Bộ môn Triết học Tiểu luận môn học Chủ đề: Phân tích tư tưởng triết học của thuyết Âm dương Ngũ hành, trình bày và đánh giá các quan điểm triết học xã hội của Nho giáo Học viên: Mai
Trang 1Bộ môn Triết học
Tiểu luận môn học
Chủ đề: Phân tích tư tưởng triết học của thuyết
Âm dương Ngũ hành, trình bày và đánh giá các quan điểm triết học xã hội của Nho giáo
Học viên: Mai Văn Phú Líp cao học Công Nghệ Thông Tin khoá 13.
HÀ NỘI 12-2001
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 2-Lịch sử triết học là lịch sử phát triển của tư tưởng triết học qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, trước hết là sự phát sinh, hình thành và phát triển của hai khuynh hướng triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
-Lịch sử triết học từ cổ đại đến nay là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm nhằm giải quyết vấn đề quan hệ giữa vật chất và
ý thức, giữa tồn tại và tư duy hay giữa tự nhiên và tinh thần Đó là "cuộc đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập" trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng triết học
-Lịch sử triết học cho ta khả năng hiểu biết và khái quát sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại, nắm được những kinh nghiệm của sự nhận thức khoa học, sự hình thành và phát triển của những phương pháp nhận thức khoa học, góp phần xây dựng phương pháp tư duy đúng đắn trong cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luận hiện nay, đồng thời giúp chúng ta thâu tóm trí tuệ của mỗi thời đại lịch sử được kết tinh trong triết học
Để góp phần hiểu rõ hơn về một trong những giai đoạn lịch sử triết học
đã được học tập, nghiên cứu, tiểu luận này tập trung "Phân tích tư tưởng triết
học của thuyết Âm dương Ngũ hành, trình bày và đánh giá các quan điểm triết học xã hội của Nho giáo"
Tiểu luận này được bố cục thành hai phần:
-Phần 1: Phân tích tư tưởng triết học của thuyết Âm dương Ngũ hành.
Trang 3-Phần 2: Trình bày và đánh giá các quan điểm triết học xã hội của Nho giáo
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong khoa khoa học xã hội - Học viện kỹ thuật quân sự mà trực tiếp là các thầy giáo bộ môn triết học đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức vô cùng quý báu để hoàn thiện bài viết này
Do trình độ còn nhiều hạn chế, rất mong được sự cổ vũ, góp ý của các thầy giáo cùng toàn thể các bạn
Trang 4Phần I PHÂN TÍCH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THUYẾT
ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh và phát triển của triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế, xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đương thời Triết học Trung Quốc cổ đại hình thành từ cuối thiên niên kỷ thứ II, đầu thiên niên kỷ thứ I trước Công Nguyên và phát triển rực rỡ nhất vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc, thời kỳ mà xã hội Trung Quốc có những biến động lịch sử hết sức sâu sắc Với thành quả hết sức phong phú và sâu sắc của mình, triết học Trung Quốc cổ đại đã đặt cơ sở to lớn cho sự phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc sau này Các nhà nghiên cứu triết học còn cho rằng nếu như Phương Đông là chiếc nôi to lớn của văn minh nhân loại thì Trung Quốc và Ên
độ là những trung tâm văn hoá và triết học cổ xưa, rực rỡ và phong phú nhất của nền văn minh Êy
Trường phái triết học Âm dương gia là một trong những trường phái của triết học Trung quốc cổ đại, nó cố gắng tìm hiểu giải thích căn nguyên và cơ cấu của vũ trụ với quan điểm duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát, lấy chính tự nhiên để giải thích tự nhiên Trường phái Âm dương gia gồm hai học thuyết chính: Âm dương và Ngũ hành
Thuyết Ngũ hành xuất hiện rất sớm, khoảng thế kỷ 20 trước công nguyên, được chép trong Kinh thư với hai tên là Hồng phạm và Cửu trù Đây
là quan niệm về vũ trụ, vạn vật, tâm lý, và chính trị xã hội của người Trung quốc cổ đại, được xây dựng dựa trên các quan sát thực nghiệm của họ trong
Trang 5giai đoạn nông nghiệp sơ khai Thuyết Ngũ hành gồm hai phạm trù chính là Ngũ hành và Ngũ sự Ngũ hành gồm năm yếu tố tự nhiên: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Năm yếu tố này là những yếu tố tự nhiên gắn liền với hoạt động sản xuất của người Trung quốc cổ, mà qua lao động họ cho đó là những yếu tố cơ bản tạo ra vũ trụ, vạn vật Qua quan sát họ thấy các yếu tố này quan hệ biện chứng với nhau, chúng liên hệ, tương tác, thâm nhập chuyển hoá lẫn nhau tạo
ra hai quá trình mâu thuẫn, thống nhất là tương sinh và tương khắc Kim là kim loại nên có thể chặt được gỗ nên khắc mộc, khi bị nấu chảy ở dạng lỏng như nước nên sinh thuỷ; Mộc có rễ bám sâu vào đất nên khắc thổ, khi cháy sinh ra lửa nên sinh hoả; Thuỷ dập tắt lửa nên khắc hoả, tưới cho cây nên sinh méc; Hoả có thể nấu chảy được kim loại nên khắc kim, khi cháy sinh ra tro nên sinh thổ; Thổ có thể ngăn được nước nên khắc thuỷ, có chứa các mỏ kim loại nên sinh kim Dựa vào quan hệ biện chứng tự phát đó mà Ngũ hành có thể tạo ra vạn vật, vì thế các yếu tố trên còn được gọi là các hành Ngũ hành tương sinh là quá trình các yếu tố tác động chuyển hoá lẫn nhau, tạo ra sự biến chuyển liên hoàn trong vũ trụ Ngũ hành tương khắc là quá trình các yếu tố đối lập nhau tạo ra sự ràng buộc chế ước lẫn nhau Đây chính là tính chất duy vật chất phác của Ngũ hành, qua đó người Trung quốc cổ đã dùng chính các yếu tố tự nhiên để giải thích tự nhiên, đối lập với các trường phái triết học khác thời đó
Phạm trù Ngũ sự là tương ứng với Ngũ hành trong giải thích con người
và xã hội Ngũ sự gồm: Mạo, ngôn, thị, thính , tư Mạo là dung mạo phải kính cẩn, ngôn là lời nói phải thuận theo lẽ phải, thị là trông nhìn phải sáng suốt, tính là nghe phải rõ ràng, tư là suy nghĩ phải thấu suốt Kính làm cho nghiêm, thuận làm cho đều, sáng suốt làm cho khôn, rõ ràng làm cho nhanh nhẹn, sâu
Trang 6làm cho thánh Ngũ sự dựa vào các giác quan trực tiếp của con người để rèn luyện, uốn nắn con người, hướng họ vào các hành động đúng đắn
Không chỉ giải thích tự nhiên, Ngũ hành còn biểu hiện tính chất, năng lực của con người cũng như các quan hệ xã hội và biến cố lịch sử Thuyết Ngũ hành cho rằng, quá trình của lịch sử loài người cũng bị ngũ hành chi phối
và cũng vận động theo quy luật của ngũ hành Trong lịch sử, mỗi một triều đại xuất hiện đều thể hiện một thế lực của Ngũ hành và sự thay đổi của các triều đại là theo quy luật Ngũ hành tương khắc
Cùng với thuyết Ngũ hành, học thuyết Âm dương là quan điểm về vũ trụ quan trọng nhất của triết học Trung quốc cổ đại Nếu Ngũ hành chủ yếu giải thích cơ cấu vũ trụ thì Âm dương lại đi sâu vào lý giải nguồn gốc và sự biến đổi của vạn vật trong thế giới, thể hiện triết lý vũ trụ, triết lý nhân sinh sâu sắc, phong phó
Theo Âm dương: Sự biến dịch trong vũ trụ từ vô cực đến thái cực; thái cực sinh lưỡng nghi (nghi âm, nghi dương); lưỡng nghi sinh tứ tượng (thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm) tứ tượng sinh bát quái … từ đó sinh ra muôn loài Vạn vật sinh ra đều thuận lẽ tính mệnh và làm tròn đạo biến hoá, phân tán ra thì muôn phần khác khác nhau, thống nhất về đạo thì chỉ là một Như vậy, nguyên lý tối cao và nguồn gốc biến hoá của mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ là sự liên hệ, tác động lẫn nhau giữa hai thế lực âm dương trong thái cực Thái cực là nguyên thể đầu tiên của thế giới, bao hàm trong nã hai mặt đối lập: "âm", "dương" Sau đó, trong sự phát triển tiếp theo, âm dương là hai thế lực cơ bản của vụ trụ, tiềm Èn trong thái cực, biểu thị và chi phối mọi vật trong thế giới, từ tự nhiên đến xã hội, từ đạo trời đến đạo người, từ cái đơn
Trang 7giản đến cái phức tạp, từ cỏ cây động vật đến con người như trời đất, sáng tối, nóng và lạnh, động và tĩnh, nặng và nhẹ, thể chất và tinh thần, vua và tôi, cha
và con, chồng và vợ, chính và tà, hàn và nhiệt… Trong thái cực, âm dương là hai mặt, hai thế lực hoàn toàn đồng đẳng với nhau, vừa đối lập, thúc đẩy và chế ước lẫn nhau, liên hệ, hấp dẫn và tương tác với nhau Có âm mới có dương, trong âm có dương và ngược lại Chính từ sự đối lập, liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa hai mặt trong một thể thống nhất là thái cực mà tạo ra trời đất, bốn mùa, các yếu tố cơ bản của vạn vật và làm nảy sinh vạn vật, muôn loài phong phú, khiến cho sự vật, hiện tượng biến hoá không ngừng Đây là tư tưởng thể hiện rõ tính chất duy vật chất phát, qua đó khẳng định tự nhiên có trước, sau mới có loài người rồi mới có các quan hệ xã hội Thuyết
Âm dương cũng khẳng định thế giới vận động vĩnh viễn, sự vật luông phát triển không ngững theo chiều hướng mới và theo mét quy luật nhất định, từ đó phủ nhận quan điểm siêu hình xem sự vật cũ là vĩnh viễn, không thay đổi
Hạn chế của thuyết Âm dương là họ vẫn hiểu quá trình vận động chung của thế giới là quá trình tuần hoàn, quy luật biến đổi của sự vật nằm trong vòng tuần hoàn đó Thêm nữa, ở đây vẫn còn nhiều yếu tố của chủ nghĩa duy tâm thần bí, gán trật tự xã hội cho tự nhiên rồi lại dùng hình thức đó để chứng minh sự tồn tại vĩnh viễn của chế đội đẳng cấp xã hội
Tóm lại: Học thuyết Âm dương, Ngũ hành là kết quả của quá trình khái quát những kinh nghiệm thực tiễn của người Trung quốc cổ đại Tuy mang tính trực quan chất phác và còn những quan điểm duy tâm thần bí về lịch sử
xã hội, nhưng thuyết Âm dương Ngũ hành đã bộc lộ rõ là trường phái duy vật
và tư tưởng biện chứng tự phát trong việc tìm hiểu, giải thích căn nguyên và
Trang 8cơ cấu vũ trụ, cũng như sự vận động và biến hoá của sự vật hiện tượng trong
tự nhiên và xã hội
Trang 9Phần II Trình bày và đánh giá các quan điểm triết học
xã hội của Nho giáo.
Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung quốc
cổ đại, trong đó người sáng lập là Khổng tử, hai người kế tục nối tiếng là Mạnh tử và Tuân tử Khổng tử là người đặt nền tảng cho nho giáo còn Mạnh
tử và Tuân tử đã phát triển các quan điểm của Khổng tử theo hai hướng khác nhau là duy tâm và duy vật
a- Triết học Khổng tử
Nền tảng của triết học Khổng tử là học thuyết Âm dương Ngũ hành, ông
đã vận dụng học thuyết này với cả tính chất tích cực là duy vật chất phát, biện chứng tự phát lẫn tính chất tiêu cực là duy tâm thần bí vào việc nghiên cứu xã hội và con người Bên cạnh đó ông còn phát triển những quan điểm nhân sinh độc đáo mà trọng tâm là học thuyết về luân lý, đạo đức, chính trị xã hội với tư tưởng "thiên nhân tương đồng" Những nguyên lý cơ bản như nhân, lễ, trí, dũng … cùng với một hệ thống quan điểm về chính trị xã hội như nhân trị, chính danh, thượng hiền, quân tử, tiểu nhân đã hình thành một triết học xã hội độc đáo có tác động sâu rộng ở Trung quốc và một số nước châu Á cho đến ngày nay Trong những phạm trù trên, chữ "nhân" được ông đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhÊt, nó là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người, từ gia đình đến xã hội Nó liên quan đến các phạm trù đạo đức chính trị khác như là một hệ thống triết lý chặt chẽ, nhất quán, tạo thành bản sắc riêng trong triết lý nhân sinh của Khổng tử
Trang 10Căn nguyên của điều đó là: về mặt lý luận, ông cho rằng các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ biến đổi không ngừng dưới sự chi phối của "thiên lý" và
"đạo" Sự hình thành, biến hoá Êy cả vạn vật bao giờ cũng nhờ sự "trung hoà" giữa âm dương, trời đất, trong đó "trung" là cái gốc lớn của thiên hạ, từ đó mà mọi vật nảy sinh, tiến hoá; "hoà" là đạo thông đạt của thiên hạ, nhờ đó mà mọi vật thông hành Con người là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm dương, trời đất
mà sinh thành, tuân theo "thiên lý" hợp với đạo "trung hoà" do vậy đạo sống của con người là phải trung dung, trung thứ, tức là phải sống đúng với mình
và sống phải với người - đó chính là chữ "nhân" Bên cạnh đó, do yêu cầu của thực tiễn lịch sử xã hội Trung quốc thời kỳ đó là phải ổn định và cải biến xã hội đương thời nên xuất hiện và duy trì tư tưởng "Nhân đức" để giáo hoá con người, cải tạo xã hội
Khi diễn giải nội dung đức "Nhân", Khổng tử đã thể hiện ý nghĩa rộng lớn, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, theo đó người có đức nhân phải đạt được năm điều: cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung từ không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín là người tin cậy, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người Nhân còn là biết thương người, biết ghét người, biết trước làm những điều khó, sau mới nghĩ tới thu hoạch kết quả Như vậy, đức nhân là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người, nên nhân chính
là đạo làm người
Từ việc xác định nguyên lý đạo đức cơ bản trên, Khổng tử chủ trương
"nhân trị", tức là muốn ổn định trật tự xã hội phải giáo hoá đạo đức và thực hiện chính sách "chính danh, định phận" Theo chính sách đó, Khổng tử chia quan hệ xã hội thành những mối quan hệ cơ bản, gọi là luân, gồm các quan hệ
Trang 11chính: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè … trong đó đặc biệt nhấn mạnh quan hệ vua tôi và cha con
Đối với quan hệ vua tôi, ông chống lại việc duy trì ngôi vua theo huyết thống với chủ trương "thượng hiền" không phân biệt đẳng cấp xuất thân Vua phải chăm lo cho dân đủ ăn, giữ lòng tin của dân Bề tôi phải trung thành với vua Mọi người phải làm theo đúng chức phận của mình Đối với quan hệ cha con, con phải lấy chữ hiếu làm đầu, cha phải lòng từ ái làm trọng
Bên cạnh đức nhân, Khổng tử rất chú trọng "Lễ" Lễ ở đây là những quy phạm, nguyên tắc đạo đức của nhà Chu Theo ông: thiên hạ vô đạo là do vua không giữ đúng đạo vua, tôi không giữ đạo tôi, cha không giữ đạo cha, con không giữ đạo con, do vậy phải dùng lễ để khôi phục trật tự, phép tắc luân lý
xã hội, như vậy mọi người trở về với đạo "nhân" và trở thành chính danh Lễ với nhân quan hệ rất mật thiết: nhân là chất, là nội dung còn lễ là hình thức biểu hiện của nhân, không có nhân thì lễ chỉ là cái hư văn, sáo rỗng
Trong triết học của Khổng tử, các phạm trù: nhân, lễ, trí, dũng, chính danh định phận có nội dung rất phong phú, thống nhất với nhau và có trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó mà giải đáp những vấn đề đặt ra của lịch sử, đây là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh của ông Bên cạnh
đó, học thuyết triết học Khổng tử luôn chứa đựng mâu thuẫn, giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vật vô thần với những yếu tố duy tâm, giữa những
tư tưởng tiến bộ với những quan điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng bị giằng xé của ông trước những biến chuyển của thời cuộc
b-Triết học Mạnh tử.
Trang 12Vào thời Chiến quốc, Mạnh tử đã phát triển quan điểm duy tâm trong triết học Khổng tử thành hệ thống triết học duy tâm Nho giáo, trong đó Mạnh
tử đã phát triển tư tưởng "thiên mệnh" của Khổng tử và đẩy thế giới quan tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm, cho rằng vũ trụ, vạn vật tồn tại trong ý thức chủ quan và trong quan niệm đạo đức Trời phú cho con người Tư tưởng chủ yếu nhất trong học thuyết của Mạnh tử là triết lý nhân sinh mà trọng tâm là học thuyết về "tính thiện" Ông cho rằng, bản tính con người ta là thiện, những khi làm điều bất thiện chẳng qua là học theo tư dục của mình Lý giải về tính thiện, ông cho rằng tính thiện của con người được biểu hiện ở bốn đức lớn: nhân, lễ, nghĩa, trí, bắt nguồn từ tứ đoan, bốn đầu mối của thiện là trắc Èn, u
tố, từ nhượng, thị phi Trắc Èn là đầu mối của nhân, u tố là đầu mối của nghĩa,
từ nhượng là đầu mối của lễ và thị phi là đầu mối của trí Thiện đoan là bản chất vốn có của con người do Trời phú, nếu biết nuôi dưỡng, khuyếch đại thiện đoan thì như lửa bắt đầu cháy, suối bắt đầu chảy, mỗi ngày một lớn mạnh Người có tính thiện biết giữ phần quý, bỏ phần hèn, giữ cái cao đại, bỏ cái ti tiện thì có thể trở thành thánh nhân
Về những vấn đề chính trị xã hội, trên nền tảng thế giới quan duy tâm, Mạnh tử đã tuyên truyền cho chủ nghĩa thần quyền, theo đó, chính quyền là do Trời ban cho và thông qua vua chúa hiền minh để thực hiện ý chí của trời; thành nhân là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển Xã hội có hai hạng người, người lao tâm và người lao lực, hạng thứ nhất là lo trị dân, hạng thứ hai phải phục tùng và làm việc nuôi sống hạng thứ nhất, sự đối lập giữa hai hạng người
là trật tự hợp lý, vĩnh viễn
Bên cạnh những quan điểm tiêu cực trên, Mạnh tử lại có một phát triển quan trọng tư tưởng "nhân trị" của Khổng tử, ông đề ra tư tưởng "nhân chính"