bình đẳng trong thu nhập ở
Ấn Độ (2007 - 2013)