1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá kết quả sau 2 tháng điều trị tấn công lao phổi mới AFB thể thâm nhiễm ở lứa tuổi từ 16 đến 45 1

81 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả sau 2 tháng điều trị tấn công lao phổi mới AFB thể thâm nhiễm ở lứa tuổi từ 16 đến 45 1
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học Lao và Phổi
Thể loại Nghiên cứu luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 483,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. tình hình bệnh lao hiện nay (4)
    • 1.1.1. Tình hình bệnh lao trên thế giới (4)
    • 1.1.2. Tình hình bệnh lao ở Việt Nam (7)
  • 1.2. lịch sử điều trị bệnh lao (8)
  • 1.3. cơ sở khoa học của hoá trị liệu (9)
    • 1.3.1. Cơ sở vi khuẩn học (9)
    • 1.3.2. Hiệu lực của các thuốc chống lao (11)
    • 1.3.3. Nguyên tắc điều trị (11)
  • 1.4. các thuốc chống lao (13)
    • 1.4.1. Các thuốc chữa lao chủ yếu (13)
    • 1.4.2. Các thuốc chống lao thứ yếu (23)
    • 1.4.3. Các thuốc mới (23)
  • 1.5. tình hình điều trị lao bằng htnn ở việt nam (23)
  • 1.6. Nghiên cứu về lao phổi mới (25)
    • 1.6.1. Phân loại các thể bệnh lao phổi (25)
    • 1.6.2. Nghiên cứu về lao phổi mới (27)
  • 2.1. đối tợng nghiên cứu (33)
    • 2.1.1. Bệnh nhân nghiên cứu (33)
    • 2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn (33)
    • 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ (34)
  • 2.2. phơng pháp nghiên cứu (35)
    • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (35)
  • 2.3. nội dung nghiên cứu (36)
    • 2.3.1. Nghiên cứu lâm sàng (36)
    • 2.3.2. Nghiên cứu cận lâm sàng (37)
  • 2.4. xử lý và phân tích số liệu (41)
  • 3.1. lâm sàng (43)
    • 3.1.1. Tuổi (43)
    • 3.1.2. Giíi (43)
    • 3.1.3. Thời gian phát hiện bệnh (44)
    • 3.1.4. Lý do vào viện (44)
    • 3.1.5. Cách khởi phát (44)
    • 3.1.6. Triệu chứng lâm sàng khi vào viện (44)
    • 3.1.8. Các yếu tố liên quan (46)
  • 3.2. Cận lâm sàng (46)
    • 3.2.1. Xét nghiệm đờm (46)
    • 3.2.2. Phản ứng Mantoux (47)
    • 3.2.3. Hình ảnh Xquang phổi chuẩn (48)
    • 3.2.4. Xét nghiệm công thức máu, tốc độ máu lắng (50)
    • 3.2.5. Xét nghiệm sinh hoá máu (51)
  • 3.3. kết quả điều trị (51)
    • 3.3.3. Diễn biến âm hoá đờm của bệnh nhân trong quá trình điều trị tấn công (53)
    • 3.3.4. Thay đổi chức năng gan thận trớc, sau 1 tháng và 2 tháng điều trị (53)
  • 4.1. Đặc điểm lâm sàng trớc điều trị (55)
    • 4.1.1. Tuổi (55)
    • 4.1.2. Giíi (55)
    • 4.1.3. Thời gian phát hiện bệnh (55)
    • 4.1.4. Lý do vào viện (56)
    • 4.1.5. Cách khởi phát (56)
    • 4.1.6. Triệu chứng lâm sàng khi vào viện (56)
    • 4.1.7. Bệnh phối hợp (56)
    • 4.1.8. Các yếu tố liên quan (57)
  • 4.2. Cận lâm sàng trớc điều trị (58)
    • 4.2.1. Xét nghiệm đờm (58)
    • 4.2.2. Phản ứng Mantoux (58)
    • 4.2.3. Hình ảnh tổn thơng trên phim Xquang phổi chuÈn (58)
  • 4.3. Kết quả điều trị (60)
    • 4.3.1. Diễn biến lâm sàng trong quá trình điều trị (60)
    • 4.3.2. Diễn biến âm hoá đờm trong quá trình điều trị (60)
    • 4.3.3. Thay đổi tổn thơng trên phim Xquang phổi (60)
    • 4.3.4. Chức năng gan thận trong quá trình điều trị (61)
  • Tài liệu tham khảo (0)

Nội dung

PAGE 24 §Æt vÊn ®Ò BÖnh lao g¾n liÒn víi sù ph¸t triÓn loµi ng­êi, tr­íc ®©y ®­îc xem lµ bÖnh di truyÒn vµ kh«ng ch÷a ®­îc N¨m 1882 Robert Koch t×m ra vi khuÈn lao lµ nguyªn nh©n g©y bÖnh th× bÖnh lao[.]

tình hình bệnh lao hiện nay

Tình hình bệnh lao trên thế giới

Khi cha có thuốc chữa lao bệnh lao không chữa đợc và gây ra nỗi khiếp sợ cho loài ngời Khi thuốc chữa lao ra đời:

Kể từ khi các loại thuốc như SM (1944), INH (1952), PZA (1952) và RMP (1966) được áp dụng trong điều trị lao, hiệu quả kiểm soát bệnh đã rõ rệt, giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh Tuy nhiên, từ năm 1990 trở lại đây, số người mắc lao tại nhiều quốc gia bắt đầu tăng trở lại, cho thấy bệnh lao có xu hướng quay trở lại và bùng phát Hội nghị toàn cầu về bệnh lao lần thứ 23 tổ chức tại Boston năm 1990, do WHO chủ trì, đã cảnh báo về tình trạng gia tăng bệnh lao trên toàn cầu.

1993, WHO báo động sự quay trở lại của bệnh lao, năm 1998 nhấn mạnh “Bệnh lao đang đe doạ trên toàn cầu” [31].

Theo WHO năm 2005, trên thế giới có khoảng 2,2 tỷ người nhiễm lao, chiếm khoảng một phần ba dân số toàn cầu, với khoảng 15,4 triệu bệnh nhân lao, trong đó 6,9 triệu trường hợp là lao phổi AFB (+) Hàng năm, có thêm 8-9 triệu người mắc lao mới và 2 triệu người tử vong do bệnh lao Khu vực Tây Thái Bình Dương ghi nhận sự gia tăng số ca lao trong vòng 33 quốc gia, trong khi các khu vực Đông Âu và Liên Xô cũ cũng chứng kiến sự trở lại của bệnh lao sau nhiều thập kỷ giảm đều đặn Theo nghiên cứu của Khomenko A.G (1999), tỷ lệ mắc bệnh lao tại Nga đang có xu hướng gia tăng rõ rệt.

1997 tỷ lệ mắc lao là 73,9/100.000 dân, tỷ lệ tử vong16,7/100.000 dân, tăng gấp đôi so với năm 1991 [30]. ở Châu Phi bệnh lao gia tăng nặng nề Tanzania từ 1990-

1994 số bệnh nhân lao tăng 86% Tại Malawi và Zambia từ 1984-1990 tăng 180% và 154% [60]

Theo ớc tính của WHO, có 1/3 dân số thế giới nhiễm lao, hàng năm có khoảng 10 triệu trờng hợp nhiễm lao mới và 3 triệu ngời chết do lao [32].

Bệnh lao không chỉ gia tăng ở các nước đang phát triển mà còn xuất hiện ngày càng nhiều tại các nước phát triển Tại Hoa Kỳ, số bệnh nhân lao đã giảm từ 84.304 trường hợp trong năm 1953 xuống còn 22.255 vào năm 1985, nhưng đến năm 1993, con số này đã tăng trở lại lên 63.800 bệnh nhân Tỷ lệ tử vong do lao đã giảm đáng kể trong những năm trước, chủ yếu ở nhóm người trên 60 tuổi, tuy nhiên gần đây tỷ lệ này đã tăng từ 0,3 lên 2,8 trên 100.000 dân Trong khu vực châu Âu, bệnh lao bắt đầu tăng trở lại từ năm 1990; cụ thể, ở Anh, số bệnh nhân lao đã tăng từ khoảng 6.000 vào năm 1980 lên tới 7.000 vào năm 1992.

Từ năm 1986 đến 1990, số bệnh nhân lao tại Thụy Sỹ tăng 33,3% và tại Đan Mạch tăng 30,7%, cho thấy sự gia tăng đáng kể dịch bệnh lao tại châu Âu Đồng thời, khu vực Tây Thái Bình Dương cũng ghi nhận sự phát triển mạnh của bệnh lao, với tỷ lệ phát hiện bệnh trong năm 1994 là 46,3 trên 100.000 dân và tăng lên 58 trên 100.000 dân vào năm 1996, phản ánh xu hướng gia tăng bệnh lao tại khu vực này.

Kể từ khi dịch bệnh HIV/AIDS lan truyền toàn cầu, bệnh lao trở nên nghiêm trọng hơn do tác động của virus HIV làm tổn thương hệ miễn dịch Virus HIV phá huỷ tế bào lympho TCD4, TCD8, lympho B và tế bào NK, khiến khả năng miễn dịch của cơ thể giảm sút đáng kể Chính sự tấn công của virus HIV vào các tế bào bảo vệ này là nguyên nhân khiến người nhiễm HIV có nguy cơ cao mắc bệnh lao hơn so với người bình thường.

Người bị nhiễm lao có khả năng phát triển bệnh lao chỉ khoảng 10% trong suốt cuộc đời Tuy nhiên, khi cơ thể đồng nhiễm cả lao và HIV, nguy cơ mắc bệnh lao sẽ tăng lên đến 10% mỗi năm Điều này khiến nguy cơ mắc bệnh lao ở người đồng nhiễm HIV cao hơn gấp 30 lần so với người chỉ bị nhiễm lao, đặc biệt cần chú ý đến các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh hiệu quả.

Theo WHO (1997), có ước tính khoảng 2 tỷ người trên thế giới đã nhiễm lao và 16 triệu người nhiễm HIV, trong đó khoảng 5-6 triệu người đã nhiễm cả hai bệnh này Tại một số quốc gia, số ca lao mới xuất hiện hàng năm đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua, cho thấy sự gia tăng đáng kể của bệnh lao Bệnh lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội hàng đầu ở những bệnh nhân HIV/AIDS, với khoảng 50% người nhiễm HIV sẽ bị lao trong suốt cuộc đời của họ.

Từ năm 1990 đến 2005, tỷ lệ mắc bệnh lao trên toàn cầu đã tăng đáng kể, từ 16,3% vào năm 1995 lên 57,8% vào năm 2005, cùng với đó tỷ lệ HIV(+) ở bệnh nhân lao cũng tăng từ 4,2% năm 1990 lên 13,8% vào năm 2000 Lao và HIV là hai bệnh lý đồng hành, tạo thành một mối nguy hiểm cực kỳ lớn do tác động cộng hưởng trong việc phá huỷ hệ thống miễn dịch của cơ thể Bệnh lao đã được xác định là biến chứng nguy hiểm đối với người mắc HIV/AIDS và là nguyên nhân chính gây tử vong cho người nhiễm HIV Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ 3 người chết vì AIDS thì có một người chết do bệnh lao, cho thấy mức độ nghiêm trọng của mối liên hệ này.

Trong giai đoạn 1990, chỉ có 4,6% bệnh nhân AIDS tử vong do lao, nhưng đến năm 2000, tỷ lệ này đã tăng lên 14%, phản ánh mối liên hệ nguy hiểm giữa HIV/AIDS và bệnh lao Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo rằng nếu thế giới không thành công trong việc kiểm soát bệnh lao và dịch HIV, tình hình sức khỏe toàn cầu sẽ trở nên nghiêm trọng hơn khi bước sang thế kỷ 21.

Tình hình bệnh lao ở Việt Nam

Hội nghị tổng kết Chương trình phòng, chống lao quốc gia giai đoạn 2001-2005 được tổ chức tại Hà Nội nhấn mạnh rằng bệnh lao vẫn còn phổ biến ở mức cao tại Việt Nam, đứng thứ 13 trên 22 quốc gia có số bệnh nhân lao cao và xếp thứ 3 trong khu vực Tây Thái Bình Dương Theo số liệu của WHO, nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở Việt Nam là 1,7%, trong đó phía Bắc là 1,2% và phía Nam là 2,2%, cho thấy tình hình dịch bệnh vẫn còn đáng lo ngại.

Theo CTCLQG: chỉ số ARTI tính chung cho cả nớc hiện nay khoảng 1,7%, theo cách tính của Styblo, tình hình bệnh lao ở nớc ta hiện nay nh sau:

Số mới mắc lao(mọi thể) trong 1 năm: 145.000

Số lao phổi mới AFB (+): 65.000

Tổng số trờng hợp lao: 221.000

Tổng số trờng hợp lao phổi có vi khuẩn: 78.000

Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 20.000 ca tử vong do bệnh lao, trong khi trên thế giới số ca bệnh vẫn không ngừng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước Năm 1990, số bệnh nhân lao được phát hiện và điều trị là 47.536 người, cho thấy sự cần thiết của các hoạt động phòng chống và kiểm soát bệnh để giảm thiểu số ca mắc và tử vong liên quan đến lao.

Từ những năm đầu 1990, số ca nhiễm HIV tại Việt Nam tăng mạnh, từ 51.763 ca năm 1994, lên 74.711 ca năm 1996, và 87.468 ca năm 1998, phản ánh sự leo thang đáng kể của dịch bệnh Đến tháng 8/1997, cả nước đã ghi nhận 6.588 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 882 ca tiến triển thành AIDS, cho thấy tình hình dịch bệnh ngày càng phức tạp Bệnh lao mắc kèm nhiễm HIV cũng gia tăng đáng kể từ thời điểm ghi nhận trường hợp đầu tiên vào tháng 12/1992, và đến năm 1996 đã có 230 bệnh nhân mắc lao/HIV, phản ánh xu hướng bệnh nhân nhiễm HIV mắc lao có chiều hướng gia tăng.

Từ năm 1994 đến 1996, tỷ lệ người nhiễm HIV mắc lao đã tăng từ 24,2% lên 25%, với tỷ lệ tử vong do lao ở người nhiễm HIV là 25% vào năm 1996 Đến ngày 30/10/1998, theo số liệu của ủy ban phòng chống AIDS Việt Nam, đã có 10.622 người nhiễm HIV, trong đó có 963 trường hợp mắc lao, và bệnh nhân HIV đã có mặt ở tất cả 61 tỉnh thành Tỷ lệ chết do lao ở người nhiễm HIV trong năm 1997 là 30%, cho thấy sự nghiêm trọng của tình trạng đồng nhiễm này.

lịch sử điều trị bệnh lao

Trước khi có các thuốc chữa lao, bệnh lao chủ yếu được điều trị bằng việc duy trì chế độ ăn uống hợp lý, nghỉ ngơi đầy đủ và tập luyện thể dục để tăng cường sức đề kháng của cơ thể Tuy nhiên, các biện pháp này không tác động trực tiếp tới vi khuẩn lao, dẫn đến kết quả điều trị hạn chế và không hiệu quả trong việc loại bỏ bệnh triệt để.

Năm 1944, Waksman tìm ra Streptomycin (SM), loại kháng sinh có tác dụng diệt vi khuẩn lao Trong giai đoạn đầu điều trị, các triệu chứng lâm sàng và số lượng vi khuẩn trong đờm giảm nhanh chóng Tuy nhiên, sau đó, số lượng vi khuẩn lao lại tăng lên và bệnh trở nên nặng hơn, cho thấy vi khuẩn lao đã phát triển hiện tượng kháng lại thuốc SM.

Năm 1946, Lehmann đã phát hiện ra PAS và sự phối hợp giữa PAS với Streptomycin (SM) trong điều trị lao, giúp ngăn ngừa hiện tượng vi khuẩn lao kháng thuốc với SM, mặc dù tỷ lệ thất bại và tái phát vẫn còn cao Đến năm 1952, hiệu quả điều trị lao của isoniazid (INH) được xác nhận, và thuốc này đã trở thành một phần quan trọng trong liệu trình điều trị lao nhờ vào hiệu quả cao và giá thành phù hợp.

Năm 1956, khảo sát tại trung tâm hoá trị liệu Madras (Ấn Độ) cho thấy rằng bệnh nhân điều trị ngoại trú đạt kết quả tốt như bệnh nhân nội trú Phát hiện này mở ra cơ hội giảm tải cho các bệnh viện và giúp các nước nghèo có khả năng điều trị hàng loạt số đông bệnh nhân một cách hiệu quả và tiết kiệm chi phí.

Năm 1961, các nhà khoa học tại labo Lederle (New York) phát hiện ra EMB có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn lao Đây là một bước đột phá trong điều trị bệnh lao, giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc EMB đã trở thành một trong những thuốc chủ đạo trong phác đồ điều trị lao, góp phần quan trọng vào công cuộc chống lại dịch bệnh nguy hiểm này.

Năm 1964, nghiên cứu đã chứng minh rằng phương pháp sử dụng thuốc cách quãng có hiệu quả không thua kém so với điều trị hàng ngày Vào năm 1966, phát hiện ra RMP với khả năng diệt khuẩn mạnh mẽ và hiệu quả điều trị cao đã mở ra hy vọng mới trong cuộc chiến chống bệnh lao Nhờ RMP, thời gian điều trị bệnh lao đã được rút ngắn từ 18-24 tháng xuống còn 9-12 tháng, giúp nâng cao hiệu quả và thuận tiện hơn cho bệnh nhân hiện nay.

Năm 1978, phát hiện ra Pyrazinamide (PZA) có tác dụng diệt vi khuẩn lao hiệu quả, đặc biệt là thể nằm trong tế bào trong môi trường axit Khám phá này đã tạo nền tảng cho liệu trình điều trị lao ngắn ngày hơn Tại hội nghị Bruxelles, các chuyên gia đã nhấn mạnh vai trò của PZA trong phác đồ điều trị bệnh lao hiện đại.

(1978) vai trò của hoá trị liệu ngắn ngày đợc đề cao.

cơ sở khoa học của hoá trị liệu

Cơ sở vi khuẩn học

Số lượng vi khuẩn lao trong các tổn thương phổi có sự biến đổi lớn, từ khoảng 10^2 vi khuẩn trong các nốt lao nhỏ đến 10^8 vi khuẩn trong hang lao rộng 2cm thông với phế quản Khi vi khuẩn phát triển đến một tổng số nhất định, xuất hiện các đột biến kháng thuốc, đặc biệt khi quần thể vi khuẩn càng lớn, khả năng đột biến kháng thuốc tự nhiên càng cao Tỷ lệ đột biến kháng thuốc ở các loại thuốc như RMP, INH, SM, và EMB lần lượt là 10^-8, 10^-6, và 10^-4, chính điều này gây ra thất bại trong điều trị lao và là lý do bắt buộc phải phối hợp nhiều loại thuốc trong quá trình điều trị.

1.3.1.2 Chuyển hoá của vi khuẩn lao

Sự phát triển của vi khuẩn lao chịu ảnh hởng của đặc điểm tổn thơng: hang, bã đậu…, pH, phân áp O2 Mitchison

Năm 1985, các nhà nghiên cứu đã phân loại quần thể trực khuẩn lao trong tổn thương thành 4 nhóm khác nhau dựa trên mức độ sinh sản nhanh hay chậm, nồng độ pH của môi trường và tác động của thuốc lao đối với từng quần thể Phân loại này giúp hiểu rõ sự đa dạng sinh học của vi khuẩn lao trong các tổn thương, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và kiểm soát bệnh Các yếu tố như pH môi trường và thuốc đều ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh sản và khả năng đề kháng của vi khuẩn lao, đòi hỏi các chiến lược điều trị phù hợp với từng nhóm quần thể cụ thể.

Quần thể A là những vi khuẩn nằm ngoài tế bào, phát triển nhanh và mạnh, chủ yếu cư trú ở vách hang lao với môi trường pH trung tính, giàu oxy thuận lợi cho sự sinh trưởng Tuy nhiên, quần thể này dễ bị tiêu diệt nhanh chóng bởi các loại thuốc như RMP, INH, và SM, giúp kiểm soát hiệu quả các vi khuẩn này trong quá trình điều trị.

Quần thể B bao gồm các vi khuẩn lao đã bị đại thực bào nuốt chửng và nằm trong tế bào Trong môi trường pH acid, vi khuẩn phát triển chậm lại, chỉ có PZA mới có khả năng diệt được loại vi khuẩn này Trong khi đó, RMP và INH ít tác dụng đối với quần thể B, còn streptomycin (SM) hầu như không có tác dụng trên loại vi khuẩn này.

Quần thể C gồm các vi khuẩn tồn tại trong ổ bã đậu, môi trường yếm khí khiến quá trình sinh sản của chúng rất chậm và chỉ diễn ra qua các đợt ngắn hạn RMP là loại duy nhất có khả năng tiêu diệt những vi khuẩn này, giúp kiểm soát hiệu quả sự phát triển của chúng trong môi trường môi trường yếm khí.

Quần thể D: là những vi khuẩn nằm trong các tổn thơng xơ, vôi, không chuyển hoá, không phát triển gọi là vi khuẩn

“ngủ”, không có thuốc lao nào có tác dụng Song quần thể vi khuẩn này không lớn tự khả năng miễn dịch cơ thể có thể tiêu diệt đợc.

Bệnh lao tái phát là do những vi khuẩn từ quần thể B và

C Cho nên mục tiêu quan trọng trong điều trị lao là giải quyết triệt để hai quần thể đó.

Hiệu lực của các thuốc chống lao

Hiệu lực của các thuốc chống lao đợc tính theo mức độ sinh sản của vi khuẩn Theo Grosset (1995) hiệu lực của các thuốc lao đợc thể hiện:

Tác dụng diệt vi khuẩn Sinh sản mạnh

Sinh sản chậm Vi khuẩn pH ngủ acid pH trung tÝnh

+;++;+++ : hiệu lực diệt khuẩn nhẹ, vừa, mạnh.

Qua bảng trên cho thấy trong một phác đồ điều trị cần phối hợp nhiều thuốc chữa lao và phải có các thuốc có tác dụng diệt khuẩn mạnh.

Nguyên tắc điều trị

Có 2 nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh lao [39]

Trong quá trình điều trị, cần sử dụng ít nhất hai loại thuốc kháng sinh mà vi khuẩn vẫn còn nhạy cảm để tăng hiệu quả tiêu diệt vi khuẩn Một trong hai loại thuốc này nên là thuốc diệt khuẩn nhằm giảm thiểu nguy cơ vi khuẩn phát triển đột biến kháng thuốc, từ đó hạn chế tình trạng kháng thuốc ngày càng phổ biến Việc kết hợp nhiều thuốc phù hợp giúp cải thiện tỷ lệ điều trị thành công và duy trì hiệu quả của các phương pháp điều trị trong thời gian dài.

Để đạt hiệu quả điều trị, cần duy trì liệu trình đủ thời gian để loại bỏ hoàn toàn các vi khuẩn nằm vùng trong tế bào sinh sản chậm Điều trị không đủ thời gian có thể gây tái phát bệnh sau khi khỏi, dù đã kết luận là đã khỏi Việc này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ liệu trình điều trị trong quá trình tiêu diệt vi khuẩn nằm vùng.

Do đó một phác đồ điều trị bệnh lao phải gồm hai giai đoạn: giai đoạn tấn công và giai đoạn củng cố.

Giai đoạn tấn công kéo dài từ 2-3 tháng, nên dùng phối hợp

Có 4 loại thuốc chữa lao giúp giảm nhanh số lượng vi khuẩn đang phát triển mạnh và các vi khuẩn trong trạng thái nửa ngủ trong tổn thương, từ đó hạn chế đột biến kháng thuốc và giảm nguy cơ thất bại điều trị Các thuốc này còn giúp âm hoá nhanh vi khuẩn lao trong đờm, rút ngắn thời gian lây nhiễm của vi khuẩn lao trong cộng đồng, góp phần kiểm soát bệnh leichter và hạn chế sự phát triển của kháng thuốc.

Giai đoạn củng cố kéo dài từ 6-8 tháng nhằm loại trừ hoàn toàn vi khuẩn lao còn sót lại trong tổn thương, giảm nguy cơ tái phát và thất bại điều trị Trong giai đoạn này, số lượng vi khuẩn lao còn lại rất ít, giảm khả năng đột biến kháng thuốc, do đó việc sử dụng thuốc cũng cần ít hơn so với các giai đoạn trước.

Hiện nay, công thức HTNN 6 tháng đang được sử dụng rộng rãi tại các nước phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe cộng đồng Trong khi đó, tại Việt Nam, công thức HTNN 8 tháng (2SRHZ/6HE) đã được triển khai từ năm 1988 đến năm 1998 trên phạm vi toàn quốc, bao phủ 61 tỉnh thành với tỷ lệ dân được bảo vệ lên đến 95,5%.

Kể từ năm 1980, chương trình Điều trị Nội trú Được giám sát (HTNN có kiểm tra trực tiếp - DOTS) đã chính thức bổ sung phần giám sát sử dụng thuốc, giúp nâng cao hiệu quả điều trị bệnh lao Áp dụng phương pháp DOTS đã trở thành tiêu chuẩn toàn cầu và đem lại kết quả tích cực trong việc kiểm soát dịch bệnh Tại Tanzania, nhờ triển khai phương pháp DOTS, tỷ lệ điều trị khỏi bệnh đã tăng từ 43% vào năm trước, góp phần làm giảm gánh nặng của bệnh lao trên toàn khu vực.

Trong những năm qua, phương pháp DOTS đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ điều trị khỏi bệnh lao tại các quốc gia Tại Trung Quốc, tỷ lệ điều trị khỏi đã tăng từ 59,9% năm 1986 lên 92,7% năm 1995 nhờ vào chương trình DOTS Tại Việt Nam, việc triển khai hình thức giám sát điều trị đã giúp tăng tỷ lệ điều trị khỏi bệnh lao từ 67,24% với phác đồ chuẩn lên 88% khi áp dụng phác đồ Hệ Thống Quản Lý Nghiên Cứu (HTNN).

các thuốc chống lao

Các thuốc chữa lao chủ yếu

1.4.1.1 INH (isoniazid) Đợc tổng hợp năm 1912, đến năm 1952 mới khám phá ra đợc tác dụng chữa lao của thuốc INH là hyđrazide của isonicotinic acid, INH có tác dụng diệt vi khuẩn lao nhờ ức chế quá trình tổng hợp acid mycolic một thành phần quan trọng tạo thành vách của vi khuẩn lao Takayama và CS (1979) đã chứng minh rằng sự tổng hợp acid mycolic từ những chủng vi khuẩn lao nhạy cảm đã bị ức chế bởi INH, trong khi sự tổng hợp acid mycolic từ những chủng kháng thì không bị ảnh h- ởng Nh vậy tác dụng quan trọng ban đầu của INH là ức chế quá trình tổng hợp acid mycolic của vi khuẩn lao [42].

INH chủ yếu được dùng qua đường uống, hấp thu nhanh qua hệ tiêu hóa và phân bổ nhanh vào các tế bào cũng như dịch cơ thể Sau khi uống, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt từ 3-5 µg/ml, xuất hiện từ 1-2 giờ sau khi dùng thuốc, trong khi trong dịch não tủy chỉ đạt khoảng 20% so với huyết thanh Tại phổi, nồng độ thuốc tương tự huyết thanh, còn trong tổ chức bã đậu thấp hơn Thuốc dễ dàng qua nhau thai, với nồng độ trong huyết thanh thai nhi bằng khoảng 50% so với mẹ Hầu hết INH được chuyển hoá ở gan thành acetyl isoniazid, không có tác dụng kháng khuẩn, rồi tiếp tục chuyển hoá thành acetyl hydrazine và đào thải qua thận vào nước tiểu Khoảng 50-70% liều INH được bài tiết dưới dạng nguyên chất hoặc đã chuyển hoá, trong khi phần còn lại không bị acetyl hoá, liên kết với acid amin trong máu để tiêu diệt vi khuẩn lao.

INH được dung nạp tốt ở liều điều trị, nhưng tác dụng phụ do INH gây ra xảy ra ở khoảng 5,4% người dùng Tác dụng phụ nguy hiểm nhất của thuốc là gây độc cho gan, đòi hỏi người dùng cần theo dõi kỹ để tránh biến chứng nghiêm trọng.

Viêm gan do INH xuất phát từ acetyl hydrazine, một chất chuyển hóa của thuốc INH có khả năng gây tổn thương tế bào gan bằng cách gắn vào chúng và gây hoại tử tế bào gan Tỷ lệ mắc viêm gan do INH tăng theo tuổi, với người cao tuổi có nguy cơ cao hơn Theo nghiên cứu của Ormerod, nguy cơ viêm gan liên quan đến việc sử dụng INH càng tăng theo tuổi tác.

(1996) nghiên cứu ở Anh cho thấy nguy cơ viêm gan khi dùng INH có quan hệ với tuổi nh sau [40]:

0,75% ở ngời từ 0-19 tuổi; 1,8%ở ngời từ 20-39 tuổi; 2,68% ở ngời từ 40-59 tuổi; 4,9% ở ngời > 60 tuổi.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ viêm gan do INH bao gồm nghiện rượu nặng, sử dụng INH qua đường tĩnh mạch, có tiền sử bệnh gan trước đó như viêm gan do virus, và điều trị phối hợp với RMP Nghiên cứu của Turktas H tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 1992 chỉ ra rằng, các yếu tố như viêm gan virus ở các nước đang phát triển là những yếu tố nguy cơ cao dẫn đến viêm gan trong quá trình điều trị thuốc lao.

[45] Viêm gan do INH có thể xẩy ra ở bất cứ thời gian nào của quá trình điều trị [44].

Trong quá trình điều trị, có khoảng 20% các trường hợp tăng transaminase huyết thanh trong vài tháng đầu mà không có biểu hiện lâm sàng rõ ràng Ngoài ra, 10% bệnh nhân viêm gan có biểu hiện lâm sàng có thể tiến triển thành viêm gan mãn tính Nguy cơ tử vọng cao hơn đối với các trường hợp viêm gan kèm theo vàng da, với tỷ lệ tử vong lên tới 10% [44].

INH có tác dụng phụ độc đối với hệ thần kinh ngoại biên, gây rối loạn cảm giác và yếu cơ do tăng bài tiết pyridoxin qua thận dẫn đến thiếu hụt trong máu Các tác dụng phụ thần kinh hiếm gặp hơn bao gồm viêm thần kinh thị giác và rối loạn tâm thần Để phòng ngừa các biến chứng thần kinh này, việc dùng bổ sung pyridoxin 10mg mỗi ngày trong quá trình điều trị lao là cần thiết Những nhóm bệnh nhân đặc biệt như đái tháo đường, nghiện rượu nặng, phụ nữ mang thai hay bệnh nhân suy dinh dưỡng có thể cần liều pyridoxin lên tới 50mg/ngày để đảm bảo an toàn.

RMP (Rifampin) được phát hiện vào năm 1966 và có khả năng diệt khuẩn mạnh mẽ đối với vi khuẩn lao, cả trong và ngoài tế bào Đây là một thành phần quan trọng trong các phác đồ điều trị lao, giúp nâng cao hiệu quả chống lại vi khuẩn gây bệnh.

Năm 1967, nghiên cứu đã chứng minh rằng nơi tác dụng chính của RMP là trên RNA polymerase Chức năng chính của RNA polymerase là đọc đoạn DNA đích và xúc tác quá trình tổng hợp chuỗi RNA của vi khuẩn Enzym này có lõi cấu tạo từ bốn tiểu đơn vị: hai chuỗi α, một chuỗi β và một chuỗi β′ RMP liên kết vào tiểu đơn vị β của enzym, gây cản trở quá trình sao chép RNA ban đầu và ức chế sự tổng hợp RNA mới, góp phần trong cơ chế chống vi khuẩn của thuốc [43],[44].

RMP được sử dụng với liều 10mg/kg cân nặng, tối đa 600mg/ngày, và nên dùng trước bữa ăn 2 giờ hoặc sau bữa ăn 4 giờ để tránh ảnh hưởng của thức ăn làm giảm hiệu quả của thuốc Nghiên cứu của Kenny và Strates (1981) đã chứng minh rằng thức ăn có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu của RMP vào máu, do đó việc dùng thuốc đúng thời điểm là rất quan trọng để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất.

Nồng độ đỉnh huyết thanh (giá trị trung bìnhàg/ml)

Thời gian để phát hiện nồng độ đỉnh huyÕt thanh (giê) Tríc b÷a ¨n

Sau khi uống 600mg RMP, nồng độ thuốc trong máu đạt từ 4-32 µg/ml và xuất hiện sau 2-4 giờ RMP hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá và chuyển tới gan để chuyển hoá chủ yếu thành desacetyl rifampicin, dạng chuyển hoá chính có tác dụng kháng vi khuẩn lao Desacetyl rifampicin được bài tiết vào mật, vào ruột, và một phần trở lại gan tạo thành chu kỳ gan ruột giúp duy trì nồng độ cao trong máu Các dạng chuyển hoá của RMP bài tiết qua nước tiểu làm nước tiểu có màu đỏ, đồng thời phân bố khắp các bộ phận cơ thể, trong đó nồng độ tại phổi bằng hoặc cao hơn huyết thanh, nhưng thấp hơn trong chất bã đậu RMP có khả năng đi qua hàng rào máu não, với nồng độ trong dịch não tuỷ là khoảng 0,8 µg/ml khi màng não bình thường và tăng lên 1,3 µg/ml khi có viêm màng não Vì RMP chủ yếu chuyển hoá ở gan, bệnh nhân mắc bệnh gan như xơ gan cần giảm liều sử dụng thuốc để tránh ngộ độc.

Tác dụng phụ của RMP chia thành hai loại chính: độc tính trực tiếp và gián tiếp Độc tính trực tiếp do RMP tác động lên hệ thống enzym của gan, gây ra các triệu chứng như chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng và tiêu chảy, đồng thời làm tăng tạm thời các enzyme gan như SGOT và SGPT, đặc biệt khi phối hợp với INH, tỷ lệ viêm gan khoảng 0,6% Các độc tính gan thường xuất hiện sau 8 tuần điều trị đầu tiên và tỷ lệ tăng theo tuổi Trong khi đó, độc tính gián tiếp ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và biểu hiện qua các vấn đề về da như mề đay, hoặc các tình trạng nặng hơn như xuất huyết giảm tiểu cầu, tan máu tự miễn, thậm chí đe dọa đến tính mạng như sốc, tụt huyết áp, suy thận, khó thở cấp hoặc tử vong Các phản ứng toàn thân do RMP rất đa dạng, từ nhẹ như cảm cúm, mệt mỏi, sốt đến các tình trạng nghiêm trọng cần dừng thuốc ngay lập tức như suy thận, giảm tiểu cầu hoặc suy hô hấp.

PZA (Pyrazinamide) là một chất tổng hợp, dẫn chất amide của acid pyrazinoic, được tổng hợp vào năm 1950 và bắt đầu sử dụng trong điều trị lao từ năm 1952 Ban đầu, thuốc được dùng với liều cao dẫn đến nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, khiến việc sử dụng giảm đi đáng kể.

1978 PZA “một phát hiện lại” đã đợc đề cao trong điều trị lao.

PZA là thuốc có khả năng diệt các loại vi khuẩn lao, đặc biệt là các vi khuẩn lao phát triển chậm trong môi trường acid bên trong tế bào đại thực bào Chính nhờ những tác dụng này, WHO khuyến cáo sử dụng PZA trong các phác đồ điều trị lao nhằm rút ngắn thời gian điều trị và giảm tỷ lệ tái phát sau điều trị Hiện nay, PZA được xem là thuốc điều trị lao hàng đầu và là một trong những thuốc quan trọng thứ 3 trong số các loại thuốc điều trị bệnh lao.

Sau khi uống PZA, thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá và phân bố tích cực vào các tổ chức cũng như dịch của cơ thể, bao gồm dịch não tủy, với nồng độ tương đương như trong huyết thanh PZA trải qua quá trình chuyển hoá tại gan nhờ enzyme pyrazimidase, biến đổi thành acid pyrazinoic Nồng độ đỉnh của PZA trong huyết thanh đạt được sau khi uống giúp xác định hiệu quả điều trị.

66 àg/ml, xuất hiện 2 giờ sau khi dùng thuốc Phần lớn thuốc đợc đào thải qua thận trong vòng 24 giờ, 3% dới dạng nguyên chất và 40% dới dạng acid pyrazinoic [44], [50].

Các thuốc chống lao thứ yếu

Các loại thuốc như Nh PAS (para-aminosalicylic acid), Ethionamide, Kanamycin, Amikacin và Prothionamide có độc tính cao và chi phí đắt đỏ, do đó chỉ nên sử dụng trong các phác đồ điều trị tái trị hoặc khi bệnh nhân kháng với các thuốc chống lao thông thường, đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu và an toàn.

Các thuốc mới

Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn lao ngày càng gia tăng khiến nhu cầu giảm thời gian điều trị cho bệnh nhân lao trở nên cấp thiết Hiện nay, các thuốc mới như Quinolon, Cprofloxacin, Ofloxacin, Amikacin, Rifabutin, Fluoroquinolon, cùng nhóm thuốc kháng sinh họ Macrolide và Betalactam đang được nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm, mặc dù chưa có kết quả điều trị lao cụ thể được công bố Việc khám phá các loại thuốc mới là nhằm đối phó hiệu quả hơn với tình trạng kháng thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị bệnh lao.

tình hình điều trị lao bằng htnn ở việt nam

Từ năm 1988, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các nghiên cứu về bệnh hồng cầu hình liềm (HTNN) ở một số vùng trong cả nước nhằm nâng cao hiệu quả điều trị Các công trình nghiên cứu này đã đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về bệnh và đề xuất các phương pháp điều trị phù hợp Việc nghiên cứu sớm về HTNN đã góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc y tế và nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh lý này.

Hồ Sỹ Dỡng và Bùi Đức Dơng (1988) [11] nghiên cứu công thức 2SHRZ/6HE ở 693 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) tại

Hà Nội cho thấy tỷ lệ khỏi đạt 92,4%, thất bại 1%.

Nguyễn Văn Tiêm và Kiều Mạnh Thắng (1989-1990) [18] nghiên cứu công thức 2SHRZ/6HE ở 227 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) tại Hà Tây cho kết quả khỏi đạt 92%.

Nguyễn Việt Cồ và Hoàng Thị Hiền (1990) đã nghiên cứu công thức điều trị 2SHRZ/4R2H2Z2 cho 70 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+), đạt tỷ lệ khỏi bệnh lên tới 94,2% Nghiên cứu cho thấy hiệu quả cao của phương pháp điều trị này trong việc kiểm soát bệnh lao phổi Kết quả này được thực hiện tại Viện Lao và Bệnh phổi Trung ương, minh chứng cho tính khả thi và thành công của phác đồ điều trị mới Những phát hiện này góp phần nâng cao hiệu quả điều trị bệnh lao phổi và giảm tỷ lệ tái phát.

Nghiên cứu của Lê Thanh Hải (1991) cho thấy công thức 2SHRZ/4R2H2 đạt tỷ lệ khỏi bệnh lên đến 97,8% ở 75 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+), trong khi tỷ lệ thất bại chỉ 2,2% Trong khi đó, Nguyễn Nh Trung (1991) đã đánh giá công thức 2SRHZ/6HE trên 300 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) tại Hải Phòng, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 84,56% và tỷ lệ thất bại 5,36% Những kết quả này cho thấy hiệu quả điều trị của các công thức thuốc khác nhau đối với bệnh nhân lao phổi mới.

Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn, Nguyễn Khắc Bạt, và Lu Thị Liên (1992) đã áp dụng phương pháp HTNN 2SRHZ/6HE để điều trị cho 126 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) tại Hà Nội, cho kết quả tỷ lệ khỏi bệnh đạt 96,03%, với tỷ lệ thất bại chỉ 1,58%.

Nguyễn Phơng Hoa (1995) nghiên cứu công thức 2SRHZ/6HE trong điều trị ngoại trú lao phổi mới AFB(+) tại Hà Nội, đạt tỷ lệ khỏi bệnh lên đến 92,22%, với tỷ lệ thất bại là 1,56% và tái phát sau 1 năm là 2,53% Các kết quả này cho thấy hiệu quả rõ rệt của phương pháp điều trị này trong quản lý bệnh lao phổi.

179 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) bằng công thức 2SRHZ/6HE tại Nghệ An kết quả khỏi đạt 92,7%.

So sánh kết quả điều trị bệnh nhân lao phổi mới giữa phác đồ chuẩn (3SHZ/6S2H2) và phác đồ HTNN của CTCLQG (2SRHZ/6HE) tõ n¨m 1988 – 1993 cho thÊy [51].

Kể từ năm 1992, công thức HTNN đã được sử dụng rộng rãi tại các địa phương, mang lại hiệu quả rõ rệt trong điều trị Theo các nghiên cứu, sau 8 tháng điều trị bằng công thức HTNN, tỷ lệ âm hoá đờm cao, giúp nâng cao khả năng hồi phục của bệnh nhân Đặc biệt, tỷ lệ điều trị thành công đạt đến 88%, trong khi tỷ lệ thất bại chung toàn quốc chỉ còn 2,4% Những kết quả này cho thấy công thức HTNN là phương pháp điều trị hiệu quả, được đánh giá cao trong thực hành y học hiện nay.

Nh vậy HTNN cũng đã đợc nhiều công trình ở nớc ta nghiên cứu và rõ ràng là kết quả tốt hơn hẳn so với các phác đồ trớc đây.

Nghiên cứu về lao phổi mới

Phân loại các thể bệnh lao phổi

Theo tiền sử dùng thuốc

Bệnh nhân lao phổi mới: Bệnh nhân cha bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng dới một tháng.

Lao phổi tái phát là tình trạng bệnh nhân đã điều trị lao, được bác sĩ xác nhận khỏi hoặc hoàn thành điều trị, nhưng sau đó mắc lại bệnh Triệu chứng đặc trưng của lao phổi tái phát là khi kết quả xét nghiệm AFB trong đờm trở thành dương tính (+) Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh lao phổi tái phát rất quan trọng để giảm biến chứng và ngăn ngừa lây lan bệnh Do đó, theo dõi và kiểm tra xét nghiệm AFB định kỳ sau khi điều trị giúp phát hiện sớm tình trạng bệnh quay trở lại.

Lao phổi điều trị thất bại: Bệnh nhân vẫn còn vi khuẩn lao trong đờm từ tháng thứ 5 trở đi.

Lao phổi điều trị lại sau thời gian bỏ điều trị thường gặp ở những bệnh nhân không dùng thuốc trong hơn hai tháng, dẫn đến tình trạng AFB (+) trong đờm khi quay lại điều trị Trong trường hợp lao phổi mạn tính, bệnh nhân vẫn còn vi khuẩn lao trong đờm sau khi đã hoàn thành công thức tái trị và được giám sát chặt chẽ việc sử dụng thuốc Việc tuân thủ điều trị đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh lao phổi và tránh tình trạng kháng thuốc.

1.6.1.2 Phân loại của Lope De Carvalho [21]

Tổn thơng lao đợc chia thành các thể sau

1a Lao thâm nhiễm không có hang 1b Lao thâm nhiÔm cã hang

2a Lao nốt không có hang 2b Lao nốt có hang

4a Lao xơ 4b Lao xơ hang

1.6.1.3 Phân loại lâm sàng lao của Liên Xô cũ năm

Phân loại này khá phức tạp với lao phổi gồm các thể sau:

- Lao phức hợp xơ nhiễm do phổi

- Lao các hạch bạch huyết trong lồng ngực

Mỗi thể lao trên đây lại đợc chia thành nhiêù giai đoạn:Thâm nhiễm, phá huỷ, lan tràn, xơ hoá, vôi hoá…

Nghiên cứu về lao phổi mới

Các nghiên cứu đều cho thấy bệnh lao phổi mới có tỷ lệ mắc cao hơn ở nam giới so với nữ giới Theo Theo Borikic D.J (1996), tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới gấp 1,5 lần tại Belgrade Ngoài ra, nghiên cứu của Crofton và CS (1992) cũng xác nhận rằng tỷ lệ mắc bệnh lao ở nam giới cao hơn nữ giới và tỷ lệ này tăng theo lứa tuổi, cho thấy sự ảnh hưởng của yếu tố giới và tuổi tác đối với bệnh lao.

Theo nghiên cứu của Notari M.O (1993), tỷ lệ mắc bệnh lao ở nhóm tuổi 15-44 tại Buenos Aires chiếm tới 87%, chủ yếu do ảnh hưởng của đại dịch HIV/AIDS đang diễn biến phức tạp tại châu Mỹ Theo báo cáo của WHO năm 1995, 75% số ca bệnh lao tại các quốc gia đang phát triển đều gặp ở lứa tuổi này, cho thấy mối liên hệ rõ rệt giữa bệnh lao và tình hình dịch HIV/AIDS ngày càng gia tăng.

Nghiên cứu của Metev H và CS (1998) tại Bungari cho thấy bệnh lao phổi ở phụ nữ trẻ từ 18 đến 35 tuổi thường xuất phát từ các yếu tố xã hội như nghèo đói, mất việc làm hoặc lương thấp Các điều kiện kinh tế và xã hội kém ổn định góp phần đáng kể vào nguy cơ mắc bệnh lao của phụ nữ trẻ Bên cạnh đó, các yếu tố xã hội như thiếu tiếp cận dịch vụ y tế và điều kiện sống đông đúc cũng làm tăng khả năng lây nhiễm và khó điều trị bệnh Nghiên cứu của Bogdanovic N.A và CS (1992) cũng nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa tình trạng xã hội và sự phát triển của bệnh lao, đặc biệt ở các nhóm dân cư có hoàn cảnh khó khăn Các yếu tố xã hội và kinh tế là các yếu tố quyết định chính ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh lao ở phụ nữ trẻ, đòi hỏi các chính sách y tế cộng đồng tập trung vào cải thiện điều kiện sống và nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống bệnh lao.

Các điều kiện về đời sống giảm sút do chiến tranh đã góp phần làm bệnh lao phát triển mạnh ở người trẻ tuổi Theo nhận xét của [53], điều kiện sống khắc nghiệt thúc đẩy sự bùng phát của bệnh lao trong cộng đồng Nghiên cứu của Onozaki T (1992) tại Nepal cho thấy, 50% bệnh nhân lao phổi mới được phát hiện trong vòng 1,5 tháng kể từ khi xuất hiện triệu chứng Các triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất là ho (92%), sốt (77%), đau ngực (72%) và ho ra máu lẫn đờm (45%), phản ánh mức độ nghiêm trọng của bệnh và tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm.

Theo nghiên cứu của Bogdanovic N.A (1994) [53], các triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh lao ở người trẻ tuổi bao gồm hội chứng hô hấp với tỷ lệ 73%, ho ra máu chiếm 43% và giảm cân đáng kể với 37%.

Nghiên cứu của Perez-Guzman C và CS [59] tổng hợp các phân tích so sánh lâm sàng và cận lâm sàng về lao phổi ở người trẻ tuổi và người cao tuổi từ năm 1966-1998, cho thấy lao phổi ở nam giới gặp nhiều hơn nữ giới trong cả hai nhóm tuổi Đa số các nghiên cứu đều chỉ ra rằng người trẻ tuổi được chẩn đoán bệnh sớm hơn so với người cao tuổi do triệu chứng của lao phổi ở người cao tuổi thường không điển hình, và nhận thức về bệnh của người cao tuổi kém hơn so với người trẻ Ngoài ra, người cao tuổi thường mắc các bệnh phối hợp như COPD, rối loạn tim mạch, đái tháo đường và các bệnh liên quan đến cắt dạ dày, điều này khiến việc chẩn đoán và điều trị trở nên phức tạp hơn.

Các dấu hiệu nhận biết bệnh gồm sốt, đổ mồ hôi, ho ra máu và phản ứng Mantoux (+) mạnh thường gặp ở người trẻ tuổi Ngoài ra, bệnh nhân có thể xuất hiện khó thở, tổn thương phổi ở vùng thấp và số lượng bạch cầu giảm, trong khi đó, nồng độ albumin huyết thanh thấp thường gặp ở người cao tuổi.

Lê Anh Tuấn (1992) [20] nghiên cứu bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) nhận xét lao phổi ở nam giới cao gấp 3 lần nữ giới (nam 74,6%, n÷ 25,4%).

Hồ Sỹ Dỡng và CS (1988) [11] nghiên cứu 693 bệnh nhân lao phổi mới ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc lao ở lứa tuổi 25 –

Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiêm và cộng sự (1989), bệnh nhân lao trong độ tuổi từ 15 đến 50 chiếm tỷ lệ 69%, cho thấy đây là nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh Lê Anh Tuấn và cộng sự (1994) cũng ghi nhận rằng, lao phổi phổ biến ở nhóm tuổi 15 đến 44, chiếm tới 75,47%, có thể do lứa tuổi này đang trong giai đoạn học tập và lao động vất vả, đồng thời xã hội ngày càng thay đổi khiến thanh niên có ít thời gian quan tâm đến sức khỏe.

Nguyễn Việt Cồ (1996) nhận thấy bệnh lao có xu hướng gia tăng ở nhóm tuổi từ 35 đến 44, là nhóm lao động chính tạo ra của cải vật chất cho xã hội và gia đình Nghiên cứu của Lê Ngọc Hưng (1988) cho biết tỷ lệ bệnh nhân mắc lao phổi trên 50 tuổi chiếm tới 26,73% Nguyễn Ngọc Nhuận và cộng sự (1994) cũng ghi nhận tỷ lệ mắc lao ở nhóm tuổi 55 – 64 là 28,8% tại Ninh Bình Doãn Trọng Tiên (1996) cho biết, tỷ lệ mắc lao phổi và bệnh khác ở người trên 60 tuổi chiếm đến 76,2%, trong khi ở nhóm dưới 35 tuổi chỉ là 9,5%, cho thấy nguy cơ mắc bệnh lao cao hơn ở người cao tuổi.

Nguyễn Phơng Hoa (1995) [13] trong một nghiên cứu về lao phổi mới AFB (+) thấy tỷ lệ phát hiện bệnh trong 2 tháng đầu là 56,05%.

Lê Thanh Phúc và Trần Văn Sáng (1995) nghiên cứu tình trạng lâm sàng của bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) khi nhập viện tại Viện Lao và Bệnh Phổi Trung ương, cho thấy triệu chứng ho khạc đờm kéo dài chiếm tỷ lệ lên đến 80,9%, bên cạnh đó, 57,9% bệnh nhân xuất hiện sốt nhẹ về chiều.

Nghiên cứu của Lê Anh Tuấn và cộng sự (1994) cho thấy, sau 8 tháng điều trị bằng công thức 2SRHZ/6HE cho bệnh nhân lao phổi mới, vẫn còn xuất hiện các dấu hiệu như ho (44,6%), đau ngực (32,3%), sốt (1,6%), và ran ở phổi (1,65%), cho thấy cần theo dõi và điều chỉnh điều trị phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất.

Lu Thị Liên (2000) nghiên cứu áp dụng công thức 2SRHZ/6HE trên 812 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) cho thấy các triệu chứng lâm sàng phổ biến gồm sốt dưới 38°C (85%), ho khan hoặc có đờm (85,8%), gầy sút trên 10% cân nặng (62,6%), và đau ngực (46,5%) Sau điều trị, các triệu chứng này giảm nhanh, chỉ còn khoảng 10% bệnh nhân còn sốt nhẹ, sút cân, ho khan hoặc đau ngực vào tháng thứ 5, và đến tháng thứ 8 chỉ còn 2,3% ho khan và 4,4% đau ngực Về X-quang, sau 5 tháng, có 76,3% tổn thương thâm nhiễm thu gọn thành nốt, 23,7% chuyển thành lao xơ hang; sau 8 tháng điều trị, tỷ lệ này là 81,8% và 18,2% Đến tháng thứ 8, mức độ tổn thương độ 1 và độ 2 giảm đáng kể, đạt ý nghĩa thống kê (p 0,05) Trên Xquang phổi, các tổn thương điển hình gồm thâm nhiễm không hang và có hang, chiếm 66,7% cả hai nhóm, còn nốt có hang chiếm 23,3% ở nhóm 1 và 20% ở nhóm 2 Tỷ lệ lao xơ hang thấp, chỉ 10% ở nhóm 1 và 3,3% ở nhóm 2.

2, mức độ tổn thơng hay gặp là độ 1 và độ 2 chiếm 86,7% ở nhóm 1 và 93,3% ở nhóm 2; tổn thơng có hang là 70% ở nhóm 1 và 50% ở nhóm 2.

Nghiên cứu của Phạm Văn Hoàng (2000) ứng dụng công thức RSHZ trên hai nhóm gồm 76 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) điều trị nội trú và ngoại trú cho thấy, tỷ lệ mắc lao phổi ở nam giới cao hơn nữ giới gấp 2,5 lần và lứa tuổi trên 55 chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,7% ở nhóm 1 và 78,3% ở nhóm 2 Phát hiện bệnh sớm trong 2 tháng đầu còn thấp, lần lượt là 44,7% và 52,7%, trong khi phần lớn bệnh nhân được phát hiện sau hơn 2 tháng, chiếm 55,2% và 47,4% Triệu chứng hay gặp nhất là ho khạc đờm kéo dài, chiếm 63,2% và 68,4% Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc nguồn lây, lần lượt là 13,1% và 10,6% Các triệu chứng lâm sàng phổ biến gồm ho khạc đờm, ho ra máu, gầy sút cân, sốt nhẹ về chiều và đau ngực, trong đó gầy sút cân là triệu chứng thường gặp nhất, chiếm khoảng 50-55% Kết quả xét nghiệm đờm tìm AFB dương tính mức độ 1 (+) là phổ biến nhất, chiếm 57,9% và 63,2%, trong khi mức độ 2 (+) lần lượt là 34,2% và 15,8% X-quang phổi cho thấy tổn thương chủ yếu là thâm nhiễm không hang, chiếm 50% cả hai nhóm, và tổn thương thâm nhiễm có hang hoặc không hang chiếm 68,8% Tổn thương dạng nốt chiếm khoảng 18-24% Độ rộng tổn thương chủ yếu là mức 2 và 3, lần lượt chiếm 89,5% và 92,1% Vị trí tổn thương thường gặp ở cả hai phổi, chiếm gần 80% Tổn thương có hang gặp ở 26-42%, còn các tổn thương phối hợp thường gặp là lệch khí quản, chiếm 18-24%.

Chơng 2 Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu

đối tợng nghiên cứu

Bệnh nhân nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 60 bệnh nhân có độ tuổi từ 16 đến 45 tuổi, đã được chẩn đoán mắc lao phổi mới AFB (+) thể thâm nhiễm Các bệnh nhân này đang điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả điều trị ở nhóm bệnh nhân này Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao hiểu biết về đặc điểm bệnh lao phổi thể thâm nhiễm và tối ưu hóa phương pháp điều trị.

Hà Nội từ tháng 9/2008 đến 9/2009.

Tiêu chuẩn lựa chọn

Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi mới AFB (+): Theo

Hiệp hội chống lao quốc tế và Trung tâm chống lao quốc gia xác nhận trường hợp AFB (+) trong đờm lần đầu tiên được phát hiện, đặc biệt ở những người cha đã từng điều trị hoặc đang điều trị bệnh lao, nhưng đã vượt quá một tháng kể từ lần điều trị cuối cùng.

Mỗi bệnh nhân thu nhận nghiên cứu phải có các tiêu chuÈn cô thÓ sau:

* Có ít nhất 1 tiêu bản đờm AFB(+) bằng phơng pháp soi trùc tiÕp.

* Kèm theo có tổn thơng thâm nhiễm trên phim Xquang phổi chuẩn.

Bệnh nhân tuổi từ 16 đến 45, cả nam và nữ.

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không hợp tác.

Bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới phát hiện lần đầu nhng đã dùng thuốc lao trên 1 tháng.

phơng pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, tiến cứu.

Có 60 bệnh nhân mắc lao phổi mới AFB (+) đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn, được trực tiếp khám bệnh và thu thập thông tin theo mẫu bệnh án nghiên cứu Những bệnh nhân này đã đăng ký điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương nhằm đảm bảo quá trình điều trị và theo dõi chặt chẽ.

Hà Nội, theo dõi lâm sàng và làm các xét nghiệm trong thời gian điều trị điều trị.

60 bệnh nhân lựa chọn vào nghiên cứu đều đợc sử dụng phác đồ 2SRHZ/6HE để điều trị lao phổi mới theo quy định của CTCLQG (thực hiện DOTS) :

* Giai đoạn tấn công tiêm và uống 4 loại thuốc S, R, H, Z liên tục trong 2 tháng, hàng ngày 1 lần vào buổi sáng, lúc đói, xa bữa ăn, trớc mặt cán bộ y tế.

* Giai đoạn duy trì 6 tháng tiếp theo bệnh nhân uống 2 loại thuốc H, E liên tục, hàng ngày, một lần vào lúc đói xa b÷a ¨n

Các thuốc điều trị lao đều do CTCLQG cung cấp.

Liều lợng thuốc sử dụng cho bệnh nhân theo quy định của CTCLQG

Thuốc chống lao Liều điều trị hàng ngày trong 2 tháng ®Çu (mg/kg)

EMB 15 Đề tài chỉ thực hiện trong giai đoạn tấn công của phác đồ

nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu lâm sàng

Tuổi : phân bố theo các nhóm tuổi.

Kín đáo: gần nh không có triệu chứng gì phát hiện bệnh vô tình nhờ kiểm tra sức khoẻ định kỳ.

Bệnh xuất hiện từ từ với các triệu chứng chính bao gồm mệt mỏi, kém ăn, gầy sút cân và ho khạc đờm kéo dài Các dấu hiệu này thường diễn biến chậm rãi nhưng ngày càng nặng nề, khiến người bệnh cần chú ý để phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Cấp tính : bệnh xuất hiện đột ngột với các triệu chứng nặng nh sốt cao, khó thở, ho ra máu mức độ nhiều…

Thời gian phát hiện bệnh : là thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh đến khi đợc chẩn đoán bệnh:

Triệu chứng lâm sàng khi vào viện :

Bệnh lao ngoài phổi : Có các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh lao ngoài phổi và đáp ứng điều trị với thuèc chèng lao.

Các bệnh khác : đái tháo đờng, loét dạ dày tá tràng, tăng huyết áp, COPD, suy tim phải,…đợc chẩn đoán ở các chuyên khoa tơng ứng.

Nghiên cứu cận lâm sàng

Xét nghiệm đờm là phương pháp chẩn đoán chính xác các bệnh về phổi, trong đó tất cả các bệnh nhân đều được lấy 3 mẫu đờm vào 3 buổi sáng liên tiếp Các mẫu đờm này được nhuộm soi trực tiếp bằng kỹ thuật Ziehl-Neelsen tại khoa vi sinh của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương cũng như Hà Nội Kết quả xét nghiệm được đánh giá theo các quy định của Công thức Thống kê Chẩn đoán và Trị liệu Quốc gia (CTCLQG), đảm bảo độ chính xác cao trong chẩn đoán các bệnh lý liên quan.

Bảng 2.1 Phân loại kết quả xét nghiệm đờm theo

Kết quả soi Kết quả đọc Phân loại

> 10 AFB / 1 vi trờng Dơng tính 3+

1 – 10 AFB / 1 vi trờng Dơng tính 2+

10 – 99 AFB / 100 vi trờng Dơng tính 1+

4 – 9 AFB / 100 vi trờng Dơng tính Ghi số cụ thÓ

1 – 3 AFB / 100 vi trờng Âm tính Xin thử lại Không có AFB / 100 vi trờng Âm tính 0

Xquang phổi chuẩn là phương pháp chẩn đoán quan trọng giúp phát hiện các tổn thương trong phổi, được thực hiện tại khoa chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương cùng các cơ sở tại Hà Nội Quá trình đọc phim Xquang phổi được hướng dẫn bởi các học viên cùng người hướng dẫn để đánh giá chính xác các tổn thương sau đó Phương pháp này giúp xác định chính xác các bất thường trong phổi, hỗ trợ bác sĩ đưa ra chẩn đoán và điều trị phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

- Vị trí tổn thơng : phổi phải, phổi trái , cả hai phổi.

Phân loại tổn thương trong lao phổi dựa trên các tổn thương cơ bản như nốt, thâm nhiễm, xơ và xơ hang, cùng với vôi hoá đã được xác định rõ ràng trong các nghiên cứu [4], [21] Trong đó, thâm nhiễm được chia thành hai loại chính: thâm nhiễm không có hang (1a) và thâm nhiễm có hang (1b), phản ánh các mức độ khác nhau của tổn thương lao phổi.

+ Tổn thơng phối hợp : Nốt (không có hang 2a, có hang 2b), Kê, Xơ (không có hang 4a, có hang 4b)

- Phân loại mức độ tổn thơng theo hội lồng ngực Mỹ

Độ 1 (tổn thương nhỏ) là dạng tổn thương không có hang, xuất hiện ở một hoặc hai bên phổi Tổn thương này có bề rộng không vượt quá diện tích của phần phổi nằm trên đường ngang qua khớp ức sên 2.

Độ 2 (tổn thương vừa) bao gồm các tổn thương rải rác, diện tích cộng lại không vượt quá 1 phổi, và nếu các tổn thương liên kết lại thì cũng không vượt quá 1/3 diện tích một phổi Khi có hang, đường kính các hang cộng lại không quá 4 cm Trong khi đó, Độ 3 (tổn thương rộng) được xác định khi tổn thương vượt quá giới hạn của độ 2, nghĩa là diện tích tổn thương lớn hơn và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến chức năng phổi.

- Nghiên cứu tổn thơng hang :

+ Kích thớc hang: Theo Bùi Xuân Tám (1998), Đỗ Đức Hiển

(1999) và một số tác giả khác [4],[6] :

- Hang có kích thớc nhỏ: đờng kính < 2 cm.

- Hang có kích thớc trung bình: đờng kính 2-4 cm

- Hang có kích thớc lớn: đờng kính 4-6 cm

- Hang lao khổng lồ: đờng kính > 6 cm

+ Tổn thơng co kéo: co kéo vòm hoành, trung thất, khoang liên sờn,…

Sau 2 tháng điều trị tấn công bệnh nhân đợc chụp lại phim phổi thẳng để so sánh với phim chụp Xquang phổi trớc khi điều trị.

* Tổn thơng thay đổi: diện tích tổn thơng ở phim sau hẹp hơn so với phim trớc điều trị, các hang lao bé lại.

* Tổn thơng không thay đổi: diện tích tổn thơng không thay đổi so với phim trớc điều trị

Phản ứng Mantoux được thực hiện tại khoa vi sinh của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hà Nội bằng cách tiêm 0,1 ml dung dịch Tuberculin PPD của Hungary Kết quả phản ứng được đọc sau 72 giờ, theo hướng dẫn của CTCLQG nh sau[2] Nếu kết quả âm tính, đường kính nốt sẩn sẽ nhỏ hơn 5mm, cho thấy không có phản ứng lao hoạt động hoặc nhiễm lao trước đó.

Nghi ngờ: đờng kính nốt sẩn từ 5 – 10 mm.

Dơng tính nhẹ: đờng kính nốt sẩn từ 10 – 15 mm. Dơng tính vừa: đờng kính nốt sẩn từ 16 – 20 mm. Dơng tính mạnh: đờng kính nốt sẩn > 20 mm.

Xét nghiệm công thức máu được thực hiện tại khoa Huyết học và Sinh hóa của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hà Nội để đánh giá chính xác các chỉ số máu Phần phân loại thiếu máu cũng như các mức độ tăng giảm của số lượng bạch cầu dựa trên sinh lý người Việt Nam bình thường theo hệ thống phân loại của Nguyễn Thế Khánh và Phạm Tử Dơng (1999) Việc này giúp chẩn đoán chính xác, định hướng điều trị phù hợp cho bệnh nhân Các chỉ số máu tiêu chuẩn này phản ánh rõ tình trạng sức khỏe, hỗ trợ bác sĩ trong việc theo dõi và xử lý các bệnh lý huyết học.

- Phân loại thiếu máu theo số lợng hồng cầu :

+ Thiếu máu nặng : số lợng hồng cầu ≤ 2 triệu.

+ Thiếu máu vừa : số lợng hồng cầu trên 2 triệu và ≤ 3 triệu.

+ Thiếu máu nhẹ : số lợng hồng cầu trên 3triệu và < 3,7 triệu.

+ Không thiếu máu : nam là 4,3 – 5,9 triệu; nữ là 3,5 – 5 triệu.

- Phân loại số lợng bạch cầu :

+ Số lợng bạch cầu bình thờng : 5000 – 8000/ml.

+ Số lợng bạch cầu giảm : < 5000/ml.

+ Số lọng bạch cầu tăng : > 8000/ml.

- Công thức bạch cầu : giảm bình thờng t¨ng

+ Bạch cầu đa nhân trung tính < 60 % 60 – 70 %

Tốc độ máu lắng : sau giờ thứ nhất, sau giờ thứ hai.

Xét nghiệm sinh hoá máu :

Các bệnh nhân được kiểm tra chức năng gan thận trước khi bắt đầu điều trị để loại trừ những trường hợp xơ gan và suy thận Sau 1 đến 2 tháng điều trị, họ được kiểm tra lại để so sánh với kết quả ban đầu, giúp đánh giá hiệu quả và an toàn của phương pháp điều trị Các xét nghiệm được thực hiện gồm đo nồng độ SGOT, SGPT, bilirubin trong máu, ure và creatinin trong máu để đảm bảo chức năng gan thận ổn định.

Các xét nghiệm sinh hóa được thực hiện tại khoa Huyết học của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương và Hà Nội, đảm bảo kết quả chính xác và đáng tin cậy Các chỉ tiêu sinh hóa được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu bình thường của phòng xét nghiệm, giúp theo dõi tình trạng sức khỏe người bệnh hiệu quả Việc thực hiện xét nghiệm sinh hóa tại các cơ sở uy tín này đảm bảo yêu cầu chất lượng và độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

Các chỉ tiêu sinh hoá

Chỉ tiêu bình th- êng SGOT: Nam

2.3.3 Đánh giá kết quả sau 2 tháng điều trị tấn công

Trong quá trình điều trị, các bệnh nhân được theo dõi định kỳ để đánh giá sự thay đổi của các triệu chứng lâm sàng Việc kiểm tra diễn ra sau 1 tháng và 2 tháng điều trị tấn công giúp đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị Theo dõi liên tục đảm bảo bệnh nhân nhận được điều chỉnh phù hợp nhằm giảm các triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đánh giá kết quả xét nghiệm đờm tìm AFB qua soi kính trực tiếp sau 2 tuần, 1 tháng và 2 tháng điều trị tấn công giúp xác định sự âm hoá của AFB trong đờm so với ban đầu Thực hiện xét nghiệm này đều đặn giúp theo dõi hiệu quả điều trị bệnh lao phổi và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời Việc kiểm tra định kỳ sau điều trị là bước quan trọng trong quá trình giám sát bệnh nhân để đảm bảo loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh.

Chụp phim Xquang phổi thẳng chuẩn sau 2 tháng điều trị tấn công để đánh giá sự thay đổi của tổn thơng so với trớc điều trị.

Làm các xét nghiệm sinh hoá chức năng gan, thận sau 1 tháng và sau 2 tháng điều trị tấn công để so với trớc điều trị.

Theo dõi các tác dụng ngoài ý muốn của thuốc lao.

xử lý và phân tích số liệu

Xử lý số liệu bằng chơng trình SPSS 13.0.

Phân tích số liệu bằng phơng pháp thống kê y học sử dụng thuật toán kiểm định χ 2 , T - test

60 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) tuổi tõ 16 - 45

Thu thập thông tin theo bệnh án nghiên cứu Điều trị theo phác đồ 2SHR2/6HE

NhËn xÐt đặc điểm lâm sàng

NhËn xÐt đặc điểm cËn l©m sàng

NhËn xÐt sù thay đổi về LS, CLS sau 2 tháng điều trị

- Đánh giá kết quả sau 2 tháng điều trị tấn công

lâm sàng

Tuổi

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Giíi

Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo giới

Giới Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Thời gian phát hiện bệnh

Bảng 3.3 Thời gian phát hiện bệnh

Thời gian Số bệnh nhân Tỷ lệ % Dới 2 tháng

Lý do vào viện

Bảng 3.4.Lý do vào viện

Lý do vào viện Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Ho khạc đờm kéo dài

Cách khởi phát

Bảng 3.5 Cách khởi phát bệnh

Cách khởi phát Số bệnh nhân Tỷ lệ % Kín đáo

Triệu chứng lâm sàng khi vào viện

Bảng 3.6 Triệu chứng lâm sàng khi vào viện

Triệu chứng lâm Số bệnh nhân Tỷ lệ % sàng

Ho ra máu §au ngùc

Có ran ẩm, ran nổ ở phổi

GÇy sôt c©n ( > 10% trọng lợng cơ thể trong 2 tháng)

Bảng 3.7 Bệnh lao ngoài phổi phối hợp

Bệnh phối hợp Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Bảng 3.8 Bệnh phối hợp ngoài lao

Bệnh phối hợp ngoài lao Số bệnh nh©n

Loét dạ dày tá tràng

Các yếu tố liên quan

Bảng 3.9 Tiền sử bệnh và các yếu tố liên quan

Tiền sử Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Tiền sử gia đình mắc lao

Hút thuốc lá, thuốc lào

Cận lâm sàng

Xét nghiệm đờm

Bảng 3.10 Kết quả xét nghiệm đờm tìm AFB

Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Bảng 3.11 Đối chiếu mức độ AFB(+) với thời gian phát hiện bệnh

Phản ứng Mantoux

Bảng 3.12 Kết quả phản ứng Mantoux

Kết quả Số bệnh nhân Tỷ lệ % ¢m tÝnh

Hình ảnh Xquang phổi chuẩn

Bảng 3.13 Vị trí tổn thơng trên phim XQ phổi chuÈn

Vị trí tổn th- ơng

Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Bảng 3.14 Đặc điểm tổn thơng cơ bản trên phim XQ phổi chuẩn

Tổn thơng Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Bảng 3.15 Đối chiếu tổn thơng hang với thời gian phát hiện bệnh

Bảng 3.16 Đối chiếu tổn thơng hang với mức độ

Bảng 3.17 ảnh hởng của tổn thơng đến các bộ phận khác

Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Bảng 3.18 Mức độ tổn thơng trên phim Xquang phổi chuÈn

Mức độ Số bệnh nhân Tỷ lệ % §é 1 §é 2 §é 3

Bảng 3.19 Đối chiếu mức độ tổn thơng với thời gian phát hiện bệnh §é réng tổn th- ơng

Xét nghiệm công thức máu, tốc độ máu lắng

Bảng 3.20 Số lợng bạch cầu

Số lợng BC Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Bảng 3.21 Số lợng hồng cầu

Số lợng HC Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Xét nghiệm sinh hoá máu

Bảng 3.22 Giá trị trung bình của các chỉ số sinh hoá máu thăm dò chức năng gan, thận

Các chỉ số sinh hoá Giá trị trung bình

kết quả điều trị

Diễn biến âm hoá đờm của bệnh nhân trong quá trình điều trị tấn công

Bảng 3.28 Diễn biến AFB của bệnh nhân trong quá trình điều trị tấn công

Số bệnh nhân đợc làm

Thay đổi chức năng gan thận trớc, sau 1 tháng và 2 tháng điều trị

Bảng 3.29 Giá trị trung bình của các chỉ số sinh hoá theo dõi chức năng gan thận trong thời gian 2 tháng điều trị tấn công

Các chỉ Trớc Sau 1 Sau 2 P số điều trị tháng điều trị tháng điều trị

3.3.5 Theo dõi tác dụng ngoài ý muốn của thuốc lao.

Bảng 3.30 Tác dụng ngoài ý muốn của thuốc lao trong

Tác dụng ngoài ý muốn Số bệnh nh©n

Sng nóng đỏ đau các khớp

Rối loạn tiêu hoá Đau mỏi các khớp

Đặc điểm lâm sàng trớc điều trị

Tuổi

Nhóm tuổi nào mắc lao phổi mới AFB(+) thể thâm nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất.

Giíi

Tỷ lệ mắc lao phổi mới AFB(+) thể thâm nhiễm ở nam, ở n÷

Thời gian phát hiện bệnh

Là khoảng thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh đến khi đợc chẩn đoán là lao phổi mới AFB(+) thể th©m nhiÔm.

Tỷ lệ phát hiện bệnh < 2 tháng (%).

Tỷ lệ phát hiện bệnh từ 2-6 tháng (%).

Tỷ lệ phát hiện bệnh >6 tháng (%).

Lý do vào viện

Lý do vào viện chiếm tỷ lệ cao nhất (%)

Tỷ lệ các lý do khó thở, ho ra máu (%).

Cách khởi phát

Tỷ lệ cách khởi phát bệnh từ từ chiếm bao nhiêu %.

Tỷ lệ cách khởi phát cấp tính chiếm bao nhiêu %.

Trong khởi phát cấp tính tỷ lệ các triệu chứng sốt cao, đau ngực nhiều, khó thở là bao nhiêu (%).

Triệu chứng lâm sàng khi vào viện

Tỷ lệ triệu chứng cơ năng thờng gặp nhất (%).

Tỷ lệ các triệu chứng cơ năng khác: khó thở, ho ra máu (%).

Tỷ lệ các triệu chứng toàn thân thường gặp bao gồm sốt nhẹ về chiều, gầy sút cân đáng kể, kém ăn, mệt mỏi và ra mồ hôi trộm lần lượt chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số ca bệnh Các triệu chứng này góp phần quan trọng trong việc nhận diện và chẩn đoán bệnh, đồng thời nâng cao hiệu quả điều trị Với tỷ lệ phần trăm cụ thể, các triệu chứng này phản ánh mức độ phổ biến và ảnh hưởng của bệnh đối với bệnh nhân Hiểu rõ tỷ lệ các triệu chứng toàn thân giúp các bác sĩ và người bệnh có cái nhìn chính xác hơn về diễn biến của bệnh lý.

Tỷ lệ các triệu chứng thực thể thờng gặp nh ran ẩm, ran nổ, ran rít ngáy, co kéo lồng ngực, tiếng thổi hang lần lợt là bao nhiêu (%).

Bệnh phối hợp

Bệnh lao ngoài phổi phối hợp nào hay gặp nhất chiếm tỷ lệ bao nhiêu.

Tỷ lệ các bệnh lao ngoài phổi phối hợp thờng gặp (%).

Tỷ lệ bệnh phổi ngoài lao thờng gặp nhất (%).

Tỷ lệ các bệnh toàn thân thờng gặp nh đái tháo đờng, tăng huyết áp lần lợt là bao nhiêu (%).

Tỷ lệ các bệnh khác nh hen phế quản, viêm đa khớp, loét dạ dày tá tràng lần lợt là bao nhiêu (%).

Các yếu tố liên quan

Tỷ lệ các yếu tố liên quan nh hút thuốc lá, thuốc lào, nghiện rọu, nghiện ma tuý (%).

Tỷ lệ tiền sử có tiếp xúc nguồn lây (%).

Tỷ lệ tiền sử gia đình có ngời mắc bệnh lao (%).

Cận lâm sàng trớc điều trị

Kết quả điều trị

Ngày đăng: 06/01/2023, 14:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w