Đối với môn Vật lí, trên cơ sở bám sát mục tiêu và đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình môn Vật lí, giáo viên có thể lựa chọn các trang web, các app dạy học, các tài nguyên video, hì
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
8 Đóng góp của đề tài 5
9 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬT LÍ CHO HỌC SINH THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 6
1.1 Năng lực Vật lí 6
1.1.1 Khái niệm năng lực và phân loại năng lực 6
1.1.2 Khái niệm năng lực Vật lí 7
1.1.3 Cấu trúc và các biểu hiện hành vi của năng lực Vật lí 9
1.1.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực Vật lí cho học sinh THPT 10
1.2 Cơ sở lí luận của mô hình lớp học đảo ngược 11
1.2.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược 11
1.2.2 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược 14
1.2.3 Tác dụng của mô hình lớp học đảo ngược 15
1.2.4 Các giai đoạn tổ chức học tập theo mô hình lớp học đảo ngược 16
1.2.5 Ưu, nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược so với lớp học truyền thống 17
1.2.6 Nguyên tắc tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 19
1.2.7 Vai trò của một số công cụ hỗ trợ giảng dạy trong mô hình lớp học đảo ngược 21
Trang 71.2.8 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy
– học trong mô hình lớp học đảo ngược 22
1.3 Qui trình tổ chức dạy học phát triển năng lực Vật lí của học sinh theo mô hình lớp học đảo ngược 24
1.4 Xây dựng các tiêu chí đánh giá NLVL cho HS theo mô hình lớp học đảo ngược 26
1.4.1 Khái niệm đánh giá thường xuyên 26
1.4.2 Mục đích của đánh giá thường xuyên 26
1.4.3 Phương pháp, công cụ đánh giá thường xuyên 26
1.4.4 Xây dựng Rubrics đánh giá năng lực vật lý 27
1.5 Thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Vật lí theo hướng phát triển năng lực Vật lí của HS ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay 40
1.5.1 Mục đích điều tra 40
1.5.2 Nội dung và phương pháp điều tra 41
1.5.3 Kết quả điều tra 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 54
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CÁC KIẾN THỨC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA” – VẬT LÍ 12 THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 55
2.1 Phân tích đặc điểm, mục tiêu dạy học của chương “Dao động điều hòa” 55
2.1.1 Đặc điểm của chương “Dao động điều hòa” 55
2.1.2 Nội dung kiến thức của chương “Dao động điều hòa” 55
2.2 Tiến trình chung dạy học các nội dung trong chủ đề “Dao động điều hòa” 56
2.2.1 Tiến trình dạy học chủ đề “Dao động điều hòa” 58
2.2.2 Tiến trình dạy học chủ đề “Con lắc lò xo” 72
2.2.3 Tiến trình dạy học chủ đề “Con lắc đơn” 84
2.2.4 Tiến trình dạy học chủ đề “Dao động tắt dần – Dao động cưỡng bức” 84
2.2.5 Tiến trình dạy học chủ đề “Tổng hợp hai dao động điều hòa cùng phương, cùng tần số - Phương pháp giản đồ Fre - nen” 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 86
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 86
3.1.1 Mục đích 86
3.1.2 Nhiệm vụ 86
3.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm thực nghiệm sư phạm 86
3.2.1 Đối tượng 86
Trang 83.2.2 Thời gian và địa điểm 86
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 86
3.3 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm 87
3.3.1 Thuận lợi 87
3.3.2 Khó khăn 87
3.4 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 88
3.5 Đánh giá TNSP 88
3.5.1 Kế hoạch đánh giá 88
3.5.2 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 89
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 89
3.6.1 Trước thực nghiệm 89
3.6.2 Sau thực nghiệm 91
3.6.3 Kết quả và xử lí thống kê qua điểm bài kiểm tra 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC PL1
Trang 9chủ đề “Dao động điều hòa”
35
của HS Nguyễn Hoài Nam
93
của HS Lê Trung Hiếu
93
của HS Trần Duy Khải
94
của HS Lê Thị Kim Châu
của HS Hoàng Vũ Quốc Đức
96
của HS Đoàn Ngọc Hiệp
96
của HS Nguyễn Thị Ly Ly
97
của HS Lê Anh Quốc
98
của HS Đoàn Đức Tuấn
99
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Số hiệu
Dao động cƣỡng bức”
92
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
hiện dạy - học trực tuyến
43
hỗ trợ
46
tập của HS Nguyễn Hoài Nam
93
tập của HS Lê Trung Hiếu
94
tập của HS Trần Duy Khải
94
tập của HS Lê Thị Kim Châu
95
Trang 12Số hiệu
tập của HS Hoàng Vũ Quốc Đức
96
tập của HS Đoàn Ngọc Hiệp
97
tập của HS Nguyễn Thị Ly Ly
98
tập của HS Lê Anh Quốc
98
tập của HS Đoàn Đức Tuấn
99
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay dạy học phát triển năng lực hay dạy học theo định hướng phát triển năng lực không còn là một khái niệm xa lạ đối với hầu hết giáo viên Trong thời đại xã hội phát triển nhanh và mạnh như hiện nay thì ngành giáo dục cũng có những bước chuyển mình hết sức rõ rệt Việc vận dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy đã tạo được cho học sinh sự hứng thú hơn trong học tập đồng thời qua đó phát triển được năng lực cho học sinh Theo mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 (quyết định số 711/QĐ - Ttg ngày 13/6/2012) đã chỉ ra rằng, nền giáo dục của nước ta cần có những đổi mới sâu rộng, toàn diện mọi thành tố của quá trình dạy học hướng đến sự hình thành, phát triển năng lực và khả năng học tập suốt đời cho học sinh Chính vì thế giáo viên cần thay đổi phương pháp dạy học để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu tri thức, kỹ thuật và phát triển năng lực từng cá nhân
Giáo sư Tony Wagner (Đại học Harvard) từng chia sẻ: “Thế giới ngày nay không quan tâm kiến thức của sinh viên là gì, mà quan trọng là sinh viên làm được gì
với kiến thức đó” Vì thế, vai trò của người giáo viên thời 4.0 không chỉ đơn giản là
truyền đạt kiến thức, mà còn giúp học trò trang bị các kỹ năng để hội nhập toàn cầu Học sinh trong thế giới 4.0 có đầy đủ năng lực và phương tiện để tiếp nhận thông tin Trong bối cảnh đó, giáo viên không phải là người duy nhất có được kiến thức và thông tin giá trị Thay vào đó, họ là người giúp học trò có khả năng hiểu ý nghĩa của thông tin, phân biệt sự khác biệt giữa những gì quan trọng và không quan trọng Trên hết, đó
là khả năng kết hợp thông tin thành một bức tranh rộng lớn về thế giới Nói một cách chính xác nhất, giáo viên hiện nay trở thành người hướng dẫn học sinh cách học Điều giáo viên truyền đạt mỗi ngày không còn là kiến thức cụ thể, mà phải là phương pháp giúp học sinh nắm vững kiến thức, có năng lực tư duy hiểu bản chất vấn đề và thúc đẩy khả năng tự học Yêu cầu đặt ra là giáo viên sẽ cần có những kiến thức đa chiều hơn, dạy học phát triển năng lực theo hướng cá nhân hoá Thực tế hiện nay học sinh sử dụng các thiết bị công nghệ khá phổ biến nhưng lại không dùng cho việc học mà chỉ dùng để giải trí Điều này làm cho học sinh học chưa tập trung dẫn đến học sinh có thể
bị nghiện máy tính, điện thoại, giảm chú ý dẫn đến HS học tập chưa hiệu quả Tuy nhiên nếu giáo viên sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học thì học sinh đều có thể
sử dụng các thiết bị thông minh là một công cụ để học tập Điều này giúp giáo viên đổi mới được phương pháp dạy học và phát triển năng lực nói chung và năng lực cho học sinh nói riêng Theo tìm hiểu, thực trạng học sinh hiện nay thích nghiên cứu, học tập qua mạng internet và học qua các lớp học trực tuyến Từ thực trạng này, giáo viên có thể thay đổi cách dạy học của mình để thêm hứng thú cho người học Thay vì người
Trang 14học phải ngồi nghe những bài giảng khiến HS nhàm chán, giáo viên có thể tận dụng quãng thời gian đó dành cho các hoạt động tương tác trên lớp Đó chính là lúc giáo viên cần sử dụng những phương pháp học tập hiện đại và tích cực trong lớp học đã quen với cách học truyền thống Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược - Flipped Classroom là một trong những phương pháp dạy học hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu nêu trên Qua phương pháp dạy học này, người học sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan về bài học thay vì tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ giáo viên Mô hình này giúp việc học tập hiệu quả hơn, giúp người học tự tin hơn, làm chủ quá trình học tập của chính bản thân mà không còn bị động, phụ thuộc trong quá trình khám phá tri thức
Việc sử dụng mô hình lớp học như thế nào cho hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của người hướng dẫn Và thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học phải có được sự thay đổi về mặt năng lực và phẩm chất của học sinh Đối với môn Vật
lí, trên cơ sở bám sát mục tiêu và đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình môn Vật
lí, giáo viên có thể lựa chọn các trang web, các app dạy học, các tài nguyên video, hình ảnh cung cấp học sinh tự tìm hiểu tri thức Giáo viên nên có sự sáng tạo một cách hợp
lí trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học Thứ tự dạy học các chủ đề được thực hiện sao cho học sinh được tiếp cận các kiến thức cơ bản thông qua bài giảng và các bài tập đã được đăng tải trên lớp học trực tuyến để cung cấp bức tranh toàn cảnh về hiện tượng, sau đó đến giải thích và nghiên cứu hiện tượng để cung cấp cơ sở Vật lí sâu hơn, rồi đến ứng dụng của hiện tượng đó trong khoa học hoặc thực tiễn, từ đó học sinh sẽ bồi dưỡng và phát triển được năng lực Vật lí Đó là cả một quá trình vận hành một cách nhuần nhuyễn của giáo viên trong mô hình lớp học đảo ngược
Hiện tại ở nước ta mô hình này chỉ xuất hiện ở một số bài báo, tạp chí và mới dừng ở mô tả việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược cho bậc đại học còn với bậc phổ thông thì có rất ít nằm rải rác ở các môn học và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về chương “Dao động điều hòa” ở chương trình Vật lí 12 Do vậy
chúng tôi lựa chọn đề tài “Tổ chức dạy học chương “Dao động điều hòa” - Vật lí 12 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực vật lí của học sinh” làm
hướng nghiên cứu luận văn của mình
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Mô hình lớp học đảo ngược đã được tác giả Eric MaZur đã phát triển phương pháp hướng dẫn theo cặp vào những năm 20 của thế kỉ XX [39] Ông nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong việc giảng dạy giúp ông hướng dẫn học viên chứ không phải diến thuyết Lage, Platt và Treglia cho xuất bản bài báo học thuật lớp học đảo ngược: “Cánh cửa giáo dục toàn diện” vào năm 2000 Năm 1993, King xuất bản “Từ
Trang 15một nhà hiền triết xa vời trên bục giảng tới một người hướng dẫn trong cuốn “Dạy học đại học” tập 41, số 1 ( Winter, 1993), trang 30-35 Baker trình bày “Lớp học đảo lộn:
sử dụng công cụ quản lí khóa học trực tuyến để giáo viên trở thành người hướng dẫn tại hội thảo quốc tế lần thứ 11 về dạy và học đại học Bài báo của Baker đưa ra một mô hình mẫu của một lớp học đảo ngược
Đối với Việt Nam, từ năm 2013 - 2014 đến nay, quan điểm dạy học theo hướng phát triển năng lực được coi là nhiệm vụ trọng tâm ở các cấp học phổ thông Đặc biệt bắt đầu từ năm 2019, dưới sự hoành hành của đại dịch Covid 19, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra nhiều giải pháp nhằm giải quyết vấn đề học sinh không cần đến lớp học trực tiếp để tránh lây lan dịch bệnh, trong đó đặt nặng vấn đề sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lúc này nhiều trang web, nhiều app đã được quan tâm như Team, Zoom, LMS, để phục vụ cho việc giảng dạy trực tuyến và tạo nền tảng tự học cho học sinh Đây chính là bước đầu thực hiện lớp học đảo ngược trong thực tế giảng dạy THPT ở Việt Nam Cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược như:
Tác giả Kiên Thị Bích Trâm (2017) với đề tài “Tổ chức dạy học chương “Cân bằng của vật rắn” Vật lí 10 theo hình thức lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực hợp tác của học sinh”
Tác giả Nguyễn Phạm Ngọc Anh (2020) với đề tài “Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh Hóa học 10 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh trung học”
Hay nhóm tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa - Bùi Đức Phương Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế đăng trong Tạp chí giáo dục, số 471 (kì 1 - 2/2020), tr 36-41 bài báo với nội dung “Dạy học môn toán theo hướng phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh lớp 9 thông qua mô hình lớp học đảo ngược”
Trong quyển “Dạy học phát triển năng lực môn Vật lí THPT” do GS.TS Đỗ Hương Trà (chủ biên) Tr 80 đã trình bày một ví dụ minh họa về dạy học theo lớp học đảo ngược
Hiện nay có một số công trình nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học vật lí cho học sinh Tuy nhiên, ở trường THPT chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu việc xây dựng tiến trình và tổ chức dạy học các nội dung trong chương “Dao động điều hòa” Vật lí 12 theo định hướng phát triển năng lực Vật lí
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Thiết kế và tổ chức tiến trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược một số kiến thức chương “Dao động điều hòa” – Vật lí 12 nhằm phát triển năng lực Vật lí của học sinh
Trang 164 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được tiến trình và tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược thì sẽ phát triển năng lực Vật lí của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường trung học phổ thông
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chương
“Dao động điều hòa” nhằm phát triền năng lực Vật lí của học sinh lớp 12
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chương “Dao động điều hòa” Vật lí 12
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Chương “Dao động điều hòa” - Vật lí 12
Địa bàn: Trường THPT Thanh Khê – Quận Thanh Khê – Thành phố Đà Nẵng Thời gian: Tháng 9 năm 2021
Đối tượng: Giáo viên và học sinh lớp 12
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT TP Đà Nẵng
về đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học bao gồm:
+ Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình giáo dục phổ thông
+ Công văn Số 5512/BGDĐT-GDTrH về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường
+ Phụ lục IV về khung kế hoạch bài dạy theo công văn 5512
- Tìm hiểu mục tiêu và nội dung chương trình kiến thức “Dao động điều hòa” – Vật lí 12
- Nghiên cứu các tài liệu về mô hình lớp học đảo ngược cùng với những điểm
ưu thế của mô hình này so với lớp học truyền thống
- Nghiên cứu lí luận về năng lực Vật lí
- Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá mức độ năng lực đạt được của học sinh
- Nghiên cứu lí luận về các công cụ hỗ trợ giảng dạy trực tuyến và cách xây dựng hệ thống các bài giảng, bài tập tự học
- Vận dụng vào việc thiết kế một số tiến trình dạy học các kiến thức chương
“Dao động điều hòa” Vật lí lớp 12
6.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học môn vật lí ở các trường THPT ở thành phố Đà Nẵng
Trang 17- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá giả thuyết khoa học của đề tài
6.3 Xử lí thống kê toán học
Sử dụng thống kê toán học để phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thiết thống kê
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, Nhà nước cùng với các chỉ thị của Bộ Giáo dục và đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở các cấp, các bậc học, nghiên cứu Luật Giáo dục, chính sách, chiến lược, chỉ thị,… của ngành Giáo dục
về đổi mới phương pháp dạy học, chiến lược dạy học hiện nay và định hướng trong nhiều năm tới
- Nghiên cứu những cơ sở lí luận, những tài liệu liên quan, các bài báo, tạp chí
và ý kiến của các nhà khoa học giáo dục về mô hình lớp học đảo ngược và năng lực Vật lí của học sinh THPT
7.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc dạy học nội dung “Dao động điều hòa” Vật lí 12 theo hướng phát triển năng lực Vật lí ở trường THPT Thanh Khê bằng cách tổ chức dạy học, dự giờ, quan sát, chụp ảnh, quay phim, thu thập số liệu, phân tích, đánh giá kết quả học tập và kết quả từ phiếu điều tra
7.3 Phương pháp xử lí thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học để xử lí, phân tích kết quả thu được, đồng thời đánh giá hiệu quả của tác động đối với lớp thực nghiệm
8 Đóng góp của đề tài
- Xây dựng được hệ thống các bài giảng E-learning về nội dung kiến thức chương “Dao động điều hòa” Vật lí 12 bao gồm bộ phiếu tự học cá nhân ở nhà; các bài giảng đa phương tiện, bài tập luyện tập online cho HS tự học ở nhà
- Thiết kế tiến trình dạy học trên lớp theo mô hình lớp học đảo ngược đã xây dựng cho các bài học chương “Dao động điều hòa” Vật lí 12
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học phát triển năng lực Vật lí cho học sinh theo mô hình lớp học đảo ngược
Chương 2 Thiết kế tiến trình dạy học các kiến thức chương “Dao động điều hòa” - Vật lí 12 theo mô hình lớp học đảo ngược
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC VẬT LÍ CHO HỌC SINH THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC
ĐẢO NGƯỢC 1.1 Năng lực Vật lí
1.1.1 Khái niệm năng lực và phân loại năng lực
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Năng lực là phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [13], [tr.114]
Theo giáo dục học và tâm lí học, Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của
cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm) [17], [tr.213]
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản ánh năng lực làm, tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận Năng lực là “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lí và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động” [9], tr.25] Trong định nghĩa này, tác giả đã đưa vào yếu tố rất quan trọng làm rõ những thuộc tính cá nhân - đó là sinh học, tâm lí và giá trị xã hội
Trong đào tạo nghề, Năng lực là tổ hợp thuộc tính tâm sinh lí và trình độ chuyên môn đã được chứng thực/chứng tỏ là hoàn thành một hoặc nhiều công việc theo các tiêu chuẩn tương ứng trong bối cảnh hoạt động thực tế của nghề
Phạm Thị Phú và Nguyễn Đình Thước trong “Giáo trình Phát triển năng lực người học trong dạy học Vật lí” có đưa ra định nghĩa: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một hoạt động nhất định đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [12], tr.11]
Rõ ràng, mỗi lĩnh vực cụ thể có một định nghĩa về năng lực sát thực hơn cho lĩnh vực đó, như vậy khái niệm năng lực mang yếu tố chủ quan và phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội Khái niệm năng lực có nội hàm khá rộng, gắn liền với thực tại, liên quan nhiều vấn đề từ tâm sinh lí đến hiệu quả hoạt động của con người, từ trình độ chuyên môn đến chất lượng công việc [8]
Quá trình hình thành năng lực phải gắn với luyện tập, thực hành và trải nghiệm các công việc thuộc nghề nào đó và bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nó bao gồm cả
Trang 19khả năng chuyển tải kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thói quen làm việc vào các tình huống trong phạm vi của nghề Nó cũng bao gồm cả sự tổ chức thực hiện, sự thay đổi, cách tân và tính hiệu quả cá nhân cần có để làm việc với đồng nghiệp, với người lãnh đạo, quản lí cũng như với khách hàng của mình [3], [9]
Trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, “Năng lực” là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ vào các tố chất và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kinh nghiệm, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện đạt kết quả các hoạt động trong những điều kiện cụ thể Năng lực được chia thành hai loại:
• Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả bao gồm: Năng lực tự chủ và tự học, Năng lực giao tiếp
và hợp tác, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
• Năng lực đặc biệt: là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kỹ năng sống,… nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người bao gồm: Năng lực ngôn ngữ, Năng lực tính toán, Năng lực khoa học, Năng lực công nghệ, Năng lực tin học, Năng lực thẩm mĩ, Năng lực thể chất
Như vậy có thể hiểu: Năng lực “được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả”
[7], tr.58]; là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm; là sự tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
1.1.2 Khái niệm năng lực Vật lí
Theo CT GDPT 2018 [5], Môn Vật lí hình thành và phát triển ở học sinh năng lực vật lí, với những biểu hiện cụ thể sau đây:
a) Nhận thức Vật lí: Nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về:
mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí; biểu hiện cụ thể là:
– Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí
– Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ,
biểu đồ
– Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học
Trang 20– So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau
– Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình
– Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận
– Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân
b) Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Vật lí: Tìm hiểu được một số hiện
tượng, quá trình vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận; biểu hiện cụ thể là:
– Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất
– Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu
– Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu
tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu
– Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết
– Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục
– Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp
c) Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã
học trong một số trường hợp đơn giản, bước đầu sử dụng toán học như một ngôn ngữ
và công cụ để giải quyết được vấn đề; biểu hiện cụ thể là:
– Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn
– Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn
Trang 21– Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới
– Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững
1.1.3 Cấu trúc và các biểu hiện hành vi của năng lực Vật lí
Các biểu hiện của năng lực vật lý có mối quan hệ qua lại với nhau và có những biểu hiện này là hệ quả của các biểu hiện khác Để thuận tiện cho việc phát triển năng lực và đánh giá quá trình, có thể xác lập cấu trúc của năng lực vật lý bằng việc phân chia năng lực thành chuỗi các trình tự hành động gắn bó chặt chẽ với nhau Các hành động là thực hiện các quan sát, tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên Khi người học thực hiện các hành động này đồng thời đảm bảo việc có được các biểu hiện của năng lực vật lý đã đề cập trong Chương trình môn học
Theo [2], môn Vật lí trong chương trình giáo dục trung học phổ thông mới có cấu trúc
và các biểu hiện hành vi của năng lực Vật lí sau:
Bảng 1.1 Cấu trúc và các biểu hiện hành vi của năng lực Vật lí
N1: Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng,
quy luật, quá trình vật lí
N2: Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai
trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt:
nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ
N3: Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối
được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học
N4: So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng,
quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau
N5: Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình N6: Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải
thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ
T1: Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi
liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn
Trang 22T2: Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu
được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu
T3: Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung
tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu
T4: Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả
tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết
T5: Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình
vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo
vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục
T6: Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết
định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp
Vận dụng
kiến thức
Vật lí vào
thực tiễn
V1: Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn
V2: Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn V3: Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện
được một số phương pháp hay biện pháp mới
V4: Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo
vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững
1.1.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực Vật lí cho học sinh THPT
- Định hướng mục tiêu dạy học: Với các mục tiêu kiến thức, ngoài các yêu cầu
về mức độ như nhận biết, tái hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế Với các mục tiêu
Trang 23về kĩ năng cần yêu cầu HS đạt được ở mức độ phát triển kĩ năng thực hiện các hoạt động đa dạng Các mục tiêu này đạt được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường
- Đổi mới nội dung dạy học: Để thuận lợi cho việc phát triển năng lực học sinh,
các kiến thức vật lí được chọn đưa vào chương trình phải là những kiến thức thỏa mãn
một số yêu cầu sau:
+ Phổ thông: Đó phải là những kiến thức cơ bản, gần gũi với kinh nghiệm, phù hợp với năng lực học sinh, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể tự lực kiến tạo lên kiến thức
+ Gắn với thực tế: Những kiến thức vật lí trong chương trình phải được diễn đạt dưới dạng các chủ đề thực tiễn thay vì cấu trúc lí thuyết
+ Có tính tích hợp: Những kiến thức vật lí cần gắn với những kiến thức khoa học tự nhiên và khối kiến thức STEM (toán, khoa học, kĩ thuật và công nghệ) để giúp học sinh có thể giải quyết được những vấn đề thực tiễn ở nhiều góc nhìn khác nhau
+ Hiện đại: Bước đầu đưa vật lí hiện đại (vật lí thế kỉ 20) như thuyết lượng tử thuyết tương đối, công nghệ nano vào chương trình vật lí thay cho những kiến thức
ít được ứng dụng trong thực tế
- Đổi mới phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức cần tăng cường tổ chức hoạt động dạy học bằng các phương pháp, hình thức dạy học tích cực như : dạy học dự án, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, dạy học theo trạm, dạy học theo hợp đồng, webquest, Như vậy, thông thường qua một hoạt động học tập, HS sẽ được hình thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là được hình thành đồng thời nhiều năng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần (và cũng
không thể) tách biệt từng thành tố trong quá trình dạy học
- Đổi mới kiểm tra đánh giá: Về bản chất đánh giá năng lực cũng phải thông qua đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của HS trong các điều kiện cụ thể gắn liền với thực tiễn, cũng như các loại tình huống phức hợp khác nhau Trên cơ sở này, các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau đề ra các chuẩn năng lực trong giáo dục tuy có khác nhau về hình thức, nhưng khá tương đồng
về nội hàm Đánh giá năng lực vật lí chính là đánh giá mức độ đáp ứng các chỉ số hành
vi của năng lực vật lí
1.2 Cơ sở lí luận của mô hình lớp học đảo ngược
1.2.1 Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược
Lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) là mô hình giáo dục tiên tiến được ứng dụng dựa trên sự phát triển của công nghệ e - Learning và phương pháp đào tạo hiện đại
Trang 24Hình 1.1 Sự khác nhau giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược
(Nguồn: https://el.dnebr.com/mod/page/view.php?id=824)
Hình thức lớp học đảo ngược được hai tác giả Barbara Walvoord và Virginia Johnson Anderson đề xuất năm 1998 trong quyển sách có tên “Effective Grading: A tool for learning and assessment” [26] Từ việc đề xuất cách đánh giá việc học hiệu quả và kích thích việc học tập chủ động, hai tác giả đã đề xuất sử dụng các hình thức như đọc và tóm tắt tài liệu về bài học mới, trả lời câu hỏi, hoặc hoàn thành phiếu bài tập để kiểm tra sự hiểu của người học
Trong những năm 1990, Eric Mazur của Đại học Harvard [32] đã phát triển phương pháp “học lẫn nhau” Sinh viên của ông chuẩn bị học trước khi đến lớp bằng cách đọc, xem các bài giảng video ngắn và trả lời các câu hỏi về tài liệu trên hệ thống quản lý học; sau đó đến lớp tham gia thảo luận nhóm, được giáo viên điều chỉnh, phản hồi những câu trả lời sai Thông qua phương pháp này ông đã đóng góp một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến việc hình thành hình thức lớp học đảo ngược
Năm 2000, Lage, Platt và Treglia có bài báo với tiêu đề " Inverting the Classroom: A Gateway to Creating an Inclusive Learning Environment” [28], trong đó thảo luận về lớp học đảo ngược ở bậc đại học Trong nghiên cứu này tập trung vào hai khóa học về kinh tế, Lage, Platt và Treglia khẳng định rằng có thể tận dụng thời gian lớp học từ sự đảo ngược của lớp học để đáp ứng nhu cầu của sinh viên với nhiều cách học tập
Năm 2003, Salman Khan [32] đã dạy kèm người em họ của ông về toán học qua internet Ông thu lại video những bài học để cô có thể bỏ qua các phần mà cô hiểu
và dành nhiều thời gian hơn cho những phần khó hiểu Ông bắt đầu xuất bản các bài
Trang 25giảng của mình trên YouTube rồi thành lập Khan Academy dựa trên mô hình này Các bài giảng của Khan Academy đã nhận được gần một nửa tỷ lượt xem Chúng trở thành tài nguyên, công cụ quan trọng hỗ trợ cho việc đảo ngược lớp học
Năm 2007, hai giáo viên là Jonathan Bergman và Aaron Sams ở Woodland Park đã phát hiện ra một phần mềm để ghi lại việc trình diễn PowerPoint Họ ghi lại bài giảng trực tiếp của mình và tải lên mạng interrnet cho những sinh viên không có điều kiện tham gia buổi học [14] Bài học trực tuyến bắt đầu phát triển rộng rãi, GV sử dụng các video trực tuyến để dạy HS không tham gia trực tiếp trên lớp, thời gian trên lớp để làm các bài tập và lĩnh hội khái niệm Từ đây, hình thành hình thức “lớp học đảo ngược” (Flipped classroom)
Như vậy, ta có thể định nghĩa đơn giản, mô hình lớp học đảo ngược là đảo ngược trình tự học tập truyền thống; người học lắng nghe bài giảng khi ở nhà còn bài tập về nhà sẽ được thực hiện trên lớp
Với sự phát triển của công nghệ hiện đại, sinh viên có thể tiếp cận với video bài giảng trực tuyến bằng nhiều phương tiện như máy tính bảng, điện thoại di động, laptop và chủ động việc học ở mọi không gian thời gian
Hình 1.2 Các giai đoạn của mô hình lớp học đảo ngược
(Nguồn:
http://panduvn.blogspot.com/2017/05/lop-hoc-ao-nguoc-flipped-classroom.html)
Thời gian trên lớp được sử dụng cho những hoạt động tương tác và mở rộng từ nội dung cơ bản Khi lên lớp, giảng viên không tốn thời gian giảng giải lại những nội dung trên video và tập trung vào những hoạt động như tìm hiểu các nghiên cứu tình huống, thảo luận nhóm, bài tập mô phỏng,… Thời lượng học không gói gọn trong những ngày học trên lớp
mà được dàn trải đều trong khoảng thời gian trước và sau khi đến lớp Hình thức và tương
Trang 26tác học tập được đa dạng hóa thông qua video bài giảng, thảo luận trực tuyến, tương tác đa chiều giữa người học-tài liệu, giảng viên-người học và giữa bạn học với nhau
1.2.2 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Lớp học đảo ngược là một mô hình dạy học đảo ngược quá trình học truyền thống Mô hình này đề xuất việc đảo ngược các bước giảng dạy Nghĩa là: Đưa ra các bài giảng online ngoài giờ học và chuyển "bài tập về nhà" thành hoạt động trên lớp [18] Theo mô hình lớp học đảo ngược, học sinh xem các bài giảng trực tuyến trước khi đến lớp Giờ học trên lớp sẽ dành cho các hoạt động học tập giúp học sinh làm chủ các kỹ năng thông qua bài tập thực hành và thảo luận cộng tác Với cách dạy học truyền thống, các buổi học trên lớp phần lớn thời gian để giáo viên giảng bài mới, thời gian làm bài tập luyện tập tại lớp rất ít Với hình thức lớp học đảo ngược, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh nghiên cứu bài học ở nhà, học sinh tự học qua video bài giảng hoặc bài giảng trên mạng để thu nhận kiến thức, tự liên hệ với giáo viên và bạn
bè thông qua thảo luận trực tuyến trên mạng Đến lớp, giáo viên không phải dạy những nội dung, kiến thức trong bài giảng mà chỉ hỗ trợ, thảo luận, trao đổi, giải thích những vấn đề phát sinh mà học sinh không thể giải quyết được, ngoài ra còn thời gian để thực hành, ứng dụng, làm bài tập, thảo luận, làm việc nhóm Tương tự, việc tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ được chuyển đổi qua các hình thức học với video thu lại lời giảng của giáo viên
Học sinh phát huy tính chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết, các
em có thể tiếp cận video bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú và xem lại nếu cần Điều này là không thể nếu sinh viên ngồi nghe giáo viên giảng dạy trên lớp
Công nghệ eLearning giúp học sinh hiểu kỹ hơn về lý thuyết để sẵn sàng tham gia vào các buổi học nhóm, thực hành bài tập nâng cao tại giờ học trên lớp
Lớp học đảo ngược cho phép giáo viên dành thời gian nhiều hơn với từng cá nhân học sinh chưa hiểu kỹ bài giảng Điều này giúp người học tự tin hơn và học tập hiệu quả hơn
Theo Hamdan và McKnight (2013), để lớp học đảo ngược diễn ra cần có 4 điều kiện như sau:
- Môi trường giảng dạy linh hoạt: Môi trường giảng dạy không chỉ đơn thuần là việc bố trí lại không gian lớp học cho phù hợp với hoạt động trên lớp, mà còn là việc điều chỉnh linh động các mốc thời gian phù hợp với tốc độ của người học trên lớp
- Văn hóa học tập: Sự chuyển đổi về văn hóa học tập ở đây được hiểu là sự chuyển đổi từ phương thức giảng dạy dựa trên sự truyền thụ của giảng viên sang phương thức lấy người học làm trung tâm Việc chuyển đổi này nhằm giúp người học trải nghiệm chủ đề bài học sâu sắc hơn thông qua cách tiếp cận chủ động hơn
Trang 27- Nội dung học tập có chủ ý : Giảng viên cần đánh giá tài liệu nào nên đưa cho người học nghiên cứu trước, và thiết kế các hoạt động học tập trên lớp để củng cố các nội dung kiến thức đó
- Nhà giáo dục chuyên nghiệp : Giảng viên phải theo sát để quản lý người học, đánh giá được việc tiếp thu kiến thức của người học, đưa ra phản hồi để giúp người học làm chủ được kiến thức và kỹ năng
Chính 4 yếu tố nêu trên đã tạo nên 4 “trụ cột” quan trọng của lớp học đảo ngược
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không có một khuôn mẫu chung nào để áp dụng lớp học đảo ngược, mỗi giảng viên sẽ có cách thức áp dụng khác nhau đối với từng lớp học phần và từng đối tượng người học Mặt khác, nhiều giảng viên cảm thấy việc thực hiện mô hình lớp học đảo ngược sẽ khiến họ mất nhiều thời gian và công sức chuẩn bị Điều đó có thể đúng, nhưng chỉ trong thời gian đầu Trong thực tế, giảng viên phải mất thời gian để xây dựng bài giảng online, tìm kiếm các tài liệu và thiết kế các hoạt động học tập để giúp sinh viên chủ động, tích cực học tập Tuy nhiên, sau lần đầu áp dụng lớp học đảo ngược, giảng viên có thể thu thập và sưu tầm nhiều nguồn tài liệu đa dạng
để sử dụng cho các lớp học sau này
1.2.3 Tác dụng của mô hình lớp học đảo ngược
Tạo ra môi trường học tập mới: Môi trường học tập online sẽ mang một cấu trúc mới đầy triển vọng với:
- Hệ thống học tập tự tổ chức (có định hướng của người dạy)
- Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ đa giác quan hóa trong quá trình dạy học (người học có thể thao tác được với bài giảng có kèm theo hình ảnh, âm thanh, mô phỏng sinh động,…)
- Cấu trúc ngang trong dạy học không quan tâm đến thứ bậc, mức độ quan trọng của một trong ba đỉnh của tam giác sư phạm: Người dạy – Người học – Nội dung dạy học Đây là điểm khác biệt rõ nét so với cách dạy học truyền thống
- Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện giúp nâng cao hiệu quả chất lượng quá trình dạy học nhờ việc cải tiến hoạt động nhận thức tích cực mang định hướng cá nhân của người học, dạy học dựa trên năng lực và đánh giá thực
- Môi trường học tập không có sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với quá tình dạy học Người học có thể nghe, nhìn, học qua các trang web với số lần không hạn chế, mọi lúc, mọi nơi; với cấp độ và tốc độ tùy chọn
Tạo cơ hội đổi mới phương pháp và hình thức dạy học:
- Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh được một loại kiến thức (đơn ngành) sang việc tích hợp nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực)
Trang 28- Chuyển từ hoạt động với những người học có học lực khá là chủ yếu sang làm việc với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm nhỏ để thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn và dữ liệu đã cho trên các trang web)
- Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác
Đổi mới phương pháp dạy và học vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào DH hiện nay DH theo nhóm nhỏ, tranh luận và trình bày, nêu vấn đề và giải quyết, DH theo kiểu “dự án” càng ngày sẽ càng chiếm
ưu thế trước hình thức thuyết giảng độc thoại một chiều Do giải quyết được vấn đề hạn chế không gian, thời gian học tập, nên người học và người dạy có thể không cần giáp mặt thường xuyên trong quá trình tổ chức một nội dung DH cụ thể Chẳng hạn, chuẩn bị cho một giờ học sắp tới, người học có thể đến thư viện, lên mạng để xem, phân tích, đánh giá bài giảng từ trước với số lần không hạn chế
1.2.4 Các giai đoạn tổ chức học tập theo mô hình lớp học đảo ngược
Theo Phạm Anh Đới [6], hình thức lớp học đảo ngược đã triển khai tại Trung tâm FPT Aptech gồm 4 giai đoạn cơ bản:
Hình 1.3 Các giai đoạn tổ chức học tập theo mô hình lớp học đảo ngược
(Nguồn:
http://longnhi111.blogspot.com/2014/09/phuong-phap-hoc-moi-lop-hoc-ao-nguoc.html)
Giai đoạn 1: Làm nảy sinh vấn đề
- Cách giáo viên làm là cho học sinh xem để suy nghĩ về một vài tính năng nào
đó của các ứng dụng thực tế và bài tập lớn của học Đó chính là gợi ý cho những khái niệm họ phải xem xét để giải quyết dự án của bài học
- Trong lớp áp dụng phương pháp học tập đảo ngược, các bài tập lớn được đưa
ra ngay từ đầu môn và mỗi buổi học sẽ có những gợi ý về những tính năng đã có thể
Trang 29làm được sau những nội dung cụ thể Tuy nhiên, sự cuốn hút có thể đến từ việc một số học sinh đã hoàn thành được một vài tính năng nào đó và chia sẻ cho các thành viên khác trong lớp
Giai đoạn 2: Khám phá khái niệm
- Ở lớp học đảo ngược, việc khám phái khái niệm được thực hiện ở bên ngoài lớp học Trước mỗi buổi học, học sinh khám phá khái niệm mới dựa vào học liệu do giáo viên cung cấp, chủ yếu là những video ngắn, tự tìm trên Internet cũng như tham khảo với các bạn học và giáo viên thông qua các kênh liên lạc như thư điện tử, facebook,…
Giai đoạn 3: Phản hồi
- Vẫn ở ngoài lớp, khi đã khám phá được các khái niệm, học sinh làm các bài kiểm tra (quiz) để củng cố những điều mới học được Nếu mục tiêu là đạt kỹ năng áp dụng thì trong video sẽ có một bài ví dụ, học sinh sẽ xem ví dụ và làm lại Sau cùng học sinh thực hiện việc phản hồi thông qua việc bình luận trên trang group lớp hoặc liên lạc với giáo viên qua zalo, messenger
Giai đoạn 4: Trình diễn và áp dụng
- Bây giờ khi học sinh cơ bản đã khám phá và nắm được ý nghĩa của các khái niệm họ bắt đầu áp dụng vào bài tập lớn của mình, chia sẻ và trình diễn trên lớp
- Công việc chủ yếu của giáo viên trên lớp là hỗ trợ học sinh Với những học sinh chủ động tìm trợ giúp thì công việc của giáo viên là tìm học sinh khác có thể trợ giúp, nhưng cần chắc chắn rằng khó khăn của học sinh được giải quyết Sẽ có nhiều học sinh gặp khó khăn nhưng không đề nghị hỗ trợ, do đó công việc lúc này là quan sát xem những học sinh nào gặp vấn đề này và chủ động ngồi cùng để hỗ trợ họ làm việc Với những học sinh “lười” không học gì ở nhà, thì công việc của giáo viên là hỏi thăm, hay ngồi cạnh để học sinh học bất cứ điều gì, thậm chí là cùng xem video
1.2.5 Ưu, nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược so với lớp học truyền thống
Hình 1.4 Tháp nhận thức
(Nguồn: https://vnexpress.net/lop-hoc-dao-nguoc-3141727.html)
Trang 30a/ Ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Mô hình lớp học đảo ngược có những ưu điểm:
- GV đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của HS nên có nhiều thời gian để theo dõi quan sát hoạt động của HS, có điều kiện tập trung cho nhiều đối tượng HS khác nhau nhất là các đối tượng cần nhiều sự hỗ trợ hơn so với các bạn
- HS có trách nhiệm hơn đối với việc học của mình, chủ động, tự chủ học tập
- Tăng cường khả năng tương tác, tương tác ngang hàng giữa các HS với nhau
- HS có nhiều cơ hội học hỏi với bạn, với thầy
- HS tự quyết định tốc độ học phù hợp, có thể tua nhanh hoặc xem lại nhiều lần khi chưa hiểu, qua đó làm chủ việc học của mình
- Hỗ trợ các HS vắng mặt nhờ các bài học luôn trực tuyến và được lưu trữ lại
- HS tiếp thu tốt hơn có thể được chuyển tiếp đến các chương trình học cao hơn
mà không ảnh hưởng gì đến các bạn còn lại
- Phụ huynh có nhiều cơ hội hỗ trợ cho HS chuẩn bị bài tốt hơn trong thời gian
tự học ở nhà
b/ Hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược
Mô hình lớp học đảo ngược cũng tồn tại những hạn chế sau:
- Không phải mọi HS đều có đủ điều kiện về máy vi tính và kết nối Internet để
tự học trực tuyến
- Việc tiếp cận với nguồn học liệu có thể khó khăn với một số em chưa có kĩ năng về CNTT và mạng Internet Tốc độ mạng không phải lúc nào cũng ổn định để thuận lợi khi học tập
- Rất khó để thiết kế Video bài học đúng với ý tưởng sư phạm, thực hiện được đúng PPDH, có tính toán hỗ trợ người học phù hợp để HS tự học và học cách tự học
- Thông thường GV sẽ sử dụng các video được thiết kế sẵn, được chia sẻ nhưng
sẽ không hoàn toàn phù hợp với GV đó, hoặc nếu tự làm thì rất nhiều thời gian hoặc chất lượng video không đạt đủ yêu cầu hỗ trợ tự học
- HS không thể nêu các thắc mắc, đặt câu hỏi những vấn đề chưa hiểu
- Động lực của HS là yếu tố then chốt khi tự học
- Để kích thích và tạo động lực cho HS thì GV phải có kiến thức về CNTT ở một mức độ nhất định, phải đầu tư thời gian và công nghệ lớn
Những phân tích trên có thể cho thấy mô hình lớp học đảo ngược chỉ phù hợp với một số bài học chứ không thể áp dụng đại trà, chỉ thành công khi có các phương tiện học tập phù hợp Ngoài ra, vai trò của GV trong việc thiết kế, điều hướng, hỗ trợ
HS trong các hoạt động nhóm trên lớp cũng rất quan trọng, quyết định sự thành công của mô hình
Trang 311.2.6 Nguyên tắc tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược
a/ Hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi tới lớp: Hoạt động
tự học ở nhà trên E - learning sẽ giúp học sinh hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp Để hình thành được thói quen này, học sinh cần phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lý luận và hiểu biết đã có mà tự mình lĩnh hội kiến thức Đây là bước khởi đầu để rèn luyện thói quen tích cực khám phá, tìm tòi mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau, nâng cao dần lên học sinh sẽ chủ động, tự lực nghiên cứu, độc lập tự giác trong học tập và tăng dần là học được nề nếp làm việc khoa học Để hoạt động tự học đạt hiệu quả thì học sinh cần kiên trì, có thái độ học tập nghiêm túc, phải tự giác và có quyết tâm Khi đã thành thói quen thì học sinh sẽ thích thú với tự học, từ đó biết cách tự học Học sinh tự học bằng hành động của chính mình, “hành để học, học để hành”, qua quan sát mà học các phân tích, tư duy, tự mình biết cách phát hiện ra tính chất, bản chất sự vật hay hiện tượng Cuối cùng là học cách tổng hợp, khái quát và diễn đạt ra bằng lời kiến thức đã học
b/ Hình thành thói quen đặt câu hỏi: Bằng cách tự chịu trách nhiệm với việc học của mình và nguồn học liệu sẵn sàng trên E - learning, học sinh hoàn toàn có thể xem lại khi cần hoặc sử dụng các trợ giúp cá nhân có sẵn để tìm ra câu trả lời đúng đắn Với những vấn đề chưa hiểu, học sinh chủ động hỏi thầy về những gì mình có nhu cầu Khi biết mình cần hỏi gì, hỏi đúng trọng tâm chính là học sinh đã biết cách đặt câu hỏi
c/ Tạo nhu cầu trao đổi, tương tác với bạn, với thầy: Tri thức ban đầu qua hoạt động tự học của học sinh có thể chưa hoàn toàn đúng Vì vậy, trong học tập học sinh cần bộc lộ sản phẩm học của mình qua thảo luận, biện luận, phản biện về các sản phẩm mới kiến tạo, để mỗi học sinh được chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau; qua diễn đạt (lập luận) và hỏi lại (phản biện) tự soi xét lại sản phẩn mới học được của mình, bổ sung, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm về cách học Theo tháp nhu cầu Maslow, học sinh
sẽ hào hứng, có nhiều động lực tham gia học tập hơn khi được thể hiện trước mọi người Ngoài ra, khi tham gia làm việc nhóm hiệu quả sẽ tác động tốt đến nhân cách cũng như năng lực của chính học sinh đó; bao gồm: biết cách cùng nhau suy nghĩ, có khả năng tự điều chỉnh, có khả năng hợp tác, biết cách tranh luận và thuyết phục, học cách tôn trọng người khác, biết lắng nghe quan điểm của người khác, tích lũy kinh nghiệm làm việc nhóm Chú ý rằng hoạt động nhóm chỉ có thể đạt hiệu quả tốt nếu giáo viên phân chia công việc, nhiệm vụ hợp lý Mỗi cá nhân học sinh phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trong chuỗi nhiệm vụ chung của cả nhóm cộng tác Từng nhiệm vụ nhỏ của từng người là một mô đun đã được phân chia sẵn chờ người học hoàn chỉnh Qua đó, không có hiện tượng người làm ít, người làm nhiều mà là sự phối hợp nhau
Trang 32cùng hoàn thành công việc chung Thông qua thảo luận nhóm, học sinh biết cách tự thể hiện mình, bộc lộ suy nghĩ của bản thân, nuôi dưỡng tự tin Qua trao đổi, thảo luận, giáo viên kịp thời phát hiện được lỗi, thiếu sót trong quá trình tư duy, lập luận của học sinh để kịp thời chấn chỉnh, rèn luyện cho các em cách tư duy khoa học đồng thời cũng hướng dẫn cả cách diễn đạt, trình bày vấn đề Do đó, học sinh thay vì chỉ học từ thầy mà còn học từ bạn, từ tài liệu sách vở
d/ Hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ: Trong mô hình lớp học đảo ngược, giờ học ở lớp sẽ được giáo viên tận dụng tối đa tổ chức cho học sinh vận dụng, thực hành kiến thức, thảo luận nhóm hoặc triển khai các dự án, giải quyết các vấn đề
mở Trong các hoạt động này, học sinh được rèn luyện các kĩ năng phát biểu ý kiến trước nhiều người (nhóm học tập, lớp, các giáo viên), kĩ năng tham gia, trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức thảo luận, xemina, thực hành theo nhóm, biết sử dụng các nghi thức ngôn ngữ và giao tiếp với từng cá nhân khác nhau với tư cách cá nhân hay tư cách là người đại diện cho nhóm Trong hoạt động nhóm, học sinh sẽ học được các kĩ năng đối thoại, thương lượng và giải quyết những bất đồng, xung đột quan điểm, học được kĩ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ và hành động, biết thông cảm, đồng cảm, biết lắng nghe người khác Ngoài ra, học sinh có thể học thêm các kĩ năng biểu thị tính thân thiện và ân cần với bạn bè trong học tập, tự phê bình và phê bình, kĩ năng làm việc cùng nhau trong nhóm hợp tác Khi được rèn luyện các kĩ năng trên, học sinh sẽ dần hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ Ngoài ra, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách tổng hợp, đánh giá, bằng nhiều hình thức khác nhau: bằng lời văn, bảng biểu, sơ đồ, bản đồ tư duy…bằng ngôn ngữ của chính học sinh, diễn đạt theo cách hiểu của các em, chứ không phải là chép lại nội dung trong tài liệu
e/ Hình thành thói quen vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề: Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Thực tế cho thấy nhiều học sinh có thể thu thập thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lý như để làm phát hiện ra con đường tiệm cận giả thiết Điều này đòi hỏi giáo viên cần hướng dẫn cẩn thận và kiên trì ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề Dạy cho học sinh có thói quen, có kĩ thuật giải quyết vấn đề là một yếu tố quan trọng trong việc dạy cách học cho học sinh Khi có kĩ thuật giải quyết vấn đề, học sinh có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho học sinh phương pháp tự học Để hình thành cho học sinh thói quen vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề trong những tình huống khác
Trang 33nhau thì học sinh cần phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lý luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lý cần phải khơi thông, khám phá, làm sáng rõ Đây là bước khởi đầu của sự nhận thức có tính phê phán đòi hỏi nỗ lực trí tuệ cao Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho học sinh thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau, nâng cao dần lên học sinh sẽ có thói quen vận dụng kiến thức có hiệu quả Đồng thời việc vận dụng những điều đã học vào thực tiễn mang lại hiệu quả cao cũng sẽ có tác động ngược lại, tạo cho họ lòng ham học, hứng thú với hoạt động tự học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao Việc tự học, tự rèn luyện hình thành cho học sinh thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong học tập, trong cuộc sống, giúp cho họ tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình Học sinh sẽ dễ dàng thích ứng và không bị lạc hậu với người khác Tự học thúc đẩy lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ
f/ Hình thành các kĩ năng khai thác, sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại hiệu quả: Khi học với E-learning, học sinh được rèn luyện các kĩ năng công nghệ thông tin từ cơ bản nhất như cách thức sử dụng máy tính, cách tìm và nghiên cứu tài liệu số hóa, cách lưu trữ, sử dụng các mail, văn bản điện tử để trao đổi thông tin và giao tiếp học tập trên Internet Rèn luyện các kĩ năng khai thác và
sử dụng ICT hiệu quả làm cho thế hệ trẻ có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại; có tư duy sáng tạo, có
kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật cao
1.2.7 Vai trò của một số công cụ hỗ trợ giảng dạy trong mô hình lớp học đảo ngược
Muốn quá trình đảo ngược thành công thì bài giảng online phải hấp dẫn để lôi cuốn người học không bị sao lãng việc học tập Dạy học trực tuyến gồm 3 pha chính: trước giờ học, trong giờ học và sau giờ học Mỗi một pha của quá trình này có thể sử dụng rất nhiều phần mềm và công cụ hỗ trợ
Chuẩn bị cho tiết dạy trực tuyến, giáo viên chuẩn bị bài giảng trên Power Point hoặc có thể sử dụng Canva - một công cụ thiết kế miễn phí Công cụ này dùng để tạo slide bài giảng, tạo áp phích, thiệp chúc mừng, thậm chí là những đoạn phim hoạt hình… Tất cả đều có mẫu sẵn, giáo viên chỉ nhúng thả, cắt ghép là thành nhà thiết kế
Trang 34nghiệp dư Những slide thiết kế dễ dàng chia sẻ sang các phần mềm khác để có sản phẩm hấp dẫn
Giáo viên có thể sử dụng các nền tảng học tập trực tuyến như Teams; Google Meet; Zoom meeting;… để tạo lớp học trực tuyến vì đây là các ứng dụng đơn giản, được tích hợp nhiều tính năng hiệu quả, phù hợp với học sinh Một số tính năng nổi bật thường được giáo viên sử dụng như: Điểm danh tự động; chia phòng thảo luận nhóm; sử dụng thêm camera để kết nối quan sát được bảng viết, trang vở… thậm chí trong Teams còn tích hợp soạn bài kiểm tra cho học sinh Điều giáo viên thường băn khoăn nhất đó là tăng tính tương tác của học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh
và học sinh với tư liệu học tập Ứng dụng Classkick có thể giải tỏa băn khoăn nói trên Điều thú vị là giáo viên dễ dàng quan sát thao tác của học sinh đang hiện trên màn hình Classkick rất tiện khi sử dụng các bài tập dạng kéo thả, phân loại, hay là nối Đặc biệt, ứng dụng này còn cho phép học sinh trả bài dưới dạng âm thanh
Nhiều giáo viên cũng thích sử dụng các trò chơi học tập Quizzi, Kahoot, âm thanh, hình ảnh sống động; tư liệu lưu trên web nên không làm nặng máy; phần thống kê kết quả dưới dạng excel dễ dàng quan sát, chia sẻ, lưu trữ
a/ Vai trò của giáo viên
+ Nắm rõ các tính năng chính của nền tảng trực tuyến đang sử dụng: Các nền tảng học tập cung cấp một loạt các tính năng như chia nhóm, chia sẻ màn hình và quản
lý tài liệu học tập, cũng như hỗ trợ giao tiếp Điều quan trọng là giáo viên phải hiểu rõ những ưu điểm và hạn chế của nền tảng để lập kế hoạch bài giảng một cách hiệu quả
Để đảm bảo buổi học diễn ra tốt đẹp, giáo viên cần kiểm tra các tính năng trước khi vào bài học
+ Áp dụng công nghệ và phương pháp giảng dạy phù hợp: Không giống như việc giảng dạy và tương tác trực tiếp với học sinh trên lớp học, các bài giảng trực tuyến dường như giới hạn giáo viên trong một chiếc màn hình nhỏ, khiến học sinh xa rời với nội dung học Các buổi học trực tuyến kéo dài, truyền đạt một chiều có xu hướng khiến học sinh bắt đầu xao nhãng sau 10-15 phút Do đó, giáo viên có thể cân nhắc tổ chức hoặc chia nhỏ buổi học thành các bài giảng ngắn, đi kèm với nhiều hoạt động để thu hút học sinh
Trang 35+ Theo dõi sự chủ động trong học tập và sự tiến bộ của học sinh qua từng bài học: Để theo dõi sự chủ động trong học tập và sự tiến bộ của học sinh qua thời gian, có thể thực hiện những cách sau:
- Đánh giá việc học tập của học sinh: Đưa ra các bài tập, câu đố, thăm dò ý kiến
và tóm tắt các kiến thức cơ bản đã truyền đạt trong lớp học để theo dõi sự tiến bộ của học sinh
- Xây dựng trải nghiệm học tập cá nhân: Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ để khuyến khích học sinh trao đổi và thảo luận
- Khen thưởng những hành vi tích cực của học sinh: Tạo huy hiệu (chứng nhận)
trực tuyến và trao cho học sinh như một phần thưởng để các em có thể lưu lại vào hồ sơ Việc ngắm nhìn và trưng bày huy hiệu có thể giúp các em có thêm động lực học tập
+ Khuyến khích sự tham gia của cha mẹ trong việc tạo điều kiện cho việc học trực tuyến của học sinh
+ Thiết kế các hoạt động học tập tương tác: Áp dụng các hoạt động như tranh luận, làm việc nhóm, thực hiện dự án, nghiên cứu tình huống, đóng vai và thuyết trình
để giúp học sinh có các kỹ năng khác ngoài kiến thức trên lớp và khiến bài giảng trở nên thú vị hơn! Có thể sử dụng nhiều công cụ cộng tác trực tuyến để hỗ trợ các hoạt động nhóm
b/ Vai trò của học sinh
Học sinh là chủ thể của hoạt động học, giữ vai trò rất lớn trong việc mang lại hiệu quả của dạy học trực tuyến Để quá trình này diễn ra hiệu quả, học sinh cần:
- Chủ động, nghiêm túc, hào hứng với việc học: Học sinh cần xác định rõ mục tiêu tham gia lớp học và hình thành thói quen tham gia đúng giờ, học tập trung, tự ghi chép Học sinh có thể chủ động hỏi giáo viên thông qua các công cụ tương tác của phần mềm hoặc cách thức liên lạc khác để tăng hiệu quả tiếp thu kiến thức
- Tự tạo động lực và cảm hứng để quá trình học thêm hứng thú
- Học sinh là hiếu động, khó tập trung nên khó có tính tự giác khi học tập trực tuyến Vì thế, bố mẹ và thầy cô cần hỗ trợ các em trong việc tạo dựng thói quen và cảm hứng học
c/ Vai trò của phụ huynh học sinh
Không chỉ có học sinh mà phụ huynh cũng ảnh hưởng đến dạy học trực tuyến
Vì thế, các bậc phụ huynh nên hỗ trợ các em để quá trình này thực sự có hiệu quả hơn
Cụ thể là:
- Cung cấp dụng cụ học tập cho con: Phụ huynh nên chuẩn bị cho con đầy đủ các dụng cụ như máy tính bàn hoặc laptop, ipad, điện thoại, lắp đặt mạng Internet để
Trang 36phục vụ cho việc học qua không gian “ảo” Những dụng cụ này cần có chất lượng tốt
để quá trình học tập trực tuyến của các con diễn ra trôi chảy, hiệu quả hơn
- Nhắc nhở con tham gia lớp học nghiêm túc: Học ở nhà nên thầy cô không quản lý được việc học của học sinh Vì thế, bố mẹ cần chủ động nhắc nhở con học hành nghiêm túc, tập trung, đúng giờ và tích cực
- Bố trí không gian học phù hợp cho con: Không gian học tập sẽ ảnh hưởng đến chất lượng buổi học và cảm hứng học tập của học sinh Vì thế, bố mẹ cần lựa chọn không gian yên tĩnh, gọn gàng, có ánh sáng tốt để tạo điều kiện cho con học tập tốt nhất
Như vậy, nếu có sự phối hợp hài hòa, nhịp nhàng giữa công nghệ ứng dụng, giáo viên, học sinh và phụ huynh thì việc học tập trực tuyến sẽ thực sự phát huy tác dụng
1.3 Qui trình tổ chức dạy học phát triển năng lực Vật lí của học sinh theo mô hình lớp học đảo ngược
Theo Lê Thị Minh Thanh (2016), với đề tài "Xây dựng mô hình lớp học đảo ngược ở trường đại học", Tạp chí khoa học ĐHSP HN, tháng 3, tr 20 – 27 [14] đã đưa
ra quy trình thực hiện lớp học đảo ngược gồm 3 bước: Bước 1 Trước giờ học trên lớp; Bước 2 Trong giờ học trên lớp; Bước 3 Sau giờ học trên lớp
Bước 1 Trước giờ học trên lớp
giảng trên mạng Tất cả NL được thể hiện qua việc xây dựng video bài giảng một cách khoa học, phù hợp với đối tượng người học Kịch bản sư phạm cũng như giáo án của LHĐN sẽ khác về bản chất với dạy học truyền thống Kịch bản và giáo án của GV gồm 2 phần chính: Video bài giảng truyền thống và các tình huống GV tương tác với
HS ở lớp đảm bảo kết cấu hài hòa và hợp lí Không ngừng cập nhật những nội dung mới, những tình huống mới trong thực tế để đưa vào bài giảng video năm sau để bài giảng luôn được tươi mới
Học sinh: tự học, tự nghiên cứu video bài giảng của GV và chuẩn bị phần thực hành trên lớp nhờ kĩ năng sử dụng ICT, kĩ năng tìm kiếm kiến thức trên mạng , kĩ năng
tự học và cá nhân hóa việc học tập của bản thân
Bước 2 Trong giờ học trên lớp
GV đảo ngược vừa phải có kỹ năng của người dẫn chương trình, vừa phải giống như một nghệ sĩ trên bục giảng để “truyền lửa” lòng nhiệt tình cho HS Giáo viên trong LHĐN đóng vai trò gợi mở, cố vấn, trọng tài, trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS và hướng dẫn HS làm bài tập, tìm hiểu các kiến thức
HS chưa hiểu, tìm ra những cách thức làm bài hay nhất, tố ưu nhất cho HS Đồng thời
GV trao đổi, thảo luận, kiểm tra đánh giá HS tại lớp Do cá nhân hóa người học nên
Trang 37việc dạy của GV ở các lớp khác nhau thì tình huống cũng như cách xử lí sư phạm sẽ khác nhau
Học sinh thực hành ứng dụng các khái niệm chính cùng với phản hồi từ GV và các HS khác Bằng cách làm này, HS được phát triển kĩ năng cần thiết, đó là: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng ứng dụng công nghệ… cũng như dành nhiều thời gian hơn trong việc luyện tập và tư duy
Bước 3 Sau giờ học trên lớp
Kết thúc giờ học trên lớp, nếu những nội dung trao đổi trên lớp chưa hoàn thiện,
GV sẽ hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của HS qua mạng
Học sinh: kiểm tra lại kiến thức đã học trong giờ học và tự tìm hiểu mở rộng thêm Học sinh có thể viết nhật kí hoặc blog, họ có thể cập nhật những gì họ đã học được hoặc cần phải tập trung tiếp theo
HS cũng có thể sử dụng blog hoặc nhật kí của mình để làm một lưu ý bất kì Sau đó GV chuyển sang bước 1 để tạo video bài giảng mới hoặc bổ sung video bài giảng cũ sao cho phù hợp với trình độ tiếp thu bài giảng của HS hiện tại HS cũng chuyển về bước 1 để nghiên cứu video bài giảng mới của GV
Sau khi nghiên cứu, chúng tôi đưa ra quy trình tổ chức dạy học vật lí theo mô hình LHĐN nhằm phát triển NLVL của HS bằng công cụ Microsoft Teams khái quát bằng sơ đồ như sau:
Hình 1.5 Các bước tổ chức dạy học theo hình thức lớp học đảo ngược
Trang 381.4 Xây dựng các tiêu chí đánh giá NLVL cho HS theo mô hình lớp học đảo ngược
Hình thức đánh giá HS theo mô hình này là đánh giá thường xuyên (đánh giá quá trình)
1.4.1 Khái niệm đánh giá thường xuyên
Theo Tài liệu hướng dẫn Modul 3 Kiểm tra đánh giá HS THPT theo hướng phát triển phẩm chất năng lực trong dạy học môn Vật lí [15]: Đánh giá thường xuyên hay còn gọi là đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy môn học, cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động giảng dạy, học tập Đánh giá thường xuyên chỉ những hoạt động kiểm tra đánh giá được thực hiện trong quá trình dạy học, có ý nghĩa phân biệt với những hoạt động kiểm tra đánh giá trước khi bắt đầu quá trình dạy học một môn học nào đó (đánh giá đầu năm / đánh giá xếp lớp) hoặc sau khi kết thúc quá trình dạy học môn học này (đánh giá tổng kết) Đánh giá thường xuyên được xem là đánh giá vì quá trình học tập hoặc vì sự tiến bộ của người học
1.4.2 Mục đích của đánh giá thường xuyên
- Mục đích của đánh giá thường xuyên nhằm thu thập các minh chứng liên quan đến kết quả học tập của học sinh trong quá trình học để cung cấp những phản hồi cho học sinh và giáo viên biết những gì họ đã làm được so với mục tiêu, yêu cầu của bài học, của chương trình và những gì họ chưa làm được để điều chỉnh hoạt động dạy và học Đánh giá thường xuyên đưa ra những khuyến nghị để học sinh có thể làm tốt hơn những
gì mình chưa làm được, từ đó nâng cao kết quả học tập trong thời điểm tiếp theo
- Đánh giá thường xuyên còn giúp chuẩn đoán hoặc đo kiến thức kĩ năng hiện tại của học sinh nhằm dự báo hoặc tiên đoán những bài học hoặc chương trình học tiếp theo cần được xây dựng thế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của học sinh Đánh giá thường xuyên có mục đích chính là cung cấp kịp thời thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy học, không nhằm xếp loại thành tích hay kết quả học tập Đánh giá thường xuyên không nhằm mục đích đưa ra kết luận về kết quả giáo dục cuối cùng của từng học sinh Ngoài việc kịp thời động viên, khuyến khích khi học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, đánh giá thường xuyên còn tập trung vào việc phát hiện, tìm ra những thiếu sót, lỗi, những nhân tố ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập rèn luyện của học sinh để có những giải pháp hỗ trợ điều chỉnh kịp thời, giúp cải thiện, nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục
1.4.3 Phương pháp, công cụ đánh giá thường xuyên
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá thường xuyên có thể là kiểm tra viết, quan sát, thực hành, đánh giá qua hồ sơ và sản phẩm học tập…
Trang 39- Công cụ có thể dùng là phiếu quan sát, các thang đo, bảng kiểm, thẻ kiểm tra / phiếu kiểm tra, các phiếu đánh giá tiêu chí, phiếu hỏi, hồ sơ học tập, các loại câu hỏi vấn đáp,… được giáo viên tự biên soạn hoặc tham khảo từ các tài liệu hướng dẫn GV
có thể thiết kế các công cụ từ các tài liệu tham khảo cho phù hợp với từng tình huống, bối cảnh đánh giá dạy học, đánh giá giáo dục (mang tính chủ quan của từng giáo viên) Công cụ sử dụng trong đánh giá thường xuyên có thể được điều chỉnh đế đáp ứng mục tiêu thu thập những thông tin hữu ích điển hình ở từng học sinh, do vậy không nhất thiết dẫn tới việc cho điểm
1.4.4 Xây dựng Rubrics đánh giá năng lực vật lý
Rubrics là một công cụ dùng để đánh giá bằng cách mô tả tất cả các tiêu chí đánh giá bài học, bài tập, bài làm hay công việc mà người học thực hiện bằng cách xếp loại theo các cấp độ khác nhau trên cơ sở mục tiêu cần đạt của bài học Nó là công cụ hữu ích trong đánh giá quá trình
Dựa trên các chỉ số hành vi của năng lực vật lý theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 của Bộ Giáo dục, dưới đây là Rubrics đánh giá năng lực vật lý và quy ước cách tính điểm để phân loại năng lực như sau:
Mức 2 (2 điểm)
Mức 3 (3 điểm) Nhận
các đối tượng, khái niệm, hiện
tượng, quy luật, quá trình vật
lí
Nhận ra nhưng chưa nêu được khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí của chủ đề
Nhận ra và nêu chưa rõ khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật
lí của chủ
đề
Nhận ra và nêu được đầy đủ các khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí của chủ đề
Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của
Trình bày được đầy đủ các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai
Trang 40Mức 2 (2 điểm)
Mức 3 (3 điểm)
hiện tƣợng, quá trình vật lí của chủ đề bằng các hình thức biểu đạt: nói nhƣng còn thiếu sót
các hiện tƣợng, quá trình vật lí của chủ đề bằng các hình thức biểu đạt:
nói, viết, đo, tính
trò của các hiện tƣợng, quá trình vật
lí của chủ đề bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính,
vẽ, lập sơ đồ,
biểu đồ
N3 Tìm đƣợc từ khoá, sử
dụng đƣợc thuật ngữ khoa
học, kết nối đƣợc thông tin
theo logic có ý nghĩa, lập
đƣợc dàn ý khi đọc và trình
bày các văn bản khoa học
Tìm đƣợc
từ khoá, sử dụng đƣợc thuật ngữ khoa học, kết nối đƣợc thông tin theo logic có ý nghĩa nhƣng chƣa lập đƣợc dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học trong chủ đề
Tìm đƣợc từ khoá, sử dụng đƣợc thuật ngữ khoa học, kết nối đƣợc thông tin theo logic
có ý nghĩa, lập đƣợc dàn ý khi đọc nhƣng trình bày các văn bản khoa học chƣa logic trong chủ
đề
Tìm đƣợc từ khoá, sử dụng đƣợc thuật ngữ khoa học, kết nối đƣợc thông tin theo logic có
ý nghĩa, lập đƣợc dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học trong chủ
đề