Luận văn : Khủng hoảng của các nước và bài học rút ra cho VN
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 xảy ra vừa qua có mức độ ảnh hưởngnghiêm trọng đối với hệ thống tài chính và kinh tế toàn cầu Đâu là nguyên nhân dẫn đến khủnghoảng kinh tế? Hậu quả của cuộc khủng hoảng? Bài học nào rút ra sau cuộc khủng? Đây là nhữngcâu hỏi được quan tâm hàng đầu hiện nay bởi tất cả các giới ở Việt Nam, từ những nhà nghiêncứu kinh tế, những nguời làm chính sách, cho tới hầu hết các cá nhân tham gia vào nền kinh tế
Với đề tài Khủng hoảng của các nước và bài học rút ra cho Việt Nam nhóm 3 đi vào tìm hiểu
Các cuộc khủng hoảng kinh tế (tài chính) của các quốc gia trên thế giới đặc biệt là cuộc Khủnghoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 nhằm tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng Từ
đó, cho phép chúng ta rút ra những bài học quý báu nhằm tận dụng được các cơ hội phát triển,hội nhập kinh tế quốc tế Vì tính phức tạp của đề tài, bài viết chỉ mong đóng góp thêm phần nào
vào nhận thức chung về các vấn đề liên quan
Trang 2Phần I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
sẽ được gọi là khủng hoảng kinh tế
- Về khái niệm khủng hoảng tài chính: có thể hiểu theo các cách khác nhau như sau:
+ Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đápứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình
+ Là cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá
cả của những tài sản khác
+ Hay- khủng hoảng tài chính, nói một cách đơn giản, là sự mất khả năng thanh khoản của cáctập đoàn tài chính, dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính
Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính là:
- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền
- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trảđầy đủ các khoản vay cho ngân hàng
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định
1.2 Các hình thức của khủng hoảng tài chính
* Khủng hoảng ngân hàng
Đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt có thể dẫn tới sự phá sản củangân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửi của mình, trừ phi họ được bồi thườngnhờ bảo hiểm tiền gửi Nếu việc rút tiền ồ ạt lan rộng sẽ gây ra khủng hoảng ngân hàng mang tính
hệ thống Cũng có thể hiện tượng trên không lan rộng, nhưng lãi suất tín dụng được tăng lên do longại về sự thiếu hụt trong ngân sách Lúc này, chính các ngân hàng sẽ trở thành nhân tố gây rakhủng hoảng tài chính
* Khủng hoảng trên thị trường tài chính
Khủng hoảng trên thị trường tài chính thường xảy ra do hai nguyên nhân chính: do các chính sáchcủa Nhà nước và do sự tồn tại của các “bong bóng” đầu cơ
Yếu tố đầu tiên phải nói đến, đó chính là các chính sách của Nhà nước Khi nhà nước phát hànhtiền nhằm trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách, điều này sẽ gây ảnh hưởng tới tỷ giá cốđịnh Người dân sẽ mất lòng tin vào bản tệ, và chuyển sang tích trữ bằng các loại ngoại tệ Khi đó
dự trữ ngoại tệ của Nhà nước sẽ cạn dần, Nhà nước buộc phải từ bỏ tỷ giá cố định và tỷ giá sẽtăng
Trang 3Thêm vào đó, trên thị trường lại luôn tồn tại những “bong bóng” đầu cơ, ẩn chứa nguy cơ đổ vỡ.Khi hầu hết những người tham gia thị trường đều đổ xô đi mua một loại hàng hóa nào đó trên thịtrường tài chính (chẳng hạn như cổ phiếu), nhưng không nhằm mục đích đầu tư lâu dài, mà chỉmua với hi vọng sẽ bán ra với giá cao hơn và thu lợi nhuận, điều này đẩy giá trị của các hàng hóanày lên cao, vượt quá giá trị thực của nó Tình trạng này xảy ra sẽ kéo theo những nguy cơ đổ vỡtrên thị trường tài chính, do các nhà đầu tư ngắn hạn kiểu trên luôn mua và bán theo xu hướngchung trên thị trường: họ mua vào khi thấy nhiều người cùng mua, tạo những cơn sốt ảo trên thịtrường và bán ra khi có nhiều người cùng bán, gây tình trạng rớt giá
* Khủng hoảng tiền tệ
Khi một quốc gia có đồng tiền mạnh đột ngột phá giá đồng tiền của mình, gây khủng hoảng tiền
tệ
* Khủng hoảng tài chính trong các tập đoàn Kinh tế
Các tập đoàn thường vướng vào khủng hoảng tài chính do 2 lý do chủ yếu: do các kế hoạch đầu
tư không đúng đắn, không thu hồi được vốn đầu tư, dẫn tới việc không thanh toán được cáckhoản vay đầu tư và phá sản; và do bị hiệu ứng dây chuyền từ khủng hoảng chung, các doanhnghiệp không thể vay vốn đầu tư, hoặc các dự án đầu tư không thu hồi được vốn do tình trạngkhủng hoảng
* Mối liên hệ giữa khủng hoảng ngân hàng, tiền tệ và hậu quả của các cuộc khủng hoảng.
Vào những năm 90, các cuộc khủng hoảng tài chính ở những nước đang phát triển được mô tảvới nét tiêu biểu là sự sụp đổ của các cơ chế tỷ giá hối đoái cố định và các trung gian tài chínhnhư các ngân hàng Có lập luận cho rằng các cuộc khủng hoảng này thực chất là khủng hoảngtiền tệ Lập luận khác lại cho rằng đây là khủng hoảng ngân hàng vì cơ chế tỷ giá cố định không
có vai trò nguyên nhân chính Nhưng suy cho cùng thì khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảngtiền tẹ có mối quan hệ rất chặt chẽ vì cả 2 liên quan đến việc giữ ổn định giá tài sản và cùng xuấthiện khi cam kết hỗ trợ ổn định giá trị đồng tiền, lạm phát trong nước không còn đáng tin cậy.Một khi sự hỗ trợ của chính phủ mất đi hoặc tạm ngừng thì kế hoạch ổn định tỷ giá sụp đổ, các
Tìm hiểu nguyên nhân của khủng hoảng tiền tệ thì những nghiên cứu đầu tiên chỉ ra rằng chính
sự mâu thuẫn trong chính sách của Chính phủ đã từng bước tấn công vào tỷ giá cố định bởi Chínhphủ phát hành tiền để trang trải cho thâm hụt ngân sách Người dân không tin vào bản tệ nên đãchuyển sang tích trữ tài sản ngoại tệ Dự trữ ngoại hối của Chính phủ cạn dần Chính phủ buộcphải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và tỷ giá sẽ tăng Các nhà đầu cơ sẽ tranh nhau mua lượng dự trữcuối cùng của Chính phủ Cuộc chuyển giao khổng lồ này được xem là hình phạt cho những
Mặc dù nguyên nhân trên đúng với nhiều cuộc khủng hoảng trong quá khứ nhưng không đúngvới cuộc khủng hoảng gần đây ở Châu Á Chính phủ các nước này đã giữ được cân bằng chi tiêungân sách và không theo đuổi quá mức tăng trưởng tín dụng Thực ra, một vài mô hình khủnghoảng ở thế hệ thứ ba tập trung vào vai trò đảm bảo của Chính phủ trong việc tăng cường đầu tưchỉ đơn thuần đưa thông điệp của mô hình ở thế hệ thứ nhất vào một bộ những mâu thuẫn chính
Trang 4sách thôi.Thế hệ thứ hai của mô hình khủng hoảng tiền tệ đã nhận được sự quan tâm đáng kể sau cuộc tấncông vào đồng tiền chung châu Âu và đồng Pêso của Mêhicô ở đầu thập kỷ 1990 Mô hình nàyxuất phát từ cơ sở không có sự mâu thuẫn cơ bản nào về chính sách trước các cuộc khủng hoảng.
Cơ sở của mô hình là sự tương tác giữa hành vi của Chính phủ và hành vi của khu vực tư nhândẫn đến một vài kết quả có thể xảy ra Về nguyên tắc, nền kinh tế có thể chuyển từ trạng thái cânbằng không chịu sự công kích sang trạng thái chịu sự công kích khi có sự chuyển dịch bất ngờ về
Thường thì nguồn gốc vấn đề là mâu thuẫn cơ bản giữa nhiều mục tiêu của Chính phủ Ví dụ,Chính phủ muốn giữ ổn định giá cả hoặc ra hiệu cho thị trường về dự định theo đuổi chính sáchtiền tệ thắt chặt trong tương lai Chính phủ có thể đạt các mục tiêu này với mức giá cố định Mặtkhác, nó cũng có thể hạn chế các nghĩa vụ trả nợ, giảm tỷ lệ thất nghiệm hay bơm vốn cho hệthống ngân hàng nếu nó từ bỏ tỷ giá cố định để theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng.Nguyên nhân của khủng hoảng ngân hàng là gì? Gần 20 năm trước, Flôd và Garber đã điều chỉnh
mô hình dự báo trước được cuộc tấn công vào tỷ giá hối đoái với trường hợp phá sản ngân hàng ởcác nước có nền kinh tế đóng Hai nhà khoa học đã mô tả tình trạng các ngân hàng chuyển đổicác tài sản nợ danh nghĩa cố định Các ngân hàng nhất trí trả lãi không kỳ hạn đối với một đơn vịtiền dự trữ tương ứng với một đơn vị đồng bản tệ gửi tại NHTW Khi không có bảo hiểm tiềngửi, các ngân hàng có thể duy trì kế hoạch ổn định lãi suất chừng nào tài sản của họ đủ trang trảicác khoản tiền gửi Flood và Garber cũng chỉ ra rằng phá sản ngân hàng cũng có thể là kết quảnhìn thấy trước của các chính sách không nhất quán Chính sách theo đuổi giảm phát của NHTW
sẽ phá huỷ các cam kết hoàn trả các khoản tiền gửi của các ngân hàng thương mại Các ngânhàng thương mại phải mua tài sản mới để bù đắp cho những tổn thất gây ra chi phí nắm giữ cáctài sản hiện tại vượt quá thu nhập mà nó đem lại Như vậy, giảm phát làm giảm thu nhập và cuốicùng các NHTM không thể có lãi từ việc duy trì tài sản đảm bảo đầy đủ khả năng thanh khoản thìkhủng hoảng ngân hàng xảy ra Khi khủng hoảng ngân hàng xảy ra ở những nước có nền kinh tếđóng mà không có sự hỗ trợ của NHTW thì khủng hoảng sẽ không làm giảm tài sản quốc tế vàtrong nước của NHTW mà chỉ tạo ra sự chuyển đổi nguồn lực từ các ngân hàng sang các thành
Như vậy, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ giống nhau ở khía cạnh sau cùng cả haiđều làm giảm giá trị đồng tiền và xuất phát từ những chính sách không nhất quán Tuy nhiên,khủng hoảng ngân hàng xuất phát từ chính sách của NHTW còn khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn từyếu tố chi tiêu Chính phủ
1.3 Một số trường phái kinh tế về khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính được hiểu là sự sụp đổ của thị trường tài chính, khiến cho nó không thểthực hiện được hai chức năng cơ bản nhất: (1) Ổn định giá trị đồng tiền hoặc các tài sản tài chínhnhư một phương tiện giao dịch , cất trữ tài sản, và (2) là trung gian chuyển vốn tiết kiệm vàonhững dự án đầu tư có hiệu quả nhất Hệ quả là nền kinh tế bị đẩy ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng
Trang 5tiềm năng, gây nên sự sụt giảm mạnh về sản lượng, việc làm, đi kèm với giảm phát, hoặc gâynguy cơ bùng nổ lạm phát
Có thể sơ bộ chia ra ba quan điểm chính về khủng hoảng tài chính: Nhóm thứ nhất là nhữngngười theo chủ thuyết tiền tệ (Monetarists View), dẫn đầu là Friedman và Schwartz (1963) Họcho rằng, khủng hoảng tài chính là do sự hoảng loạn của hệ thống ngân hàng (banking panics),gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn đến sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư Họ bỏqua những nguyên nhân thực, như sự sụt giảm hiệu quả của nền kinh tế, sự suy sụp của nhiềudoanh nghiệp Vì vậy, theo họ, sự can thiệp của chính phủ là không cần thết, và thậm chí có hại,
vì những doanh nghiệp đáng ra phải để cho bị phá sản, lại có thể được cứu vớt, gây nên sự giatăng quá mức về cung tiền tệ và gây nên lạm phát
Đối lập với nhóm theo chủ thuyết tiền tệ là Keynesian View, dẫn đầu là Kindleberger (1978) vàMisky (1972) Họ có quan niệm rộng hơn về khủng hoảng tài chính và tiền tệ, mà nó bao gồm sựsụt giảm của hầu hết giá trị cổ phiếu, sự vỡ nợ của nhiều công ty tài chính và phi tài chính, nạngiảm phát, đi kèm với sự rối loạn của thị trường ngoại hối Những yếu tố này gây sự sụt giảmmạnh về tổng cầu đầu tư và tiêu dùng, nên cần phải có sự can thiệp của nhà nước Điều đáng nói là họ không đưa ra một đặc trưng rõ ràng về nguồn gốc của khủng hoảng, để làmtiền đề cho một chính sách kích thích có hiệu quả Vì vậy, sự can thiệp của chính phủ rất dễ dẫnđến lạm phát và trì trệ, như những người theo chủ thuyết tiền tệ đã lưu ý
Nhóm thứ ba nhấn mạnh tới bản chất rủi ro của hoạt động tài chính, dẫn đầu là Stiglitz và Weiss(1981) Theo họ, hoạt động của hệ thống tài chính, đặc biệt là ngân hàng, chịu rủi ro cao, do ngânhàng đầu tư hay tổ chức cho vay thường không nắm rõ thông tin về khả năng sinh lợi và mức độrủi ro của dự án đầu tư bằng cá nhân hay tổ chức đi vay;
tức là những người chủ dự án Sự khác biệt này về thông tin (asymmetry of information), hay sựthiếu minh bạch về thông tin các dự án, khiến cho hệ thống tài chính có thể có vấn đề, bởi vìrằng:
Ngân hàng có thể muốn ép lãi suất thực, cộng các phí dịch vụ cho vay tăng lên để bù cho rủi romất vốn có thể xẩy ra Nhưng điều này lại khiến cho chỉ có những dự án có độ rủi ro cao nhấtmới hy vọng có đủ khả năng sinh lãi đủ cao để trả nợ, nếu may mắn thành công Ngược lại, nếu
đó là dự án của những doanh nghiệp vừa và nhỏ, với độ rủi ro ít (nhưng cũng chính vì vậy màmức sinh lãi thấp hơn), thì sẽ khó có thể đi vay được vốn Vì vậy, khi lãi suất cho vay tăng lênthì:
- Sẽ có một tỷ lệ lớn hơn những chủ của các dự án với độ rủi ro cao hơn (như đầu cơ vào bất động sản, chứng khoán thời bong bóng) đi săn lùng vốn vay Trong khi đó, những doanh nhiệp vừa và nhỏ, với những nhà đầu tư cẩn trọng, sẽ bị loại ra khỏi
danh sách các ứng viên Người ta gọi đây là sự chọn lầm phải điều nguy hại (adverse selection),theo Akerlof (1974)
- Với những chủ dự án lớn đã vay được vốn, thì họ có xu hướng làm thay đổi bản chất
dự án hay mục đích sử dụng vốn vay, khiến cho dự án mang tính đầu cơ cao hơn (hoặc có vẻ “quan trọng” hơn, để nhà nước không thể để cho bị thất bại) Do vậy, họ
Trang 6có thể giầu lên nhanh chóng, nếu việc đầu cơ thành công; và để mặc cho ngân hàng chịu tích tụnhững khoản nợ xấu; hay xã hội phải gánh vác tổn thất qua gánh nặng cứu trợ ngân sách; nếu dự
án bị thất bại Người ta gọi đây là hiểm họa do sự vô trách nhiệm (moral hazard)
Chính vì những lý do trên đây, những người theo trường phái kinh tế học thể chế (institutionaleconomics) cho rằng, hoạt động của ngân hàng nói riêng, và hệ thống tài chính nói chung, phảiđược giám sát hết sức cẩn trọng, nhằm hướng các giao dịch tới sự an toàn (Aoki, 1991; McKinnon, 1991)
Ví dụ, với những dự án có độ rủi ro rất cao (nhưng cũng có thể là những cơ hội đầu tư có tiềmnăng nhất về hiệu quả, chứ không phải đầu cơ), thì cần phải có những quỹ đầu tư đặc biệt nhằmthẩm định, giám sát, rót vốn ban đầu, và lập cơ chế chia sẻ rủi ro Chẳng hạn như các quỹ đầu tưmạo hiểm (vetunture capital funds) Theo Stiglitz-Weiss, do rủi ro chọn lầm và hiểm họa của sự
vô trách nhiệm (adverse selection and moral hazard), hệ thống các ngân hàng kinh doanh bằngcho vay lấy lãi, phải bị hạn chế, không được phép tham gia vào các lĩnh vực đầu tư có độ rủi roquá cao này
Ngoài sự phân loại chức năng các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, và các quỹ đầu tưtheo mức độ rủi ro của từng lĩnh vực đầu tư, thì còn cần phải có nhiều tổ chức trung gian khác,làm chức năng giám sát và cảnh báo rủi ro
1.4 Sơ lược một số cuộc khủng hoảng tài chính tiêu biểu trong quá khứ:
1.4.1 Đại khủng hoảng năm 1929-1933
Sau chiến tranh thế giới lần 1, Mỹ là nước thu đựoc nhiều lợi nhất
Vào những năm 1920, Mỹ trở thành nhà băng của thế giới, thành nhà sản xuất lương thực, sảnxuất đồ dùng cho toàn thế giới nhưng sẽ mua ít nhất có thể những gì mà phần còn lại của thế giớisản xuất ra Tất nhiên điều này tạo nên trạng thái cán cân thương mại rất có lợi cho Mỹ, những nókhông thể tồn tại lâu Mỹ thiết lập nhiều rào cản thương mại để bảo vệ hoạt động kinh doanh củanhững doanh nghiệp Mỹ, nhưng vấn đề ở chỗ nếu Mỹ không muốn mua hàng từ đối tác Châu Âuthì những đối tác đó lấy đâu ra tiền để mua hàng từ các đối tác Mỹ Cho đến khi mà những đối tácChâu Âu thậm chí không còn đáp ứng được lãi suất cho những khoản vay từ nước Mỹ, họ khôngthể mua hàng nữa, thì hoạt động xuất khẩu của Mỹ sụt 30% và tiếp tục sụt giảm trong thời giansau đó Đây là một trong những yếu tố góp phần vào cuộc Đại khủng hoảng
Hoạt động đầu cơ với quy mô lớn cũng hình thành nhiều vào những năm 1920 Chỉ trong năm
1929, đã có một lượng cổ phần kỷ lục là 1,124,800,410 được giao dịch trên sàn NYSE Từ đầunăm 1928 đến tháng 9 năm 1929, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng từ 191 điểm lên 38139điểm Không một nhà đầu tư nào có thể bỏ qua mức lợi nhuận như vậy Có thể lấy ví dụ về công
ty RCA, công ty này có cổ phiếu tăng từ 85 lên 420 chỉ trong năm 1928, mặc dù cổ phiếu nàychưa từng trả cổ tức một lần nào Nguy hiểm hơn, với sự tăng ổn định của giá cổ phiếu, người tabắt đầu vay để mua chứng khoán Chẳng hạn nhà đầu tư A có thể có 10 USD và vay 75 USD từngười môi giới của mình Nếu anh ta bán cổ phiếu khi giá là 420$ ở thời điểm một năm sau, anh
ta đã biến từ 10 USD đầu tư ban đầu thành 341.25 USD (420 trừ 75 và 5% lãi suất trả cho ngườimôi giới) Tức là lợi suất lên đến 3400% Con số này càng thúc đẩy "cơn điên" cổ phiếu Cho đến
Trang 7giữa năm 1929, tổng lượng cho vay đang lưu hành của những đơn vị môi giới là hơn 7 tỷ USD,
ba tháng sau con số này là 8,5 tỷ USD Lãi suất thanh toán cho các khoản vay này cũng tăngnhanh không kém, đạt mức 20% vào năm 1929 Cơn bùng nổ đầu cơ này hoàn toàn chỉ dựa trênnhững niềm tin vô căn cứ, và nó trái ngườ với sự sụp đổ khủng khiếp vài tháng sau đó cũng chính
ở cơ sở, sụp đổ bắt nguồn từ sự sợ hãi
Giá bắt đầu giảm từ tháng chín, nhưng khi đó nhìn chung nhà đầu tư nói chung vẫn rất lạc quan.Những nhà đầu cơ tiếp tục nhảy vào thị trường Ngày thứ hai, 21/10/1929, giá bắt đầu giảmnhanh Khối lượng giao dịch lớn khủng khiếp Nhà đầu tư vô cùng hoang mang và sợ hãi Nhận
ra rằng giá bẳt đầu"rơi", chứ không còn tính được giảm bao nhiêu, nhiều người lao ra bán Điềunày làm cho sự sụp đổ diễn ra nhanh hơn Giá có ổn định lại một chút vào ngày thứ ba và thứ tư,nhưng cho đến Ngày thứ Năm Đen Tối, 24/10/1929, mọi thứ đều vỡ tan Hầu hết những nhà đầu
tư lớn đều mất niềm tin vào thị trường Tất cả nhà đầu tư đều đồng ý ở một điểm - đã hết tăng rồi.Thị trường có hồi phục lại một chút vào thứ Sáu và thứ Bảy khi một nhóm các ngân hàng lớntham gia tham gia vào với nỗ lực cố gắng chặn lại sự sụp đổ của thị trường Nhưng vào thứ haituần sau, ngày 28, giá tiếp tục giảm 13% Ngày hôm sau, Thứ Ba Đen Tối, khối lượng lên đến16,4 triệu cổ phần đã được giao dịch Cổ phiếu giảm liên tục, thường xuyên không có người mua.Cuộc đại khủng hoảng 1929 bắt đầu từ Mỹ nhưng tác động của nó ảnh hưởng trên toàn thế giới.Những hoạt động kinh tế bắt đầu suy giảm từ mùa hè năm 1929 và đến năm 1933, GDP của Mỹgiảm hơn 25%, xóa đi mọi thành quả kinh tế đạt được của 1/4 thế kỷ trước đó Sản lượng côngnghiệp bị tác động mạnh nhất, giảm đến 50% Nền kinh tế suy thoái liên tục đến năm 1933 thì bắtđầu cải thiện trong vòng 4 năm cho đến 1937 Sau đó tiếp tục có những giai đoạn điều chỉnh lênxuống nhưng cho đến 1940 mới đạt lại mức sản lượng kinh tế trước suy thoái
Mức thất nghiệp, không có thống kê chính thức, nhưng được chấp nhận chung là ở vào khoảng25% vào năm 1933 và duy trì trên 14% vào những năm 1940 Tuy nhiên những con số này vẫnchưa phản ảnh hết sự thực bởi số lượng người không nhỏ, quá thất vọng, đã không còn động lực
đi kiếm việc và không được tính vào thất nghiệp Những người này thường về các vùng quê để tựkiếm sống
Hệ thống ngân hàng cũng chứng kiến những con số "hoảng loạn" khi người gửi tiền đua nhau đirút Nhiều nhà băng không chịu được sức ép này, một số khác buộc phải sáp nhập, số lượng ngânhàng tại Mỹ giảm 35% trong giai đoạn 1929 đến 1933
Tác động trực tiếp của cuộc đại khủng hoảng có thể chỉ nhằm vào một số vùng và ngành cụ thể,tuy nhiên tác động gián tiếp của nó - suy thoái, giảm sản lượng, thất nghiệp, là những tác độngxuất hiện ở tất cả các khu vực, ngành và lĩnh vực Những người nông dân cũng phải chấp nhậngiá nông sản của họ giảm trung bình còn một nửa
Cuộc khủng hoảng - sụp đổ cả thị trường, kéo theo 12 năm khủng hoảng trên phạm vi toàn thếgiới và chỉ kết thúc khi người ta bắt đầu cuộc Chiến tranh Thế giới thứ 2 Cuộc khủng hoảng nàyđược đánh giá là "tai họa tài chính" lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ Bản thân sự sụp đổ của thịtrường chứng khoán, dù có quy mô lớn, vẫn rất nhỏ so với hậu quả kế tiếp của một thị trườngđược mô tả như một "nghĩa địa" và tác động hủy hoại của cuộc khủng hoảng
Trang 81.4.2 Cuộc khủng hoảng tại châu Á:
là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thịtrường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á,nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này cònthường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ châu Á
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảngnày Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình CònĐại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng
Điểm đặc biệt của cuộc khủng hoảng này là ở tính lây lan nhanh chóng của nó Không mất nhiềuthời gian từ khi khủng hoảng xảy ra ở Thái Lan vào mùa hè năm 1997 cho tới khi nó nhanhchóng trở thành một hiện tượng lây lan loàn cầu ở các nền kinh tế mới nổi ở Châu Á và cả ởnhững châu lục khác như Nga và Mỹ Latinh Tại Thái Lan, khủng hoảng xảy ra khi đồng bahtcủa Thái Lan bị đổ vỡ sau quyết định thả nổi tỷ giá hối đoái của Chính phủ Thái Lan sau một thờigian dài "neo" đồng baht với đồng đôla Mỹ để khuyến khích xuất khẩu (do tỷ giá hối đoái ổnđịnh và có lợi cho các nhà xuất khẩu)
Thời gian trước khi xảy ra khủng hoảng, Thái Lan đã vay nợ nước ngoài rất nhiều với nhiềukhoản đầu tư thiếu hiệu quả trên thị trường bất động sản và tăng trưởng dựa trên những nguồnvốn ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Dự đoán trước khả năng kinh tế Thái Lan sụp đổ, cácnhà đầu tư ngắn hạn nước ngoài nhanh chóng rút các khoản vốn ra khỏi nước này khiến hệ thốngtài chính - tiền tệ của Thái Lan càng nhanh chóng sụp đổ Đồng baht mất giá nhanh chóng khiếnthu nhập từ xuất khẩu giảm mạnh trong khi gánh nặng nợ nước ngoài tăng trầm trọng Các quốcgia khác trong khu vực cũng chịu ảnh hưởng lây lan khi các nhà đầu tư rút vốn ở các thị trườngnày, khiến cho thị trường chứng khoán và tỷ hối đoái đều tụt dốc không phanh, ảnh hưởng nặng
nề nhất ngoài Thái Lan là Indonesia, Hàn Quốc, và trong chừng mực ít hơn là Malaysia, HongKong và Philippines
* Diễn biến chính cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 tại một số nước Châu Á
- Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9%.Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lantăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trườngchứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thịtrường chứng khoán đều giảm đi
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn.Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht,song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7 Baht ngay lập tức mất giá gần 50% Vào tháng 1năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ số thị trường chứngkhoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời,mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công tytài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói
Trang 9cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợnữa trị giá 3,9 tỷ dollar.
- Philippines
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã
cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn(lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ănmột dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ bê bốicủa tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSEcủa thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng
3000 điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá
Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống
- Hong Kong
Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Đồng tiền này vốn được neo vàoDollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ.Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vàothời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quanTiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Các thị trườngchứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số HangSeng đã giảm 23% Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8%lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắtđầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổphiếu Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm TrưởngĐặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ Chính quyền đã muavào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán Saunày, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ DollarHong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ)
Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đãngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiếtdòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ
11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc
Trang 10thêm giảm giá Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ.Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD.
- Malaysia
Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia
và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh Ringgit đã giảm từmức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar Phần lớn sức ép giảm giá đối vớiRinggit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài Những người thamgia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với
dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai Kết quả là lãi suất trong nước củaMalaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra đạt tới mức24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997.[8]
- Indonesia
Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộngbiên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12% Tháng 8, đồngRupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý đượcthay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn Đồng Rupiah liên tục mất giá IMF đã thu xếp một góiviện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá dođồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt Tháng 9, cả giá Rupiahlẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử
Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm chomón nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩymạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm pháttăng vọt
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến chính phủphải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên Tình trạng bạo động
để tranh giành mua hàng đã bùng phát Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động.Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị Giữa năm 1998,Suharto buộc phải từ chức tổng thống
Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng 2000 : 1 Nhưng trong thời
kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1
Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia đã giảmđi
* Hậu quả của cuộc khủng hoảng:
- Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổthị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á Nhiều doanh nghiệp bị phá sản,dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998 Nhữngnước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan
Trang 11- Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia vàChavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phángay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế Các phòng trào Hồi giáo và ly khai pháttriển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu.
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằngDollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiệntượng này Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đãgiảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ4.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tàichính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tếcũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào giảm
+ Ý nghĩa
Khủng hoảng tài chính Đông Á làm người ta nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải có một hệ thốngtài chính - ngân hàng vững mạnh, minh bạch Điều này thôi thúc Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngânhàng Thanh toán Quốc tế đổi mới các quy chế về ngân hàng và các tổ chức tín dụng nói chung.Chính phủ nhiều nước đang phát triển cho rằng các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốnvay ngân hàng nước ngoài có thể đem lại những tác động bất lợi với nền kinh tế của họ Do đó,nhiều chính phủ đã ban hành những quy chế nhằm điều tiết các dòng vốn này
Bên cạnh đó,những thỏa thuận ở cấp khu vực nhằm phát triển một hệ thống phòng ngừa khủnghoảng tái diễn đã được thúc đẩy ở châu Á, ví dụ như Sáng kiến Chiang Mai, Tiến trình Đánh giá
và Đối thoại Kinh tế ASEAN+3, Sáng kiến Thị trường Trái phiếu Châu Á,
Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận thấy sự hạn chế của các mô hình lý luận vềkhủng hoảng tiền tệ trước đây trong việc giải thích nguồn gốc và sự lây lan của khủng hoảng tàichính Đông Á Đã có nhiều nỗ lực nhằm đưa ra một mô hình mới về khủng hoảng tiền tệ, chẳnghạn như mô hình phương pháp tiếp cận bảng cân đối tài sản, lý thuyết bong bóng, lý thuyết vềnguồn gốc khủng hoảng từ chính sách tài chính và chính sách tiền tệ,
+ Các biện pháp khôi phục kinh tế sau khủng hoảng
Để khôi phục nền kinh tế và ngăn ngừa khủng hoảng tái diễn, các nền kinh tế Đông Á bị ảnhhưởng nặng đều tiến hành các cải cách cơ cấu mạnh mẽ, gồm: cải tổ cách thức quản lý trong khuvực doanh nghiệp, cải cách tài chính, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đổi mới phương pháp quản lýkinh tế vĩ mô, và đổi mới cả phương thức tăng trưởng kinh tế
- Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô
Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã và đang thực thi một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt và cơchế ổn định giá cả Cụ thể, các nước từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái neo và hướng tới chế độ mụctiêu lạm phát Đồng thời, các nước nỗ lực gia tăng lượng dữ trự ngoại hối nhà nước của mình Từ
1997 đến 2005, năm nước bị ảnh hưởng nặng nhất của khủng hoảng đã tăng lượng dự trữ ngoạihối của mình lên bốn lần, đạt 378 tỷ USD
- Cải cách khu vực tài chính
Trang 12Các nước Đông Á đã thực thi các biện pháp, chính sách sau để cải cách khu vực tài chính: (1)Xóa và giảm nợ xấu, tái vốn hóa các thể chế tài chính; (2) Đóng cửa các thể chế tài chính đổ vỡ,(3) Tăng cường giám sát và áp dụng các tiêu chuẩn quản trị, kế toán mới đối với các tổ chức tíndụng và tài chính khác; (4) Đẩy mạnh chuyên môn hóa các thể chế tài chính; (5) Tăng cườnggiám sát và điều tiết các tổ chức tín dụng đồng thời với nâng cao kỷ luật thị trường Yellen (2007)cho thấy các ngân hàng của Hàn Quốc đã áp dụng phương thức quản trị hiện đại của phương Tây
và đã giảm được tỷ lệ sở hữu gia đình tại các ngân hàng, tăng cường lợi ích cho các giám đốcbằng cách cho họ quyền chọn mua cổ phiếu, v.v Còn các ngân hàng Malaysia đã thay đổi tậpquán cho vay của mình Giờ đây, họ cho các xí nghiệp nhỏ và vừa vay nhiều hơn
- Cải tổ cách thức quản lý của khu vực xí nghiệp
Các nước Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã hoàn thiện các thủ tục về phá sản, nỗ lực tái cơcấu nợcáo bạch, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ cũng như nâng cao quyền lực và tráchnhiệm của ban giám đốc, áp dụng các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán theo thông lệ quốc tế, tăngcường mức vốn tự có của doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho các hoạt động mua lại và sáp nhập
kể cả với doanh nghiệp trong nước cũng như với doanh nghiệp nước ngoài của các xí nghiệp,củng cố các quy định và tiêu chuẩn về
Trang 13PHẦN II: ĐẠI KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008
2.1 Bức tranh cuộc khủng hoảng tài chính sau hơn 1 năm nhìn lại
Nhìn lại sau hơn một năm theo ước tính của IMF, thiệt hại của cuộc khủng hoảng vừa qua
đã lên đến 1000 tỷ USD Từ lĩnh vực tài chính cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan sang cáclĩnh vực kinh tế
* Ngược dòng thời gian ta điểm qua diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính như sau:
- Cuộc khủng hoảng có khởi nguồn từ năm 2007;
* Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại chúng thấp và không bị
quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh
cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ
* Tháng 7 - Tháng 9/2007: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại châu Âuchịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ Trong khi
đó, Ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự cứu trợ từ chính phủ
* Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủa vây để đòi rúttiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay thế chấp Northern Rock - ngân hàng lớnthứ 5 tại Anh
* Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợi nhuận Quý
3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD Giám đốcđiều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11
* Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân là Tập đoànCentro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn nàyđưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ởSydney
- Đến năm 2008 sự đổ vỡ, sát nhập, mua lại của hệ thống ngân hàng tài chính thực sự bùng nổ
* Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn hoá thị
trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho vay thế chấpđịa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn
* 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ USD, nâng tổng
số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát quan đến cuộc khủng hoảng chovay cầm cố
* 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock
* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân của cuộc khủnghoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ euro
* 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan Chase với giá 2đôla một cổ phiếu
Trang 14* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗ trước thuếsau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán đượcđảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp Đây
là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền
đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày
* 31/7: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu
* 7/9: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyêncho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Macnhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ
* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính mình Cổphiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%
* 14/9: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers
* 15/9: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001 Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ ; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American
International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố
=> Sự kiện này được coi là một trận động đất dữ dội đối với thị trường tài chính Mỹ.
* 16/09: FED và Bộ tài chính Mỹ quốc hữu hóa công ty bảo hiểm AIG bằng 85 tỷ USD đổi lấy79,9 % cổ phiếu
* 17/11: Ngân hàng CitiGroup sa thải bớt 50.000 nhân viên cộng với 23.000 đã sa thải năm 2007
* 23/11: Cổ phiếu Citigroup giảm còn 4 USD (năm 2007 giá cổ phiếu này là 50 USD)
* 23/11: Chính phủ Mỹ hỗ trợ 300 tỷ USD cho Citigroup, gồm 25 tỷ tiền mặt cộng với tiền bảolãnh nợ và tiền ký gửi tại ngân hàng
(Citigroup là ngân hàng lớn thứ hai ở Mỹ - so về phương diện tài sản, có 200 triệu khách hàng tại
100 quốc gia Cổ phiếu giảm trong một tuần lễ 60 %, còn 4,11 USD Sau này Citigroup đã bị chia
ra làm hai: Citicorp và Citi Holdings)
- Cuối năm 2008, năm 2009 các nước trên thế giới đồng loạt tung các giải pháp nhằm giải cứu nền kinh tế thoát khỏi cuộc khủng hoảng
* 16/9: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chínhtoàn cầu Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa Fed công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD
* 17/9: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập đoàn Lloyds TSBcủa Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế tình trạng bán khống
Trang 15* 19/9: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế hoạch mua lạitài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh sạch hệ thống tài chính
* 20-21/9: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD Hai ngân hàngGoldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu
sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall
* 22/9: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm hoạt động củaLehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và Trung Đông.Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley
* 23/9: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs; Cục điều tra liênbang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộckhủng hoảng tài chính tại Mỹ
* 25/9: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp
đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liênbang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiếtkiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tài sản,WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý vềnhững điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD
* 29/9: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ Phảnứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm –mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay
* 03/10: Thượng viện Mỹ thông qua kế hoạch Paulson – kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ
lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhậpcho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảohiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD
* 10/10: Họp nhóm G7 (7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới), quyết định không để cácngân hàng phá sản
2.2 Những tác động và hệ luỵ của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu:
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã để lại một thiệt hại to lớn đối với các nềnkinh tế trên thế giới Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn cuộc khủng hoảng đã tàn phá thịtrường bất động sản, ngành công nghiệp ô tô, thương mại, gang thép, vận tải, lương thực, nănglượng, công nghệ thông tin Tài sản tiền tệ toàn cầu bị sụt giảm dẫn đến tình trạng khan hiếm vốnlưu động diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực Hoạt động sản xuất kinh doanh đình đốn do nhu cầu yếukém trước viễn cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu vẫn còn bất ổn định
Theo ước tính của IMF, thiệt hại của cuộc khủng hoảng vừa qua lên đến 1000 tỷ usd Anh
và Mỹ là 2 thị trường hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này phải chịu hậu quả nặng nề nhất, hàngtrăm nhân viên ngân hàng, chứng khoán mất việc làm trong hơn 1 năm qua Còn nếu tính theođầu người, trung bình thiệt hại là 10000 usd/một người Mỹ, khoảng 30000 bảng anh/ Vươngquốc của Nữ hoàng Elizabeth đệ nhị
Trang 16Mặc dù chính phủ các nước đã có nhiều biện pháp nỗ lực nhưng suy thoái kinh tế- thấtnghiệp - bất ổn định xã hội - đói nghèo vẫn là một vòng luẩn quẩn không thể thoát được.
Xem xét theo từng lĩnh vực cụ thể ta sẽ thấy như sau:
2.2.1 Thứ nhất là đối với chính bản thân nước Mỹ, nơi bắt nguồn của cuộc khủng hoảng
- Cuộc khủng hoảng ở khu vực địa ốc đã kéo theo sự khủng hoảng của hệ thống tài chính
Mỹ, khiến cho hệ thống tài chính Mỹ trở nên thiếu tính thanh khoản, bảng cân đối thiếu lànhmạnh
Bảng cân đối thiếu tính lành mạnh ở chỗ: đến thời điểm tháng 6/2008 hệ thống ngân hàng
Mỹ nắm khoảng 700 tỉ USD các khoản nợ dưới chuẩn trong tổng tài sản 11.000 tỉ usd, phần cònlại là các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí… Nếu như các khoản cho vay dưới chuẩnnày mất hết thì vốn tự co của các ngân hàng cũng sẽ gần bằng không Khó khăn trong việc thuhồi các khoản nợ sẽ khiến cho các ngân hàng lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản và kéo cả nềnkinh tế vào tình trạng này
- Hệ thống ngân hàng, tài chính, TTCK sụp đổ: Ngay sau khi ngân hàng Lehman Brotherschính thức tuyên bố phá sản, tập đoàn bảo hiểm số 1 AIG đối mặt với nguy cơ khánh kiệt khiếnchính quyền Greorge Bush phải can thiệp; rồi một trụ cột khác của nền tài chính Mỹ là MerrillLynch chỉ sống sót sau khi được ngân hàng Bank of America mua lại một phần vốn; chỉ sốchứng khoán tuột dốc mạnh
- Đồng USD bị mất vị thế trên thị trường quốc tế, không còn chiếm giữ vị trí độc tôn:
- Nợ quốc gia và tư nhân gia tăng, lạm phát phi mã; kinh tế suy thoái, nhu cầu tiêu dùnggiảm Đến 30/9/2009 thâm hụt Ngân sách Mỹ là 1086 nghìn tỷ USD
- Thất nghiệp tăng: theo báo cáo của Bộ lao động đến tháng 3/2009 tỉ lệ thất nghiệp Mỹ caonhất trong vòng 25 năm qua, tăng từ 0.4% lên 8.5 %; tính từ khi có cuộc suy thoái đến nay thịtrường Mỹ mất khoảng 5 triệu 100 ngàn việc làm
2.2.2 Đối với thế giới: Xem xét theo từng lĩnh vực
Tương ứng với những hậu quả nước Mỹ gánh chịu thì thế giới cũng chịu những hậu quả lantruyền tương tự
2.2.2.1 Đối với hệ thống ngân hàng, tài chính tiền tệ, thị trường chứng khoán:
Một hậu quả rõ nét nhất đó là sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống ngân hàng, thị trườngchứng khoán:
Với hậu quả gần như tức thời là toàn bộ các thị trường tài chính thế giới, từ Wall Street đếntokyo, thượng hải, các chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh Tại châu Âu: Paris, Luân đôn,Frankfurt, Amsterdam cũng cùng chung số phận Thị trường Matxcơva cũng lâm vào trình trạnghoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để “ chờ cơn bão đi qua”
Cũng trong tuần lễ đó NewYork, trung tâm tài chính số 1 của quốc tế như ngồi trên lửa vớinhững tin đồn ngân hàng Morgan stanley điêu đứng, đang cố tìm lấy một chiếc phao để qua cơnhoạn nạn
2.2.2.2 Về kinh tế, chính trị và xã hội;
Trang 17Sự đổ vỡ của hệ thống tín dụng đã đẩy nền kinh tế thế giới vào cuộc suy thoái sâu rộng nhấttrong hơn 70 năm qua Cuộc suy thoái này bắt đầu khi bong bóng nhà đất của Mỹ lan nhanh,cácngân hàng đổ vỡ, ngừng cho vay và người tiêu dùng cũng như là các doanh nghiệp thắt chặt chitiêu=> Một hệ quả là khi nhu cầu của Mỹ và châu Âu giảm các thị trường đang nổi một thời thịnhvượng đã mất đi những khách hàng và đối tác đầu tư lớn nhất ngày càng có thêm dấu hiệu chothấy kinh tế toàn cầu trong năm 2009 sẽ tăng trưởng âm lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh thế giớilần thứ II.
18 tháng sau kể từ khi cuộc suy thoái bắt đầu, phản ứng kinh tế dây chuyền: từ các ngânhàng đến thị trường, đến người tiêu dùng,rồi đến các công ty đã bước vào một thời kỳ mới Vàmột hệ quả tất yếu: những khó khăn về kinh tế sẽ kéo theo những bất ổn về chính trị:
* Sự phát triển các lĩnh vực kinh tế trở lên đình trệ:
Sản xuất Ở châu Âu cũng bị suy sụp vào cuối năm 2008 tháng 12/2008 sản xuất côngnghiệp giảm 2.6% so với tháng 11/2008 Đến năm 2009 sản xuất công nghiệp giảm 12% ( từ BáoMạng Trung đông tháng 3/2009) Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở châu Âu giảm, cùng với việc gắnkết của các nước sử dụng đồng tiền chung Châu Âu giảm Do thất nghiệp bùng nổ, thâm hụt ngânsách tăng, nước nào lo nước ấy=> Giám đốc nghiên cứu của Trường đào tạo kinh tế cao cấpEthess, Pháp cho rằng: “ từ tháng 6 đến nay sự phân tán giữa các nước trong khu vực đồng Eurogia tăng đáng kể”
Do thiếu vốn, tính thanh khoản của vốn thấp, hơn nữa những nền kinh tế phát triển chủ yếudựa vào xuất khẩu đã bị suy thoái toàn cầu làm cho trì trệ Châu Á là khu vực dễ bị tổn thươngnhất do sự phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu khi mà tiêu dùng ở Phương Tây sụt giảm nghiêmtrọng
Theo Foreign Affairs- số 7,8/209: đầu năm 2009 phí vận tải đường biển giữa Nam Trungquốc và Châu âu tạm thời rớt xuống mức 0 USD Khi nhu cầu của người tiêu dùng ở Phương Tâykhông còn và thu nhỏ lại, các công ty môi giới thực tế đã không lấy phí vận chuyển, và chỉ tínhmột khoản chi phí bốc xếp tối thiểu Vào tháng 4/2009, hàng trăm con tàu trống rỗng chiếm hơn10% năng lực vận tải hàng hoá thế giới vật vờ không tải trên bờ biến Châu Á Cảng Pusan củaHàn Quốc cũng ko còn đủ chỗ chứa cho 32000 công ten nơ ko được sử dụng chồng chất lênnhau
* Thất nghiệp, đối nghèo gia tăng: tình trạng sa thải công nhân diễn ra trên khắp mọi lĩnhvực của nền kinh tế từ sản xuất, bán hàng, gia công cho tới các ngành dịch vụ mà có lẽ chịu tácđộng mạnh nhất là tài chính ngân hàng;
Làn sóng cắt giảm nhân công trong ngành sản xuất ô tô buộc chính phủ nhiều nước phải hỗtrợ
Các ngành công nghệ cao trong những lĩnh vực đang ngày càng phát triển cũng chịu ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng Các tên tuổi lơn như; Microsoft, HP, Intel, Nec cũng có kế hoạchcắt giảm nhân công
* Sự phân hoá giàu nghèo càng sâu sắc: Cuộc khủng hoảng gây nhiều hậu quả nghiêm trọngđối với các nền kinh tế trên thế giới, hậu quả dễ nhìn nhất là từ phía các nước phát triển tuy