ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ XUÂN TÍN TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƢƠNG “QUANG HỌC” VẬT LÍ 7 THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƢỢC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ngành Lý luận và PPDH[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ XUÂN TÍN
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “QUANG HỌC” VẬT LÍ 7 THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
Phản biện 1: TS.Nguyễn Thanh Hải
Phản biện 2: TS Phùng Việt Hải
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Khoa học giáo dục họp tại Trường Đại học Sư phạm vào ngày 20,21 tháng 8 năm 2022
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
- Khoa Vật lý, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Trong thời kì công nghệ 4.0 phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì việc dạy học kết hợp sử dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy quá trình học tập bên ngoài lớp học là một xu thế đã và đang ngày càng phổ biến trong giáo dục thế giới Do đó, chúng ta cần đổi mới
hệ thống giáo dục để đáp ứng xu thế phát triển của thế giới là nhu cầu cần thiết hiện nay
Để chủ động hội nhập quốc tế về phát triển giáo dục, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ban hành nghị quyết
số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Ngành giáo dục Việt Nam định hướng nhiệm vụ quan trọng là đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy năng lực và phẩm chất học sinh
Để đáp ứng yêu cầu về đổi mới giáo dục, trước hết cần đổi mới phương pháp giảng dạy Đổi mới phương pháp giảng dạy là đổi mới cách truyền đạt kiến thức của giáo viên, cách tiếp thu kiến thức của học sinh Tuy nhiên, vấn đề mà nền giáo dục đặt ra là tinh thần tự học của học sinh, khả năng tự tư duy của học sinh còn hạn chế Chính vì vậy, một trong những yếu tố quan trọng để phát triển các phẩm chất và năng lực đó chính là khả năng tự học của học sinh Tự học, tự nghiên cứu sẽ giúp học sinh tự chủ về kiến thức, nâng cao khả năng tìm tòi và sáng tạo của học sinh Do đó, năng lực tự học của học sinh cần được rèn luyện, bồi dưỡng ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Kĩ năng tự học của học sinh còn hạn chế bởi tác động của cách học truyền thống Đối với lớp học truyền thống, học sinh đến trường nghe giảng rồi sau đó về nhà làm bài tập Lúc này cha mẹ trở thành
Trang 4người giáo viên bất đắt dĩ và hầu hết các bậc phụ huynh đều không đạt được kết quả mong muốn Như vậy, nhiệm vụ truyền đạt kiên thức mới_ theo thang tư duy bloom thì là bậc “biết” và “hiểu” _ thì thuộc về giáo viên Còn nhiệm vụ của học sinh là làm bài tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nhiệm vụ thuộc bậc cao Điều đó có nghĩa nhiệm vụ bậc cao lại do học sinh và phụ huynh không có chuyên môn đảm nhận Điều đó đã phần nào hạn chế, kìm hãm khả năng tự học của học sinh cũng như hạn chế sự phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
Lớp học đảo ngược là mô hình dạy học hiện đại vừa có thể khắc phục những nhược điểm của lớp học truyền thống, vừa phát huy được phẩm chất, năng lực của học sinh theo Nghị quyết của TW Đảng nói chung và năng lực tự học của học sinh nói riêng Đồi với lớp học đảo ngược, giáo viên là người hướng dẫn, học sinh chuyển từ tiếp thu kiến thức một cách thụ động sang chủ động tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình tìm tòi, khám phá kiến thức qua bài giảng giáo viên đã cung cấp Ở lớp, học sinh phản hồi, tương tác với bạn bè, với giáo viên những kiến thức chưa hiểu, luyện tập và nâng cao kiến thức
Mặt khác, Vật lí là một trong các môn học vừa có lý thuyết vừa
có thực nghiệm Do đó việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học trong môn Vật lí là điều cấp thiết Trong chương trình Vật lí THCS, nội dung kiến thức của chương Quang học (Vật lí 7) có thể áp dụng
mô hình lớp học đảo ngược để dạy học một số kiến thức mới, làm bài tập vận dụng và giải thích một số hiện tượng trong thực tế một cách hiệu quả
Trang 5Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức dạy học chương “Quang học” Vật lí 7 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh”
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Mô hình lớp học đảo ngược chính thức ra đời vào mùa xuân năm 2007, nó được biết đến như một đáp án tối ưu cho bài toán làm cách nào để tăng thời gian hỗ trợ của giáo viên cho những thời điểm học sinh cần đào sâu kiến thức nhất Tại Mỹ, sau khi thành lập vào tháng 1/2014, tổng số giáo viên tham gia mạng lưới dạy học này tăng
từ 2500 lên đến 20000 vào tháng 6/2014
Ở Việt Nam, mô hình lớp học đảo ngược được biết đến vài năm gần đây Hầu hết mô hình được biết đến thông qua các bài giới thiệu trên báo chí, trang tin của các cở sở giáo dục đào tạo Một số bài báo nghiên cứu về lớp học đảo ngược như “Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học ca dao” của các tác gải trường Đại học Quốc gia Hà Nội Hay là trên trang vnexpress.net có bài “Lớp học đảo ngược” v.v Mô hình này được đánh giá cao trong phát triển năng lực tự học của học sinh, phát triển theo hướng lấy người học làm trung tâm, từ đó hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực cho người học
Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược để phát triển năng lực tự học của học sinh ở việt Nam còn hạn chế Đa số chỉ
là nghiên cứu hoặc chỉ áp dụng trong môi trường đạo tạo đại học, cấp THPT mà chưa được ứng dụng rộng rãi ở các cấp học khác Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài theo hướng áp dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh ở cấp THCS nói chung và bộ môn Vật lí lớp 7 nói riêng
Trang 63 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế tiến trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược chương “Quang học” Vật lí 7 nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh
4 Giả thuyết khoa học:
Nếu thiết kế và tổ chức được các tiến trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược chương “Quang học” Vật lí 7 thì sẽ phát triển được năng lực tự học của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lí THCS
5 Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu:
5.1 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học Vật lí 7 ở trường trung học cơ sở
5.2 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động dạy và học kiến thức chương “Quang học” Vật lí 7 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh
6 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Chương Quang học – Vật lí 7
- Phạm vi không gian: Học sinh lớp 7 trường THCS Nguyễn Văn Cừ- quận Sơn Trà – thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi thời gian: Thời gian học sinh học chương Quang học từ đầu chương trình học kì 1 của năm học 2021-2022
7 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học phát triển năng lực tự
học cho học sinh
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về môi trường dạy học trên mạng
- Văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về chương trình GDPT tổng thể 2018, tài liệu về năng lực tự học của học sinh
Trang 7- Nghiên cứu xây dựng tiến trình và tổ chức dạy học kiến thức chương “Quang học” ở trường THCS nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh
- Nghiên cứu đặc điểm, yêu cầu của môi trường dạy học theo
mô hình lớp học đảo ngược
- Khảo sát thực tiễn và lựa chọn mức độ áp dụng tại đơn vị nghiên cứu
- Thiết kế tiến trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược kiến thức chương “Quang học” nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THCS và sử dụng toán thống kê để kiểm tra đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của
đề tài
8 Phương pháp nghiên cứu:
8.1 Nghiên cứu lí luận:
8.2 Nghiên cứu thực tiễn:
8.3 Thực nghiệm sư phạm:
8.4 Thống kê toán học:
9 Cấu trúc của luận văn:
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của mô hình lớp học đảo ngược
trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học chương “Quang học” Vật lí 7
theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 1.1 Năng lực tự học
1.1.1 Khái niệm tự học
Từ một số quan điểm, tôi rút ra được khái niệm tự học như sau:
Tự học là sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho mình Quá trình này yêu cầu mỗi người phải
tự mình quan sát, học hỏi và tổng kết lại kiến thức cho bản thân Tự học là tự bản thân mình nghiên cứu, tìm tòi các kiến thức cần thiết để phục vụ cho nội dung học Tư học sẽ giúp người học hình thành sự
tự giác, chủ động và sáng tạo trong quá trình hình thành kiến thức mới
1.1.2 Khái niệm năng lực tự học
1.1.2.1 Năng lực
Trong luận văn này, tôi lựa chọn định nghĩa về năng lực dựa trên chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể của Việt Nam: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” làm cơ sở lý luận cho luận văn này
Trang 91.1.3 Cấu trúc và các chỉ số hành vi của năng lực tự học
M1: Trình bày được kiến thức, kĩ năng cần học do giáo viên xác định M2: Tự xác định được kiến thức, kĩ năng cần học
M3: Tự xác định được hệ thống kiến thức, kĩ năng cần học
XĐ2 Xác
định kiến thức, kĩ năng liên quan đã
có, đã biết
M1: Trình bày được một vài kiến thức, kĩ năng liên quan đã có, đã biết dưới sự gợi ý của giáo viên hoặc tài liệu
M2 Tự xác định hầu hết kiến thức, kĩ năng liên quan đã có, đã biết
M3: Tự xác định toàn bộ kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết
2 LK lập kế
hoạch tự học
LK1 M1
M2 M3
Trang 10tự nghiên cứu của HS
1.1.5 Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh
1.2 Cơ sở lí luận của mô hình lớp học đảo ngƣợc
1.2.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược
Các quan điểm tuy khác nhau về LHĐN nhưng đều nói về sự đảo chiều của PPDH truyền thống, là nơi mà HS có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bên ngoài lớp học, thường là qua các bài đọc hoặc video bài giảng Sau đó thời gian trên lớp sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề khó hơn là lĩnh hội kiến thức thông qua các chiến lược như giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận Bản chất giờ học trên LHĐN tập trung giải quyết các nội dung vốn trước đây được coi là bài tập về nhà và dành nhiều thời gian hơn cho việc thảo luận, đào sâu kiến thức
1.2.2 Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược
Về mặt lí luận, mô hình này dựa trên cơ sở lí thuyết về học tập tích cực (active learning) giúp tạo ra môi trường tích cực khuyến khích tính tự chủ trong học tập vì người học có cơ hội học tập theo nhịp độ riêng của mình và từ đó có trách nhiệm với việc tự xây dựng kiến thức cho bản thân thay vì chờ sự truyền đạt tri thức của thầy cô
Trang 11Theo thang cấp độ nhận thức của Bloom thì mô hình dạy học này giúp người học phát triển nhận thức qua từng cấp bậc: ghi nhớ, hiểu khi tiếp cận với tài liệu, và sau đó ứng dụng, phân tích, tổng hợp khi
xử lý thông tin, xây dựng kiến thức thông qua các hoạt động học tập
do GV tổ chức trên lớp
1.2.3 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Có thể tóm tắt sự khác nhau giữa lớp học đảo ngược và lớp học truyền thống như sau: [16]
Bảng 1.2 Sự khác biệt giữa LHĐN và lớp học truyền thống
Không phù hớp với thang tư
duy Bloom vì người thầy có
nhiệm vụ truyền đạt kiến
thức (nhiệm vụ bậc thấp)
Còn nhiệm vụ của HS là
làm bài tập vận dụng
(nhiệm vụ bậc cao của
thang tư duy bao gồm “Ứng
Phù hợp với thang tư suy Bloom là
do đã có sự đảo ngược Nhiệm cụ của HS là tìm hiểu kiến thức ở những bậc thấp “Biết” và “Hiểu”, còn GV là người giúp đỡ HS trong quá trình khám phá và mở rộng thông tin, đồng thời rèn luyện khả năng tư duy ở những bậc cao hơn
Trang 12nghệ dạy học trong giảng
dạy còn hạn chế
Ứng dụng CNTT, công nghệ dạy học trong giảng dạy nhiều hơn, hiện đại hơn
HS không có nhiều thời
gian để trao đổi với GV nếu
không hiểu kĩ bài giảng
HS chưa hiểu kĩ bài giảng có nhiều thời gian hơn để trao đổi với GV
1.2.4 Ưu và nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược
1.2.4.1 Ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Khuyến khích việc học lấy học sinh làm trung tâm
Thời gian của tiết học trên lớp được sử dụng hiệu quả hơn
Tăng sự hứng thú của HS với các giờ học trên lớp
Tăng cường khả năng tương tác giữa HS với HS, giữa HS với
GV
HS tiếp thu tốt hơn và có thể được chuyển tiếp đến các chương trình học cao hơn mà không ảnh hưởng đến các bạn còn lại
Tạo cơ hội cho phụ huynh biết tình hình lớp học
1.2.4.2 Nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược:
Khó khăn khi học sinh không tiếp cận được công nghệ
GV cần có kĩ năng về CNTT
Sự thành công của mô hình lớp học đảo ngược phụ thuộc vào ý thức học tập của HS
1.2.5 Vai trò của mô hình lớp học đảo ngược
Lớp học đảo ngược là một môi trường học tập linh hoạt, giúp học sinh phát huy tối đa các khả năng tiềm ẩn của bản thân HS có
Trang 13thể lựa chọn cách thức, nơi học tập, thời gian và nhip độ học tập tuỳ theo điều kiện của cá nhân Do đó, HS trở nên có trách nhiệm với việc tiếp cận kiến thức thay vì chờ đợi sự truyền đạt kiến thức từ thầy
cô giáo (tiếp cận tri thức bị động) LHĐN giúp tăng cường sự tương tác giữa học sinh và giáo viên Mô hình LHĐN giúp HS phát triển nhận thức qua từng cấp bậc: ghi nhớ, hiểu (tiếp cận với tài liệu), và sau đó là ứng dụng, phân tích, tổng hợp xử lý thông tin
1.2.6 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của mô hình lớp học đảo ngược
Lớp học đảo ngược đảm bảo nguyên tắc phải lấy người học làm trung tâm Thời gian ở trên lớp dành để giúp HS khám phá các chủ
đề kiến thức sâu hơn và tạo ra những cơ hội học tập sinh động
1.2.7 Tiến trình tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược
Bước 1 Trước giờ học trên lớp: GV tạo video bài giảng hoặc
hướng dẫn HS tự khai thác các bài giảng trên mạng HS tự học, tự nghiên cứu video bài giảng của GV, làm các bài tập trực tuyến, gửi các vấn đề thắc mắc cần giải quyết
Bước 2 Trong giờ học trên lớp: GV chủ yếu hướng dẫn HS làm
bài tập, tìm hiểu các kiến thức HS chưa hiểu, tìm ra những cách thức làm bài hay và tối ưu nhất Mục đích chính của bước này là GV hướng dẫn HS đào sâu kiến thức
Bước 3 Sau giờ học trên lớp: GV sẽ hướng dẫn và giải đáp các
thắc mắc của HS qua mạng những nội dung trao đổi trên lớp chưa
hoàn thiện Sau bước 3, GV chuyển sang bước 1
1.2.8 Thiết kế thang đo và công cụ đánh giá năng lực tự học của
HS
Tôi đã lập được bảng thang đo NLTH theo các mức độ đạt được