MUÏC LUÏC Trang Môû ñaàu 1 Noäi dung Chöông 1 Lyù luaän veà giaù trò thaëng dö cuûa Maùc 2 1 1 Coâng thöùc chung cuûa tö baûn 2 1 1 1 Söï chuyeån hoùa tieàn thaønh tö baûn 2 1 1 2 Maâu thuaãn cuûa coâ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA CÔNG NGHỆTHÔNG TIN
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI:
GVHD : LƯU THỊ KIM HOA SVTH : NGUYỄN PHẠM THÁI MSSV : 05P103
Lớp : 05 PV
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2006
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Nội dung
Chương 1: Lý luận về giá trị thặng dư của Mác 2
1.1 Công thức chung của tư bản 2 1.1.1 Sự chuyển hóa tiền thành tư bản 2 1.1.2 Mâu thuẫn của công thức chung của tư
1.1.3 Lý luận về hàng hóa sức lao động 3 1.2 Sản xuất giá trị thặng dư 4 1.2.1 Qúa trình sản xuất giá trị thặng dư 4 1.2.2Tư bản bất biến và tư bản khả biến5 1.2.3 Tỷ suất , khối lượng giá trị thặng dưvà hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 6 1.2.4 Sản xuất giá trị thặng dư-quy luật kinh tế tuyệt đối (hay cơ bản) của chủ nghĩa tư bản 8 Chương 2: Ý nghĩa và tác động của lý luận giá trị thặng dư trong thời đại ngày nay 9 2.1 Ý nghĩa của lý luận giá trị thặng dư đối với chủ nghĩa tư bản và tình cảnh công nhân hiện nay dưới chủ nghĩa tư bản 9 2.1.1 Ý nghĩa của lý luận giá trị thặng dư đối với xã hội tư bản
9 2.1.2 Công nhân ngày nay dưới chủ nghĩa tư
2.2 Ý nghĩa của lý luận giá trị thặng dư của Mac và sư vận dụng lý luận này vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.11 2.2.1 Ý nghĩa của lý luận giá trị yhặng dư đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 11 2.2.2 Sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư của Mac vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 12 Kết luận
16
Trang 3Tài liệu tham khảo 17
MỞ ĐẦU
Ngày nay đất nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu lâu dài là từng bước đi lên xã hội chủ nghĩa Vì xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong điều kiện lực lượng sản xuất còn yếu kém, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu nên chúng ta phải biết tiếp thu, kế thừa những thành tưụ mà nhân loại đã đạt được Đặc biệt dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì cái mà ta cần tiếp thu là những tri thức và những kinh nghiệm quản lý chứ không phải tiếp thu bản chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì quy luật sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối ( hay cơ bản) của chủ nghĩa tư bản Học thuyết giá trị thặng dư là nền tảng trong học thuyết kinh tế của Mac Nứơc ta đang ở giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cho nên mặc dù nền sản xuất hàng hóa của nước ta mang đặc thù riêng của chủ nghĩa xã hội, nhưng đã là sản xuất hàng hóa thì nó vẫn phải chịu tác động của các quy luật giá trị và đặc biệt là chịu tác động của quy luật sản xuất giá trị thặng dư Hơn nữa trong điều kiện phát triển của thế giới ngày nay thì cơ chế tác động của quy luật này càng phức tạp hơn, hình thức bóc lột giá trị thặng dư càng tinh vi hơn nhiều
Để góp phần làm sáng tỏ giá trị và khả năng vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong điều kiện đất nước ta hiện nay Tôi xin đóng góp ý kiến của mình qua hai chương của đề tài "Lý luận giá trị thặng
dư của Mac: Nội dung chủ yếu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của lý luận này ở nước ta; khả năng vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta."
Chương1: Công thức chung của tư bản
Trang 4Chương 2:Ý nghĩa và tác động của lý luận giá trị thặng dư trong thời đại ngày nay
Trang 5CHƯƠNG 1 : CÔNG THỨC CHUNG CỦA TƯ
BẢN
1.1.1 Sự chuyển hoá tiền thành tư bản
Tiền là hình thái giá trị cuối cùng của sản xuất và lưu thông hàng hoá giản đơn đồng thời cũng là hình thức biển hiện đầu tiên của tư bản
Tiền trong lưu thông hàng hoá giản đơn vận động theo công thức H _ T _ H’
Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức T _ H _ T’
Điểm giống nhau của hai công thức lưu thông nói trên là đều cấu thành bởi hai yếu tố hàng và tiền, đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau là mua và bán đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán
Điểm khác nhau giữa hai công thức đó là : Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán ( H _ T ) và kết thúc bằng hành vi mua ( T _ H ), điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò trung gian mục đích là giá trị sử dụng Ngươc lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vi mua ( T_ H ) và kết thúc bằng hành vi bán ( H _ T ), tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc, còn hàng hóa đóng vai trò trung gian…, Mục đích của lưu thông tư bản là giá trị, và giá trị lớn hơn Tư bản vận động theo công thức T _ H
_ T’ trong đó T’ = T + t , t là số tiền trội hơn được gọi là giá trị thặng dư và kí hiệu là m Còn
số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản Như vậy, tiền chỉ biến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng
dư cho nhà tư bản
T _ H _ T’ gọi là công thức chung của tư bản , vì mọi tư bản đều vận động nhu vậy nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư
1.1.2 Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.
Công thức chung của tư bản ( T _ H _ T’ ) làm cho
ta lầm tưởng rằng cả sản xuất và lưu thông đều tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Nhưng lưu thông chỉ
Trang 6là quá trình diễn ra hành vi mua và bán : Người có tiền được hàng, người có hàng được tiền Dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá thi lưu thông cũng không thể làm tăng giá trị Khi trao đổi ngang giá thì trước và sau khi trao đổi lượng giá trị của mỗi người và tổng giá trị không đổi Khi trao đổi không ngang giá : trường hợp mua rẻ thì lời khi mua nhưng lại thiệt khi bán còn tổng giá trị không đổi Trường hợp bán mắc thì lời thì bán nhưng lại thiệt khi mua ,còn tổng giá trị không tăng.trường hợp mua rẻ bán mắc người này được lợi thì người khác bị thiệt cho nên tổng giá trị không tăng
Như vậy lưu thông không sinh ra gía trị và gía trị thặng dư nhưng không có lưu thông thì gía trị thặng dư không thể nào sinh ra được thì tiền tích trữ và hàng hoá nằm trong kho không thể nào tăng thêm giá trị , đó là chưa kể còn bị mất mát hay giảm gía do hư hao .từ đó dẫn đến mâu thuận trong công thức chung của tư bản là giá trị thặng dư chỉ sinh ra trong quá trình lưu thông , đồng thời không thể sinh ra trong lưu thông mâu thuận này đã được giải quyết khi Mac phân tích lý luận về hàng hoá sức lao động
1.1.3 Lý luận về hàng hoá sức lao động:
Sức lao động và những điều kiện biến sức lao động thành hàng hóa
Sức lao động là toàn bộ những năng lực( thể lực và trí lực) tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng và sản xuất
Trong mỗi xã hội sức lao động đều là yếu tố của sản xuất , nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
Một là : Người lao động là người tự do có khả năng chi phối sức lao động của mình và chỉ bán sức lao động ấy trong một khoản thời gian nhất định vì vậy trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến không có điều kiện này vì bản thân người lao động thuộc sự chi phối của chủ nô hoặc chúa phong kiến
Hai là : Người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp với sức lao động của mình, buộc phải bán sức lao động chỉ tồn tại trong
Trang 7cơ thể sống của anh ta C.Mac viết : “ Như vậy là để chuyển hoá tiền tệ thành tư bản , người chủ tiền tệ phải tìm được người lao động tự do trên thị trường hàng hoá ,tự do theo hai nghĩa : theo nghĩa là một con người tự do chi phối được sức lao động của mình với
tư cách là một hàng hoá và mặt khác anh ta không còn có một hàng hoá nào khác để bán , nói một cách khát là trần như nhộng , hoàn toàn không có những vật cần thiết để thực hiện sức lao động của mình”
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hoá
Việc sức lao động trở thành hàng hoá đánh dấu một bước ngoặc cách mạng trong phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong kiến Sự bình đẳng về hình thức giữa người sỡ hữu sức lao động với người sở hữu tư bản che đậy bản chất của chủ nghĩa tư bản : Chế độ được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa tư bản và người lao động
Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động :
Giống như các hàng hoá khác , hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính đó là giá trị và gía trị sử dụng
Giá trị hàng hoá sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định Giá trị sức lao động được quy về giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động , để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ
Giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân và cả điều kiện địa lý khí hậu
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ở quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một hàng hoá,
Trang 8một dịch vụ nào đó Trong quá trình lao động sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với gía tri sức lao động là giá trị thặng dư Đó chính là đặc điểm riêng của gía trị sử dụng của hàng hoá sức lao động Đặc diểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản đã trình bày ở trên
1.2 Sản xuất giá trị thặng dư :
1.2.1 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư :
Quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và sự dụng tư liệu sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư có hai đặc điểm : Một là công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản , hai là sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản
Để hiểu rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư , hãy lấy việc sản xuất sợi của một nhà tư bản để làm ví dụ :
Giả sử , để chế tạo ra một kg sợi , nhà tư bản phải ứng ra số tiền 20 000 đơn vị tiền tệ mua 01 kg bông , 3000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5000 đơn
vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong một ngày (10 giờ) giả định việc mua này đúng giá trị mỗi giờ lao động sống của công nhân tạo ra giá trị mới kết tinh vào sản phẩm là 1000 đơn vị
Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể, công nhân sử dụng máy móc để chuyển 1kg bông thành 1 kg sợi Theo đó gía trị của bông và hao mòn máy móc cũng được chuyển vào sợi, bằng lao đông trừu tượng mỗi giờ công nhân tạo thêm một lượng giá trị mới 1000 đơn vị Giả định chỉ trong 5 giờ công nhân đã kéo xong 1 kg bông thành 1 kg sợi, thì giá trị 1 kg sợi đựoc tính theo các khoảng như sau :
Giá trị 1 kg bông chuyển vào = 20000 đơn vị
Hao mòn máy móc = 3000 đơn vj
Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động , phần này vừa đủ bù đắp giá trị sức lao động )
= 5000 đơn vị
Trang 9Tổn g cộng = 28000 đơn vị
Nếu quá trình lao động ngừng ở đây thì nhà tư bản chưa có được giá trị thặng dư
Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong một ngày với 10 giờ, chứ không phải 5 giờ Trong 5 giờ lao động tiếp, nhà tư bản chi thêm 20000 đơn vị để mua 1 kg bông va 3000 đơn vị hao mòn máy móc và với 5 giờ lao động sau, người công nhân vẫn tạo ra
50000 đơn vị giá trị mới và có thêm 1 kg sợi với giá
28000 đơn vị Tổng số tiền nhà tư bản chi ra để có được 2kg sợi là:
Tiền mua bông : 20000 x 2
= 40000 đơn vị
Hao mòn máy móc( máy chạy 10 tiếng): 30000 x 2
= 60000 đơn vị
Tiền lương công nhân sản xuấtcả ngày (trong 10 giờ, tính theo đúng giá trị sức lao động )
= 5000 đơn vị
Tổng cộng
= 51000 đơn vị
Tổng giá trị của 2 kg sợi là 2 x 28000 = 56000 đơn vị
Và như vậy lượng giá trị thặng dư thu đươc là : 56000
- 51000 = 5000 đơn vị
Từ ví dụ trên ta kết luận : Giá trị thặng dư là giá trị mới do lao động của người công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động không công của công nhân cho nhà tư bản Cho nên C.Mac viết “ bí quyết của sự tự tăng thêm giá trị của tư bản quy lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của người khác” Sở dĩ nhà
tư bản chi phối được số lao đông không công ấy vì nhà tư bản là người sở hữu tư bản
1.2.2 Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Để sản xuất giá trị thăng dư, nhà tư bản phải ứng trước tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động
Trong quá trình sản xuất , giá trị của tư liệu sản xuất được lao dộng cụ thể của người công nhân chuyển vào sản phẩm mới , lượng giá trị của chúng
Trang 10không đổi bộ phạn ấy đươc gọi là tư bản bất biến,
kí hiệu là c.
Đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì tình hình lại khác trong quá trình sản xuất bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không những đủ bù đắp lại giá trị sức lao động của công nhân, mà còn có giá trị thặng dư cho nhà tư bản Do vậy, bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất Bộ phận tư bản
này được gọi là tư bản khả biến và kí hiệu bằng v
Máy móc dù có hiện đại thế nào thì cũng chỉ là lao động chết Nó phải được lao động sống “ cải tử hoàn sinh “ để biến thành nhân tố của quá trình lao động Nó chỉ có thể là phương tiện nhờ nó sức sản xuất của lao động tăng lên Như vậy, tư bản bất biến ( c ) chỉ là điều kiện, còn tư bản khả biến ( v ) mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
Giá trị hàng hoá = c + v + m
1.2.3 Tỷ suất, khối lượng giá trị thặng dư và hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư ( m’ ) là tỉ lệ phần trăm giữa số lượng giá trị thặng dư ( m ) với tư bản khả biến ( v ) và được tính bằng công thức :
m’ = m/ v x 100 (%)
Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư còn có dạng :
m’ = t’/ t x 100 (%)
Trong đó : t là thời gian lao động tất yếu
t’ là thời gian lao động thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân nó chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao động tạo ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu
Khối lượng giá trị thặng dư ( M ) là số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được trong một thời gian sản xuất nhất định và đươc tính bằng công thức :
M = m’ x V hoặc M = m / v x V
Trang 11Trong đó : V là tổng tư bản khả biến được sử dụng trong thời gian trên Khối lượng giá trị thăng dư tuỳ thuộc và tỷ lệ thuận vào cả hai nhân tố m’ và V
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư :
Phương pháp sản xuất giá trị thăng dư tuyệt đối :
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao đông vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
Ví dụ : ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao đông thặng dư là 4 giờ Mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là mười đơn vị , thì giá trị thăng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là :
m’ = 40 / 40 = 100 (%)
Nếu kéo dài ngày lao động , không thể vượt quá giới hạn sinh lý của công nhân ( vì họ còn phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi giải trí để phục hồi sức khoẻ ) nên gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm
Vì lợi nhuận bản thân ,khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, nhà tư bản tìm cách tăng cường độ lao động của công nhân Tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động Vì vậy, kéo dài thời gian lao động và tăng cường độ lao động là để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối :
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ
Chẳng hạn : Ngày lao động là 10 giờ ,trong đó 5 giờ là lao động tất yếu, 5 giờ là lao động thặng dư.Nếu giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ thì thời gian lao động tất yếu xuống còn 4 giờ Do đó thời gian
Trang 12lao động thặng dư tăng từ 5 giờ lên 6 giờ và m’tăng từ 100% lên 150%
Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người công nhân Muốn như vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất dể trang bị cho ngành sản xuấ các tư liệu tiêu dùng
Gía trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng
dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các
xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thặng dư của nó Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ một cách phổ biến thì giá trị thặng dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó sẽ không còn nữa
Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng trong phạm vi xã hội thì nó lại thường xuyên tồn tại Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất để thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nhgệ để tăng năng suất lao động cá biệt, đánh bại đối thủ của mình trong cạnh tranh C.Mac gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
1.2.4 Sản xuất giá trị thặng dư –quy luật kinh tế tuyệt đối( hay cơ bản) của chủ nghĩa tư bản:
Những phần trên đã vạch rõ giá trị thặng dư là
do lao động không công của công nhân làm thuê tạo ra, là mục đích và kết quả hoạt động của tư bản Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê
Sản xuất ra giá trị thặng dư là mục đích và động lực hoạt động của từng nhà tư bản và toàn xã hội tư bản Vì thế, theo C.Mac “sản xuất giá trị thặng dư hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất này” Quy luật này phản ánh bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ