BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC KINH TEÁ TP HOÀ CHÍ MINH KHOA KINH TEÁ CHÍNH TRÒ TIEÅU LUAÄN KINH TEÁ CHÍNH TRÒ ÑEÀ TAØI VAI TROØ CUÛA CHEÁ ÑOÄ SÔÛ HÖ[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI :
VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XHCN Ở NƯỚC TA
GVHD : NGUYỄN AN QUỐC
SVTH : CHÂU NGỌC HẠNH
Lớp : 46.K29 MSSV : 103246010
TP HCM, Năm 2004
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 2
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng …
năm 2004
ĐỀ CƯƠNG
PHẦN I :
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN II :
I VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA :
1 Các khái niệm :
a Sở hữu
b Đối tượng sở hữu
c Chế độ sở hữu, các loại hình & các hình thức sở hữu
* Chế độ sở hữu
* Loại hình & hình thức sở hữu
2 Vai trò của chế độ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta :
* Vai trò :
ĐIỂM
Trang 3* Tính tất yếu của việc đa dạng hóa các hình thứcsở hữu & các hình thức kinh tế trong thời kỳ quáđộ lên CNXH ở Việt Nam.
II VẤN ĐỀ SỞ HỮU TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở NƯỚC TA
1 Chủ trương đổi mới chế độ sở hữu
2 Chế độ sở hữu ở Việt Nam trong thời kỳ đổimới, quá độ lên CNXH
a Sở hữu nhà nước
b Sở hữu tập thể
c Sở hữu tư nhân
3 Kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN ở nước ta
a Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
b Thực trạng của doanh nghiệp nhà nước trong thờigian qua
III GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
a Đối với sở hữu nhà nước
b Đối với kinh tế tập thể
c Đối với kinh tế tư nhân
PHẦN III : KẾT LUẬN CHUNG
Trang 4PHẦN I : LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử đã ghi nhận, trong quá trình tồn tại và pháttriển của loài người, con người đã không ngừng chiếmhữu những của cải của tư nhân để thỏa mãn nhu cầucủa bản thân
Đây là biểu hiện mối quan hệ giữa con người vớitự nhiên Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của xãhội loài người thì trong mối quan hệ với tự nhiên conngười cần có quan hệ với nhau, tức phải có quan hệ xãhội Mà biểu hiện cơ bản của mối quan hệ này là sựthừa nhận lẫn nhau về cơ sở và kết quả của sự chiếmhữu giữa các thành viên trong cộng đồng Được gọi làsở hữu
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trãiqua các giai đoạn từ : Công xã nguyên thủy, chiếm hữunô lệ, thời kỳ phong kiến, đến chủ nghĩa tư bản vàđang trong giai đoạn tiến lên chủ nghĩa xã hội Mỗi chếđộ xã hội đều gắn liền với những hình thức sở hữunhất định Và xu thế phát triển của xã hội loài ngườilà hình thái xã hội sau lại tiến bộ hơn hình thái xã hộitrước Lịch sử đã cho thấy chính các cuộc cách mạng xãhội đã làm thay đổi quyền sở hữu tư liệu sản xuất chủyếu trong xã hội từ giai cấp này sang tay giai cấp khác,kèm theo đó làm thay đổi giai cấp cầm quyền thống trị,lãnh đạo xã hội Đây là những cột mốc lịch sử đãđánh dấu sự chuyển biến cách mạng ra đời của cácphát triển sản xuất kế tiếp nhau và tiến bộ hơn cóthể nói sở hữu về tư liệu sản xuất (TLSX) là một trongnhững vấn đề quan trọng, có tính thời sự đối với mọiquốc gia trên thế giới và trong mọi thời đại Ở nước ta,việc xây dựng một chế độ sở hữu về TLSX phát triểntừ thấp đến cao theo hướng dần dần làm cho sở hữuXHCN giữ vai trò nền tảng của nền kinh tế quốc dânluôn là một nhiệm vụ then chốt trong suốt thời kỳ quáđộ lên CNXH Chính vì tầm quan trọng của chế độ sở hữuđối với nền kinh tế nói chung và đối với Việt Nam nóiriêng, mà hôm nay em xin trình bày một số vấn đề vềvai trò của chế độ sở hữu đối với sự hình thành vàphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta Để qua đó chúng ta có cái nhìn đúngđắn hơn về vấn đề sở hữu trong nền kinh tế
Trang 5Để thực hiện được đề tài này, em xin chân thànhcảm ơn quý thầy cô, trong khoa Kinh Tế Chính Trị trườngĐại Học Kinh Tế, thư viện trường và các bạn đã đónggóp ý kiến cho em hoàn thành tiểu luận này Vì thờigian có hạn, và nhận thức còn nhiều hạn chế, chắcchắn bài tiểu luận này còn nhiều thiếu sót, rất mongđược sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô
Trang 6PHẦN II : NỘI DUNG
I VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA :
1 Các khái niệm :
Để hiểu rõ vấn đề sở hữu, trước hết ta cần làmrõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề này như :sở hữu là gì? Đối tượng sở hữu? Chế độ sở hữu, cácloại hình và các hình thức sở hữu
a Sở hữu :
Qua những phần trình bày ở phần mở đầu ta cóthể rút ra nhận xét Sở hữu là hình thức chiếm hữucủa cải vật chất do lịch sử quy định, trong đó thể hiệnquan hệ giữa con người với con người trong quá trình sảnxuất xã hội Sự phát triển của các hình thức sở hữulà do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định
Để giúp nhận thức khoa học về phạm trù sở hữu tưliệu sản xuất (TLSX) ta cũng cần phân biệt chiếm hữuvà sở hữu Truớc hết ta cần thấy rằng chiếm hữu vàsở hữu là hai mặt thống nhất biện chứng với nhau củamột quá trình sản xuất vật chất, phản ánh nội dung cơbản của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trongmột phương thức sản xuất, trong đó trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất quyết định và đòi hỏi có quanhệ sản xuất tương ứng (chứ không phải là ngược lại).Đây là quy luật chung, quy luật quan hệ sản xuất phảiphù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtquy định sự vận động, phát triển của lịch sử nhân loạitừ thấp đến cao Tuy nhiên chúng ta không thể đồngnhất sở hữu và chiếm hữu, đây là hai phạm trù khácnhau : Chiếm hữu thể hiện quan hệ giữa con người với tựnhiên, là hành vi gắn liền với sự tồn tại và phát triểncủa con người Chiếm hữu là phạm trù vĩnh viễn trongtất cả các giai đoạn khác nhau của lịch sử nhân loại, làcái hình thức không phụ thuộc vào ý chí của con người.Còn sở hữu là quan hệ giữa người với người về chiếmhữu của cải vật chất xã hội Sở hữu là hình thức xãhội của hành vi chiếm hữu sở hữu biểu hiện đặc tínhcủa hình thái xã hội, mà trong khuôn khổ hình thái xãhội đó diễn ra quá trình sản xuất Sở hữu là phạm trùlịch sử, biến đổi cùng với sự biến đổi của các điềukiện kinh tế xã hội của lực lượng sản xuất xã hội
b Đối tượng sở hữu :
Trang 7Sở hữu là quan hệ giữa con người với con ngườitrong chiếm hữu TLSX và của cải vật chất được tạo ranhờ những TLSX ấy Mối quan hệ này cần có vật trunggian, môi giới, đó là đối tượng sở hữu, xã hội loàingười không ngừng phát triển, quan hệ sở hữu cũngbiến đổi theo từng hình thái kinh tế – xã hội khác nhau,
vì vậy đối tượng sở hữu cũng biến đổi theo Lịch sử đãcho thấy, đối tượng sở hữu đã có những thay đổi quatừng thời kỳ, chẳng hạn từ sở hữu vật tự nhiên quýhiếm, sở hữu nô lệ, đất đai đến sở hữu tiền, tư bản,TLSX hiện đại (máy móc)
Ngày nay, trong nền kinh tế hàng hóa vận động theo
cơ chế thị trường, đối tượng sở hữu ngày càng được mởrộng, không chỉ sở hữu về TLSX, vật phẩm tiêu dùngmà còn sở hữu vốn (tài chính, khả năng sinh lời) đâylà xu hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.Bên cạnh đó, dưới sự tác động mạnh mẽ của khoa học,công nghệ, đã đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanhchóng làm xuất hiện đối tượng sở hữu mới là sở hữutrí tuệ Đó là những tri thức có vai trò đặc biệt đến vớiquá trình sản xuất ra của cải vật chất xã hội, chúnglà những phát minh, sáng chế, giải pháp công nghệ :hình dáng, kiểu mẫu, nhãn công nghiệp … Những “trítuệ” đó có chủ sở hữu, chủ quản lý kinh doanh, đượcnhà nước bảo hộ về mặt pháp lý Xu thế hiện nay chothấy, khoa học – công nghệ càng phát triển thì sở hữu trítuệ càng trở thành đối tượng sở hữu quan trọng trongnền kinh tế
c Chế độ sở hữu, các loại hình và các hình thức sở hữu :
* Chế độ sở hữu :
Ở phần trên ta đã tìm hiểu về phạm trù sở hữuvà khi phạm trù sở hữu được luật hóa thành quyền sởhữu và thực hiện qua một cơ chế nhất định gọi là chếđộ sở hữu Chế độ sở hữu bao gồm các quyền như :Quyền sở hữu, quyền quản lý kinh doanh (quyền sửdụng) quyền thực hiện lợi ích kinh tế, quyền chi phốiquyền quản lý
Chế độ sở hữu là vấn đề căn bản nhất của chếđộ kinh tế – xã hội nó là căn cứ để giải quyết cácvấn đề lợi ích kinh tế, chính trị và pháp quyền xã hội cụthể là quan hệ sở hữu TLSX quy định mục đích của sảnxuất, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thứcquản lý, cách thức phân phối sản phẩm làm ra, quyếtđịnh cơ cấu giai tầng xã hội, những TLSX chủ yếu củaxã hội thuộc về giai cấp nào thì giai cấp đó chi phối
Trang 8lãnh vực sản xuất & các giá trị vật chất trên cơ sở đócũng nắm quyền thống trị đời sống tinh thần của xãhội.
* Loại hình và hình thức sở hữu :
Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loàingười, mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng gắn liềnmột loại sở hữu đặc trưng, giữ vai trò chủ đạo, đồngthời còn có các loại hình sở hữu cùng tồn tại Thực tiễnlịch sử cho thấy đã có các loại hình sở hữu : công xãnguyên thủy, sở hữu tư hữu nô lệ, sở hữu tư hữu phongkiến, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, sở hữu cônghữu XHCN Nhưng chung quy chỉ có hai loại sở hữu cơ bảnlà công hữu (của chung) và tư hữu (của riêng) Song quamỗi bước tiến của lịch sử mỗi loại hình sở hữu này lạicó các hình thức thể hiện khác nhau ngày nay, cùngvới sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì các loạihình sở hữu cũng thường xuyên đan xen với nhau, hìnhthành các hình thức sở hữu hỗn hợp
2 Vai trò của chế độ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta :
a Vai trò của chế độ sở hữu :
Nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN, việc nhận thức đúng đắn về vấn đề sởhữu và vận dụng chúng đúng quy luật sẽ là nhữngđòn bẩy quan trọng, là nguồn tiềm năng to lớn thúcđẩy sản xuất và kinh tế phát triển Vì vậy chúng ta cầnthấy rõ vai trò quan trọng của sở hữu trong nền kinh tế.Chúng ta cần thấy rõ chính sở hữu quyết định tính chấtxã hội của sự chiếm hữu về TLSX, quyết định mục đíchcủa nền sản xuất ở nước ta, là cơ sở của toàn bộ hệthống quan hệ sản xuất có liên quan và quyết địnhcách quản lý và phân phối Chế độ sở hữu quyếtđịnh hình thái xã hội của sự kết hợp giữa TLSX và sứclao động Trong hệ thống quan hệ sản xuất thì quan hệsở hữu về TLSX quyết định bản chất vận động và pháttriển của các hình thức kinh tế còn các hình thức kinh tếlại là biểu hiện của các hình thức sở hữu Đây là mốiquan hệ giữa nội dung và hình thức, chúng luôn có sựtác động qua lại lẫn nhau và không thể rách rời nhau.sự tác động này có thể diễn ra theo hai hướng tráingược nhau : nếu hình thức kinh tế phù hợp với quan hệsở hữu thì nó thúc đẩy quan hệ sở hữu phát triển, cònnếu hình thức kinh tế không phù hợp với quan hệ sởhữu thì nó kìm hãm sự phát triển Sự tác động lẫn nhaugiữa quan hệ sở hữu với hình thức kinh tế được nối liềnqua khâu trung gian là lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế bao giờ
Trang 9cũng là sự biểu hiện của các quan hệ sở hữu nhưngkhông phải là sự thể hiện thụ động mà là sự tác độngtích cực trở lại đối với quan hệ sở hữu trong xã hội cógiai cấp Thực tế cho thấy sở hữu mà không có lợi íchkinh tế thì sở hữu đó sẽ trở nên vô nghĩa Vì vậy,muốn xác lập được chủ sở hữu đích thực phải gắn sởhữu với lợi ích kinh tế trong mỗi hình thức kinh tế cụ thể.Nước ta là nước XHCN, mục đích của nền sản xuất ởnước ta là sự lợi ích của toàn xã hội và sự phát triểntoàn diện con người Để thực hiện được mục đích cao đẹpnày, trước hết chúng ta phải đa dạng hóa các hình thứcsở hữu nhằm phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất, và sau đó mỗi hình thức sở hữu phảixây dựng được những hình thức kinh tế thích hợp để giảiquyết hài hòa vấn đề lợi ích đầy đủ cho người lao độngvà của của các thành phần kinh tế.
b Tính tất yếu của việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu và các hình thức kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta :
Trước đây do nhận thức không đúng về mô hìnhCNXH nên sau khi nắm chính quyền chúng ta đã nhanhchóng xóa bỏ mọi loại hình sở hữu và xóa bỏ nền kinhtế hàng hóa thiết lập một chế độ công hữu duy ý chí.Điều đó dẫn đến hậu quả là trên thực tế chúng ta đãquay lại với nền kinh tế tự nhiên, khép kín, quay lại chếđộ tập trung, quan liêu, độc đoán là những cái vốn cótrong xã hội phong kiến lỗi thời Đó là những sai lầmthật đáng tiếc, tuy nhiên chúng ta đã kịp thời nhận ranhững sai lầm đó Tại Đại hội Đảng lần thứ II, Đảng tađã thẳng thắng chỉ ra những sai lầm chủ quan, nóngvội, muốn “đốt cháy giai đoạn” trong việc cải tạo cácthành phần kinh tế, muốn đề cao “phong trào”, “thànhtích” trong việc cải tạo và xóa bỏ các thành phần kinhtế “phi XHCN” Đại hội cũng đã khẳng định đặc điểm củathời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là nền kinh tế với
cơ cấu nhiều thành phần Điều này cũng đồng nghĩavới việc khẳng định tính tất yếu của việc đa dạng hóacác hình thức sở hữu và các hình thức kinh tế trong thờikỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Tính tất yếu này là donhững nguyên nhân sau :
Thứ nhất : Do nước ta đi lên CNXH từ xuất phát
điểm rất thấp, lực lượng sản xuất phát triển đưa cao đểcó thể thủ tiêu hoàn toàn chế độ tư hữu để thiết lậphoàn toàn chế độ công hữu nên còn tồn tại nhiều hìnhthức sở hữu là tất yếu, đây là sự minh chứng cho việc
Trang 10tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp vớitính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Thứ hai : Do lực lượng sản xuất phát triển không
đồng đều giữa các vùng, các ngành trong nội bộ từngvùng và do tính chất quá độ từ một nước thuộc địanữa phong kiến đi lên CNXH tất yếu sẽ còn có kinh tế tưbản tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ, thương nhân vàkể cả kinh tế tự nhiên cùng tồn tại trong toàn bộ nềnkinh tế nước ta Chúng ta không thể “xóa bỏ” hay
“chuyển đổi” các thành phần kinh tế một cách chủquan duy ý chí mà chỉ có thể cải biến nó theo yêu cầuvà trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất
Thứ ba : Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ, lực lượng sản xuất ngày càng pháttriển kéo theo sự phát triển của quan hệ sản xuất theohai hướng : một là tập trung và tích tụ sản xuất ngàycàng lớn, hai là tách biệt quá trình sản xuất thànhnhững khâu độc lập nhưng hợp tác với nhau và chịu sựchi phối của toàn xã hội Hai xu hướng này không triệttiêu nhau mà cùng tồn tại song song Chính vì vậy cái hìnhthái kinh tế vẫn phát triển hết sức đa dạng, phong phú
Thứ thư : Kinh tế thị trường không phải chỉ là đặc
trưng riêng của CNTB, nó sẽ và chỉ phát triển lànhmạnh, trên cơ sở của sự phân công lao động xã hội vàsự phát triển bình đẳng của các thành phần kinh tế Vềnguyên tắc, không thể có thị trường đúng nghĩa nếuthiếu các quan hệ sở hữu phát triển và thiếu sự đadạng các hình thức sở hữu Vì vậy, kinh tế thị trường khicó định hướng đúng đắn sẽ là đòn bẩy giúp pháttriển kinh tế một cách hữu hiệu đối với mọi quốc gia,đặc biệt là các nước còn kém phát triển như ta Do đó,việc chuyển đổi hẳn nền kinh tế tập trung quan liêu, baocấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN làmột tất yếu khách quan ở nước ta
II VẤN ĐỀ SỞ HỮU TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở NƯỚC TA :
Ở phần trên chúng ta đã đề cập đến những sailầm trong thời kỳ đầu xây dựng đất nước, hậu quả củanhững sai lầm này là làm cho đất nước lâm vào khủnghoảng kinh tế – xã hội (KT – XH) trầm trọng Văn kiện đạihội (ĐH)VI của Đảng cũng đã khẳng định “Trong nhậnthức cũng như hành động, chúng ta chưa thật sự thừanhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còntồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vữngvà vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệsản xuất (QHSX) với tính chất và trình độ của lực lượng
Trang 11sản xuất (LLSX)” khắc phục sai lầm đó từ Đại hội củaĐảng (12/1986), đại hội khởi đầu sự nghiệp đổi mới chủtrương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đượcnhận thức lại và thực hiện nhất quán Đảng ta đã xácđịnh, nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là một chủtrương chiến lược, lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lênCNXH đồng nghĩa với việc xây dựng nền kinh tế nhiềuthành phần, Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của nhiềuhình thức sở hữu bởi vì mỗi hình thức kinh tế luôn gắnliền với một hình thức sở hữu nhất định Chính vì vậyđể hiểu rõ về nền kinh tế thị trường định hướng XHCNchúng ta cần tìm hiểu về đa dạng hóa các hình thức sởhữu.
1 Chủ trương đổi mới chế độ sở hữu :
Đại hội Đảng lần thứ VI được đánh dấu là đại hộimở đầu cho quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tếnước ta, trong đó nhận thức của Đảng ta về vấn đề sởhữu đã từng bước có sự đổi mới
Thừa nhận trong nền kinh tế có nhiều loại hình sởhữu cùng tồn tại và do đó có nhiều thành phần kinh tếcùng hoạt động Nhưng chế độ công hữu về TLSX lànền tảng của QHSX mới và thành phần kinh tế XHCNmà kinh tế quốc doanh làm nòng cốt phải đóng vai tròquyết định trong nền kinh tế quốc dân, chi phối được cácthành phần kinh tế khác thông qua liên kết kinh tế Việcthừa nhận tồn tại nhiều hình thức sở hữu nhiều thànhphần kinh tế là sự chuyển biến quan trọng nhất trongquan điểm nhận thức của Đảng ta trong Đại Hội Việcthừa nhận nhiều hình thức sở hữu là cơ sở đề ra chínhsách, biện pháp tác động đến quản lý có hiệu quảcác thành phần kinh tế Bởi vì khi đã tồn tại nhiều loạihình sở hữu nhất định sẽ có việc đan xen giữa các loạihình này do nhu cầu về hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa loại hình kinh tế
Như vậy, đến hội nghị lần thứ hai Ban chấp hànhTrung Ương (BCHTU) (khóa VI) Vấn đề chuyển đổi hình thứcsở hữu, vấn đề sở hữu hỗn hợp đối với doanh nghiệpnhà nước đã được đặt ra nhằm làm tăng hiệu quả sảnxuất kinh doanh Đến hội nghị lần thứ ba BCHTU (Khóa VI)hội nghị chuyên đề về đổi mới cơ chế quản lý vấn đềsở hữu trong doanh nghiệp nhà nước mới được đề cậptrực tiếp bao gồm một số nội dung sau :
- Nhiệm vụ cơ bản của xí nghiệp là sản xuất, kinhdoanh có hiệu quả, tự bù đắp các chi phí, tự chịu tráchnhiệm về lỗ lãi, tự tích lũy để phát triển, thực hiệnnghĩa vụ nộp ngân sách và trách nhiệm đối với cơ quan
Trang 12hữu quan Những xí nghiệp hoạt động không có hiệu quảphải được củng cố để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên.Nếu không đủ điều kiện để củng cố và không cầnthiết duy trì nhiều hình thức quốc doanh thì chuyển sanghình thức sở hữu khác, kể cả cho tập thể tư nhân thuê.
Những tư duy mới trên cho thấy rằng, muốn đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế không thể không có điều chỉnhtrong vấn đề sở hữu Tuy nhiên những nghị quyết nêutrên chưa thật cụ thể Đến Hội nghị lần thứ sáu BCHTU(khóa VI) sau khi kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyếtĐại hội Đảng lần thứ VI, những vấn đề sở hữu được đềcặp và làm rõ thêm :
- Các hình thức sở hữu về TLSX có bản chất riêngnhưng trong hoạt động sản xuất kinh doanh không ngăncách nhau mà có nhiều hình thức hỗn hợp, đan kết nhau
- Kinh tế quốc doanh nằm những vị trí then chốt cầncó đủ sức chi phối, thị trường nhưng không nhất thêítchiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề
- Một số xí nghiệp quốc doanh nếu thiếu vốn cóthể dùng hình thức vốn cổ phần hoặc chuyển thành xínghiệp tư bản nhà nước
Với các nội dung về sở hữu đề cập trên đây, Hộinghị lần thứ sáu BCHTU (Khóa VI) đã có những đổi mới
- Khẳng định sở hữu Nhà nước có vai trò, nồng cốttrong các loại hình sở hữu cùng tồn tại, nhưng do yêu cầucủa hoạt động kinh tế, các loại hình này sẽ đan xen nhautrong đó một bộ phận sở hữu nhà nước sẽ chuyểnsang sở hữu hỗn hợp dưới nhiều hình thức cổ phầnhoặc tư bản nhà nước Đây là những nhận thức đầutiên cho sự ra đời của Công ty cổ phần và thành phầnkinh tế tư bản nhà nước sau này
- Kinh tế quốc doanh mà nền tảng là sở hữu toàndân không nhất thiết phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọinghề
Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ(1994) của Đảng, vấn đề sở hữu có một bước tiến rõrệt Khẳng định sở hữu nói riêng QHSX nói chung làmột bộ phận cấu thành hữu cơ của một hình thái KT-XH
Do đó công hữu XHCN là mục tiêu xây dựng một XHmới Trong Hội nghị cũng đã :
- Phân biệt sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhànước, trong đó tài sản, uốn trong doanh nghiệp nhà nướcchỉ là một bộ phận của sở hữu nhà nước được nhànước đầu tư Ngoài ra, nhà nước còn chủ sở hữu củacác nguồn vốn và tài nguyên khác được giao cho cácthành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước