1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nghi lễ tín ngưỡng dân gian tài thừa thiên huế

96 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Nghi Lễ Tín Ngưỡng Dân Gian Tài Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Huế
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại luận văn
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 605,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Nghiên cứu nghi lễ tín ngưỡng dân gian là một trong những cách thức để tiếp cận, khám phá những đặc trưng, giá trị văn hóa tinh thần của con người các vùng miền Bài c[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu nghi lễ tín ngưỡng dân gian là một trong những cách thức để tiếp cận, khám phá những đặc trưng, giá trị văn hóa tinh thần của con người cácvùng miền Bài ca nghi lễ tín ngưỡng phản ánh nhiều khía cạnh về quan niệm tâm linh, giá trị văn hóa, sự chọn lựa ngôn từ, sự ứng xử và hành động của con người trong một môi trường địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế cụ thể

Với chiều dày lịch sử hơn 700 năm xây dựng và phát triển, lại từng là kinh

đô của cả nước trong gần 150 năm, Huế là vùng đất hiện còn bảo lưu nhiều nghi lễ dân gian xưa Nổi bật trong số đó là những nghi lễ trong tín ngưỡng thờ Mẫu, trừ tà đuổi quỷ và tiễn đưa linh hồn người chết

Là người sinh ra và lớn lên ở vùng đất Thừa Thiên Huế, tôi đã từng “ đi xem” nhiều lễ nghi mang tính chất tín ngưỡng dân gian như lên đồng hay lễ cầusiêu cho người chết Quan niệm “ con gái không được đi xem lên đồng vì sợ bị bắt bóng” của mạ tôi đã tạo nên một ấn tượng sợ hãi trong tôi Sau ngày đất nước thống nhất, một thời nhà nước cấm lên đồng, cho đó là mê tín dị đoan cầnphải bài trừ… Gần đây, lại rộ lên cuộc tranh luận là cấm lên đồng hay cho phéptồn tại hình thức lễ nghi này…Không thể có một quyết định đúng đắn nếu chúng ta không đi đến cùng trong việc tìm hiểu những lễ nghi mang tính tín ngưỡng dân gian như thế Với những kiến thức được học về ngôn ngữ trong khóa cao học này, tôi ước muốn tìm hiểu những lễ nghi ấy dưới góc nhìn ngôn ngữ, trước hết để có thể giải đáp câu hỏi cho riêng bản thân mình, lên đồng hay các lễ nghi mang tính chất tín ngưỡng dân gian có điều gì “ huyền bí” mà mạ tôi- và nhiều người cùng thế hệ của bà- lo sợ cho con gái của mình bị “ bắt bóng”, sau đó là có thể góp một phần nhỏ bé vào công tác nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Việt Nam nói chung, Thừa Thiên Huế nói riêng mà hiện nay còn nhỏ lẻ, qui mô khiêm tốn Việc nghiên cứu để nhận diện những đặc điểm

cơ bản của bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian tại Thừa Thiên Huế từ góc

độ ngôn ngữ học sẽ giúp chúng ta nhìn nhận vấn đề vốn trừu tượng là tín

ngưỡng một cách khoa học hơn, có tính định hướng rõ ràng hơn, góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề về quan niệm, lịch sử, tôn giáo, con người… của một vùng đất lịch sử, văn hóa đặc biệt như cố đô Huế

Đất nước đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh "thế giới phẳng" theo yêu cầu của Đảng

và Nhà nước đặt ra là hết sức cấp thiết Thực hiện mục tiêu này đòi hỏi những nhà quản lý cần có những nghiên cứu khoa học sâu rộng và cụ thể về những khía cạnh khác nhau của thực tiễn văn hóa Vì vậy, nghiên cứu nghi lễ tín

Trang 2

ngưỡng nói chung và bài ca nghi lễ tín ngưỡng dân gian của Thừa Thiên Huế nói riêng là một việc làm có ý nghĩa trong khoa học cũng như trong thực tiễn cuộc sống.

Là người được sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất Thừa Thiên Huế, côngtrình nghiên cứu này còn là một niềm tri ân với quê hương của người nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của chúng tôi trong đề tài này là nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ- văn hoá bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian của người Việt tại Thừa Thiên Huế thể hiện trong các loại hình hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh Công trình này nhằm góp phần tìm hiểu những đặc trưng về từ vựng, ngữ pháp và văn bản của bài ca nghi lễ, từ đó tìm hiểu giá trị văn hoá vùng miền, những nét nổi bật trong quan niệm nhận thức, phong tục, tập quán, sinh hoạt, con người Thừa Thiên Huế, dấu ấn các tầng văn hóa của vùng đất kinh kỳ qua các loại bài

ca nghi lễ tín ngưỡng dân gian

Thông qua việc sưu tập, nghiên cứu về ngôn ngữ bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế, chúng tôi mong muốn được góp phần phục

vụ cho việc bảo tồn và phát huy một số vấn đề về văn hóa cho địa phương

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian dưới góc độ ngôn ngữ học vẫn là một vấn đề còn mới mẻ ở nước ta Kể từ ngày Vua Chăm Chế Mân dâng hai châu Ô- Lý làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân (1306) đến nay, mảnh đất Thuận Hóa- Phú Xuân- Thừa Thiên Huế ngày nay đã có trên 700 nămlịch sử Thế nhưng tín ngưỡng dân gian ở Thừa Thiên Huế có một nguồn gốc lâu đời hơn thế, đó là sự kế thừa và tiếp nối một dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc Việt mang dấu ấn hơn 4.000 năm lịch sử Và ngôn ngữ là một khía cạnhthể hiện lịch sử- văn hóa- con người của một vùng đất Vì vậy, việc nghiên cứu bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế ở khía cạnh ngôn ngữ

sẽ giúp chúng ta rút ra được những phương pháp, cách thức, thao tác khoa học cần thiết trong việc nghiên cứu đời sống tâm linh của con người ở một vùng đất

cụ thể Và đây là nền tảng cho việc nghiên cứu ở cấp độ rộng lớn hơn

Nghiên cứu khía cạnh ngôn ngữ học các bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian tại Thừa Thiên Huế, luận văn sẽ bổ sung vào hệ thống tư liệu về văn hóa

và ngôn ngữ ở địa phương, góp phần làm rõ hơn những đặc trưng văn hóa tinh thần, nhất là văn hóa tâm linh của cộng đồng cư dân vùng đất kinh kỳ

Trang 3

Thông qua việc nghiên cứu, chúng ta có cơ sở thực tế để góp thêm tiếng nói trong việc nghiên cứu sự phát triển của tiếng Việt mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã tiến hành trong nhiều năm qua Đó là vị trí, vai trò của từ thuần Việt và từ Hán- Việt trong đời sống người dân Việt nói chung, người dân Thừa Thiên Huế nói riêng; đó là những từ ngữ cổ xưa của người Việt nay có còn được sử dụng hay chỉ còn trong sách vở, trong các bài ca nghi lễ; đó còn là những đặc điểm cấu trúc cú pháp tiếng Việt, đặc điểm cấu trúc câu văn vần; những đặc trưng văn hóa và tư duy biểu hiện qua ngôn ngữ Văn học dân gian chính là nơi lưu giữ những dấu ấn ngôn ngữ lâu bền và ít thay đổi nhất, trong

đó những bài ca nghi lễ được xem như là bảo tàng cất giữ ngôn từ của một dân tộc, của một vùng đất mà cụ thể ở trong luận văn này là vùng đất Huế

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

4.1 Về lí thuyết của bài ca nghi lễ

Nghiên cứu tín ngưỡng dân gian là một sự trở về với cội nguồn văn

hoá xã hội- đời sống tâm linh của con người Chúng ta càng tiến đến một xã hội văn minh hiện đại bao nhiêu thì khoảng cách với nguồn cội ngày càng xa Trong tiến trình lịch sử của mình, con người đã dựa vào cái gì để tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay Có biết bao câu hỏi được đặt ra: con người đãsống như thế nào trong thời kỳ đầu của loài người Đời sống vật chất, văn hoá tinh thần, niềm tin của con người ra sao… Do vậy, nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, ngoài sức hấp dẫn khi trả lời các câu hỏi trên còn là một trách nhiệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như Việt Nam Và như thế, nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian không còn là một địa hạt quá mới mẻ

Tuy nhiên, đó cũng là một địa hạt còn nhiều lĩnh vực để nghiên cứu Chẳng hạn như về những bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian

Trước hết là về vấn đề tên gọi “ bài ca nghi lễ” Khái niệm này, nhiều

nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã quan tâm tìm hiểu V Guxep trong

“ Mỹ học Folklor”, Nxb Đà Nẵng, 1999- đã đề cập đến bài ca nghi lễ các dân tộc trên thế giới như một thể loại mang đặc điểm mỹ học của thời đại Ông cũng đã nêu lên những cách phân chia khác nhau về bài ca nghi lễ của nhiều nhà nghiên cứu folklor trên thế giới với những ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất Ở lĩnh vực tự sự dân gian thì việc phân loại đã có truyền thống lâu đời, nhưng với các tiểu loại trữ tình chủ yếu có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa thì không được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều Do vậy, có nhiều cách phân loại. N.P Kolpakôva phân thành: 1 Bài ca- phù chú (xuất hiện trong lịch canh tác,

lễ cưới, pôđbliuđnưi: hát trong những ngày lễ từ khi đứa trẻ ra đời đến ngày

Trang 4

được đặt tên thánh); 2 Bài ca trò chơi; 3 Bài ca tôn tụng; 4 Những bài ca trữ tình V Ia Prôpp phân chia thành 1 Bài ca của nông dân làm canh tác; 2 Bài

ca của nông dân thoát ly công việc đồng áng; 3 Bài ca của công nhân

X.G.Ladutin không phân loại mà thiên về những khái niệm nhóm ca và chuỗi

ca Các nhà nghiên cứu folklor Liên Xô phân chia: 1 Những bài ca nghi lễ lịch tiết và những bài ca sinh hoạt gia đình (vãn ca khóc đám, tiễn cô dâu, bài ca lễ cưới) 2 Những bài ca lịch sử, ballad; 3 Những bài ca nhảy vòng; 4 Những bài

ca nhảy múa và những bài ca trò chơi I.I Demtxôvxki gọi một cách dè dặt “ trữ tình trong folklor lễ nghi” Theo V Guxep, những phân loại ấy, thực chất là phân chia theo truyền thống gồm trữ tình lễ nghi (bao gồm trữ tình lễ nghi lịch tiết và trữ tình lễ nghi gia đình), trữ tình phi lễ nghi Ông cũng cho rằng sự phân chia folklor thành những bài ca lễ nghi và phi lễ nghi cũng chỉ mang tính chất ước lệ thôi Đặc trưng cơ bản của trữ tình là sự điển hình hóa thái độ đối với thực tế, sự biểu hiện tình cảm, tâm trạng, tư tưởng, trạng thái tâm hồn mà phương tiện thể hiện là lời ca, nhạc và vũ

Và V.Guxep xếp bài ca phù chú vào một thể loại riêng (tuy rằng về nguồn gốc bài ca phù chú có liên hệ với thể loại bài ca lao động) Nội dung những bài

ca phù chú không những chỉ bao gồm sự phù phép của những lực lượng siêu nhiên, liên quan với công việc trồng trọt canh tác mà còn mở rộng sang những lĩnh vực, hoàn cảnh hết sức khác nhau trong đời sống con người Những bài ca phù chú biểu hiện những xúc động ý chí của con người, và những ý muốn mạnh mẽ với nguyện vọng sống hạnh phúc, khỏe mạnh, tốt lành, phong lưu

Mà theo họ, muốn thực hiện những ý muốn này cần có sự can thiệp, sự phù trợ của những lực lượng siêu nhiên huyền bí

Liên quan đến những lời phù chú, còn là những bài vịnh ca (hymnique-

từ gốc Hy Lạp- có nghĩa “ ca tụng”, “ ca ngợi”), biểu hiện những tình cảm mừng rỡ, hân hoan, phấn khởi, biết ơn, tôn sùng đối với tự nhiên và những con người được thần thoại hóa như các vị anh hùng kiệt xuất (chúng ta sẽ thấy rõ ở các bài hát Chầu văn Huế) Ngoài vịnh ca còn có những bài ca bi ai, thể hiện những tình cảm đau buồn, thương nhớ, sầu não do nhiều cảnh ngộ trong cuộc sống gây ra (nội dung này được thể hiện rõ trong thể loại bài ca dân gian hò đưa linh ở Huế)

Trong “ Mỹ học folklor”, A Guxep còn nhắc đến kịch folklor- đó là những trò diễn lễ nghi Kịch bao gồm bốn yếu tố: ngôn từ, nhại điệu bộ, vũ và nhạc Trò diễn lễ nghi là một sự tái hiện tượng trưng ở một hình thức có tổ chức Thực hiện chức năng lễ nghi, những trò diễn lễ nghi trong bản chất là hành động mang tính hình tượng, khách quan, có giá trị nghệ thuật, nội dung thẩm

mỹ tiềm tàng và gây một tác động đến người xem Đến thời đại mà trò diễn lễ nghi mất chức năng nghi lễ của nó, nhưng do truyền thống nó vẫn được giữ lại

Trang 5

trong sinh hoạt của nhân dân, thì chính nội dung thẩm mỹ tiềm tàng của trò diễn này đã tạo nên sức sống cho nó trong lúc bản thân nhân dân đã quên mất ýnghĩa cổ sơ của nó Các trò diễn này được đưa lên sân khấu không kể gì đến lễ tiết, theo lịch Chúng tôi thấy Hát sắc bùa Phò Trạch hay hát bả trạo ở Huế là loại hình có đầy đủ những yếu tố của kịch folklor như A Guxep đã phân tích.

Nội dung những bài ca phù chú bao gồm sự phù phép những lực lượng siêu nhiên qua công việc trồng trọt và sự can thiệp, phù trợ của lực lượng này để thực hiện những ước muốn của con người

Nói về ý nghĩa của ngôn ngữ trong bài ca nghi lễ, V Guxep nhấn mạnh

“Toàn bộ nội dung cụ thể của cảnh tượng, hình tượng, tư tưởng, tất cả sự rành mạch của khái niệm hoàn toàn được xác định bởi lời của bài ca…”[21, 264]

Trong công trình nghiên cứu này, V.Guxep chỉ đi sâu vào việc phân loại và phân tích mỹ học folklor mà chưa đi sâu vào phân tích những đặc điểm về ngônngữ- văn hóa trong những bài ca phù chú (bài ca nghi lễ)

4.2 Về bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế

Về lịch sử nghiên cứu bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, các giáo trình Văn học dân gian Việt Nam đã chỉ ra rằng đó là một thể loại dân

ca thực hiện chức năng giao tiếp với lực lượng siêu nhiên, thể hiện khát vọng của dân tộc, con người Trong công trình nghiên cứu “ Văn hoá của dân tộc thiểu số- những giá trị đặc sắc”, ở chương hát nói Giáo sư Phan Đăng Nhật đã dành một phần giới thiệu về dân ca nghi lễ và phong tục nói chung và dân ca nghi lễ phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói riêng

Đối với phạm vi nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Huế, nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh đã nghiên cứu nhiều vấn đề như cư dân Huế và nguồn gốc hình thành tín ngưỡng dân gian Huế, các phạm trù tín ngưỡng dân gian Huế, phạm vi của tín ngưỡng dân gian Huế, các kiểu thờ cúng theo giới tính, lứa tuổi, thờ cúng theo ngành nghề, văn chương, ca vũ nhạc trong tín ngưỡng dân gian Huế, các kiểu kiến trúc thờ tự theo tín ngưỡng dân gian Huế, tranh dân gian phục vụ tín ngưỡng dân gian Huế, văn chương, ca vũ nhạc trong tín ngưỡng dân gian Huế, ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian đối với các tôn giáo và tín ngưỡng dân gianHuế ngày nay Giá trị tư liệu trong công trình nghiên cứu này rất lớn

Nhà nghiên cứu Tôn Thất Bình- một người có nhiều công trình nghiên cứu

về văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế- trong công trình nghiên cứu “ Lễ hội dângian ở Thừa Thiên Huế” đã quan tâm nghiên cứu các lễ hội dân gian tiêu biểu ở

Trang 6

Thừa Thiên Huế như Lễ hội tưởng niệm các vị khai canh, khai khẩn, thành hoàng làng; Lễ hội cầu ngư; Lễ hội tổ sư các ngành nghề; Lễ hội cầu an theo vụmùa; Lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo; Lễ hội tưởng nhớ các danh nhân, anh hùng lịch sử…Có thể nói đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất những lễ hội dân gian tiêu biểu ở Thừa Thiên Huế, tác giả chú trọng đến tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa lịch sử và xã hội của từng lễ hội, diễn tiến của các nghi lễ, nội dung những bài ca nghi lễ được trình bày trong các lễ hội.

Một số nghệ nhân, vì yêu quý vốn cổ của quê hương mình đã tự tìm tòi, sưu tầm, ghi chép lại những bài ca nghi lễ thành những văn bản như cụ Phạm Bá Diện ở làng Phò Trạch, xã Phong Bình- huyện Phong Điền ghi chép 36 bài hát Sắc bùa của làng Phò Trạch, nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh- đi điền dã và sưu tầm gần 42 bài chầu văn chữ Nôm Một số công trình nghiên cứu về tục thờ mẫu ở Điện Hòn Chén (Huế) của các sinh viên Nhìn chung, chưa có công trìnhnào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ- văn hoá của bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gianViệt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng dân gian vùng đất Thừa Thiên Huế Các nhà nghiên cứu chỉ chú ý đến bình diện nội dung cũng như sự tập hợp thu thập tư liệu chứ chưa có những thống kê phân loại từ ngữ theo đặc điểm cấu tạo, phân loại từ ngữ theo phạm trù ngữ nghĩa và cấu trúc văn bản củabài ca nghi lễ nói chung và bài ca nghi lễ Thừa Thiên Huế nói riêng Chính vì vậy luận văn này sẽ đi sâu vào các nội dung liên quan đến ngôn ngữ và văn hoá, góp thêm một tiếng nói về việc nghiên cứu một số loại bài ca nghi lễ trongtín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngôn ngữ- văn hóa bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế Chúng tôi xác định khảo sáttrên một số tư liệu sau:

- Chầu văn: 10 bài văn chầu văn bằng chữ Nôm do nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh đi điền dã và sưu tầm, tác giả đã phiên chuyển sang chữ quốc ngữ và đồng

Trang 7

- Một số bài ca do chúng tôi sưu tầm và một số đã được công bố (trong sách,báo).

5.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tên gọi của đề tài cũng đã góp phần giới hạn phạm vi nghiên cứu của chúng tôi Ở đây, chúng tôi không có tham vọng chỉ ra những đặc điểm về ngôn ngữ- văn hóa trong tất cả những thể loại bài ca nghi lễ ở Thừa Thiên Huế Bởi lẽ, trước hết, đây là đề tài mới mẻ, ít có điều kiện kế thừa những thành quả đi trước; sau đó là do năng lực và trình độ của tác giả luận văn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở lĩnh vực Hán văn và âm nhạc, cho nên phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trong công trình này là:

- Về thể loại chúng tôi chỉ khảo sát các thể loại: hát chầu văn, hát sắc bùa,

hò đưa linh

- Về ngôn ngữ thể hiện: Bài ca nghi lễ có hai hình thức văn bản Hán và văn bản Việt, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu văn bản Việt (bao gồm cả chữ Nôm đã được phiên chuyển sang chữ quốc ngữ)

- Chúng tôi không nghiên cứu phương thức diễn xướng của các bài ca nghi

lễ mà chỉ tập trung khảo sát văn bản

là một vấn đề còn rất mới mẻ ở nước ta Vì vậy, việc nghiên cứu bài ca ở khía cạnh ngôn ngữ- văn hóa, đề tài sẽ có những đóng góp về việc tìm hiểu biến thể ngôn ngữ xã hội mang tính tâm linh đã được đề cập đến trong ngành ngôn ngữ học xã hội

6.2 Nghiên cứu khía cạnh ngôn ngữ -văn hóa, đề tài cũng bổ sung vào hệ thống tư liệu về văn hóa tâm linh ở địa phương, góp phần làm rõ hơn những đặc trưng văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân vùng đất kinh kỳ

6.3 Phần phụ lục của đề tài là một số bài chầu văn, hò đưa linh, hát sắc bùa của Huế, một số bài chầu văn, hò đưa linh, hát sắc bùa ở các địa phương, các bài báo về việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các lễ hội dân gian

Trang 8

trong đó có lễ hội Chầu văn, những bức ảnh về các nghệ nhân dân gian hò đưa linh, hát sắc bùa; đĩa DVD “Hò đưa linh xứ Huế”, “ Tục thờ Mẫu và hầu bóng trong tục thờ Mẫu ở Huế”… tất cả đều nhằm cung cấp cứ liệu một cách đầy đủ hơn cho việc nghiên cứu của đề tài.

7 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

7.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điền dã: Việc tìm hiểu bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian không chỉ dựa vào những tài liệu sách vở mà còn dựa vào những tài liệu ghi chép thực tế thông qua việc điền dã tại các địa phương Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm hiểu rõ nguồn gốc, cách thức thực hành nghi lễ, ý nghĩa

xã hội của đối tượng nghiên cứu ( theo Popov: “Bất cứ sự giải thích theo định kiến nào, không căn cứ vào sự kiện, thường rơi vào sai lầm”)

- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi thống kê, phân loại các văn bản của bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian tại Thừa Thiên Huế theo các phương diện khác nhau

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để thấy rõ tính đặc thù của thể loại bài ca,chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy những tương đồng

và dị biệt, từ đó rút ra những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa cụ thể Chúng tôi cóthể sử dụng phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại để nghiên cứu sâu hơn những vấn đề liên quan…

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để có thể thấy rõ những lựa chọn ngôn ngữ trong mối liên hệ với những mục đích xã hội cụ thể khi

chủ thế sử dụng bài ca nghi lễ tín ngưỡng, chúng tôi sử dụng thêm các phương pháp liên ngành từ ngành khoa học khác như văn hóa học, sử học

7.2 Nguồn tư liệu nghiên cứu

- Tư liệu lưu trữ ghi chép thành văn bằng chữ quốc ngữ

- Tư liệu ghi âm tại chỗ (tư liệu điền dã)

- Tư liệu ghi hình tại chỗ (tư liệu điền dã)

8 Bố cục của luận văn

Trang 9

Trong luận văn này, ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, tài liệu tham khảo

và phụ lục, luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế

Chương 3: Đặc điểm văn hoá của bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế

Như đã trình bày, tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ- văn hóa bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế là một đề tài mới, người viết gặp rất nhiềukhó khăn trong các bước tiếp cận và triển khai Do vậy, những thiếu sót trong luận văn là điều không thể tránh khỏi Tác giả luận văn mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của những người quan tâm đến đề tài này để công trình nghiên cứu

có thể đóng góp một phần nhỏ bé vào việc khẳng định những giá trị về văn hóa,lịch sử và ngôn ngữ của những bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian, từ đó, góp phần vào công cuộc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thốngcủa dân tộc mà Huế là một phần trong đó

1.1.1 Khái niệm từ

Trong đời sống ngôn ngữ, từ là đơn vị trung tâm bởi nó thể hiện quan hệ giữa ngôn ngữ và hiện thực khách quan Từ trực tiếp gọi tên các sự vật hiện tượng cụ thể và là đơn vị cơ bản của ngữ pháp vì nó là đơn vị để tạo ra các kết

Trang 10

cấu ngữ pháp Tuy nhiên, việc nêu ra một khái niệm đầy đủ, chính xác về từ là vấn đề hết sức khó khăn, bởi lẽ, mặc dù là đơn vị hiển nhiên sẵn có nhưng từ thể hiện ra trong các ngôn ngữ rất khác nhau và thậm chí trong một ngôn ngữ,

từ thể hiện trong từng hoàn cảnh nói năng cũng rất khác nhau Chính vì vậy có nhiều khái niệm về từ được đưa ra nhưng ngay cả các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như Saussure, Bloomfield v v, cũng không nêu ra một định nghĩa rõ ràng về từ Người ta chỉ nêu các định nghĩa có tính phân loại (phân biệt với cácđơn vị khác) rằng, từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về nghĩa và hình thức, hoặc từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độclập và tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng câu

Trong tiếng Việt cũng có nhiều nhà Việt ngữ học đưa ra những khái niệm từ

Để thuận lợi cho việc xác lập cơ sở lí luận khi triển khai phân loại và thu thập

tư liệu chúng tôi xin chọn cách nêu khái niệm từ của Giáo sư Đỗ Hữu Châu:

“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”[8,16]

1.1.2 Cấu tạo từ

1.1.2.1 Khái niệm cấu tạo từ

Cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ để sản sinh ra các từcho ngôn ngữ, phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt mà xã hội đặt ra Việc sản sinh ra từ cũng trước hết là sản sinh ra các nghĩa mới Hơn nữa, vận động cấu tạo từ sản sinh ra không phải chỉ một từ riêng lẻ mà sản sinh hàng loạt

từ cùng một kiểu

1.1.2.2 Phân loại từ về mặt cấu tạo

Xét về mặt cấu tạo, từ có các loại sau:

- Chức năng: Đại bộ phận các từ thuần Việt hay đã Việt hóa là từ đơn một

âm tiết Trong vốn từ vựng tiếng Việt, từ đơn có số lượng không lớn lắm nhưng

Trang 11

lại mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt Với nhữngđặc trưng ngữ nghĩa đó, chúng được dùng để cấu tạo hàng loạt từ ghép ( Có

một số trường hợp từ đơn âm thuần Việt ngoại lệ là bù nhìn, bồ câu, ễnh ương, chèo bẻo, ác là, mồ hôi, bồ hóng, mà cả…).

+ Từ ghép

- Khái niệm: “Từ ghép là những từ được sản sinh theo hai hoặc một số hình

vị tách biệt, riêng rẽ, độc lập với nhau” [8, 54].

- Chức năng: Về mặt ngữ nghĩa, các từ ghép trong tiếng Việt có chức năng phân nghĩa, chức năng hợp nghĩa ( diễn đạt nghĩa chỉ loại lớn hơn, rộng hơn, bao trùm hơn, hoặc nghĩa chuyên chỉ loại hoặc nghĩa bao gộp) và chức năng biệt lập

+ Ngữ cố định

- Khái niệm: Ngữ cố định là các cụm từ đã cố định hóa nên nó có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc và cũng có tính xã hội như từ

- Chức năng: Có giá trị ngữ nghĩa như từ, tạo nên tính cố định về hình thức

và ngữ nghĩa trong văn bản

1.1.3 Từ ngữ phân theo nguồn gốc

Từ vựng chính là “vốn liếng” của ngôn ngữ Trong tiếng Việt, xét về nguồn gốc, từ vựng có nhiều nguồn, đó là nguồn của cư dân người Việt cổ,

nguồn ảnh hưởng từ Trung Quốc trong quá trình 1.000 năm Bắc thuộc

và nguồn từ các nước Ấn- Âu Trong những bài ca nghi lễ hát chầu văn , hát

Trang 12

sắc bùa và hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi nhận thấy ngoài sự xuất hiện của hai lớp từ chủ yếu là từ thuần Việt và từ Hán Việt, còn có lớp từ địa phương Chúng tôi xin trình bày cơ sở lý luận của các lớp từ vựng này:

1.1.3.1 Từ thuần Việt

+ Khái niệm: Những từ được gọi là thuần Việt là những từ vựng gốc của tiếng Việt, biểu thị các sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất và tồn tại từ rất lâu Do đặc điểm địa lý ở gần nhau cũng như các đợt di dân từ các vùng miền, từ thuần Việt cũng được tạo ra trên cơ sở có những điểm tương đồng với các dân tộc ở Nam Á Quá trình tiếp xúc và tác động lâu dài với các ngôn ngữ Nam Á và Tày- Thái đã để lại dấu ấn là một lớp từ vựng cơ bản và lâu đời nhất trong tiếng Việt

+ Vai trò của từ thuần Việt: Trong văn bản tiếng Việt, từ thuần Việt đóng vai trò cốt lõi và chi phối các lớp từ khác Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng

nhận xét rằng tiếng Việt của chúng ta rất giàu và đẹp “Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp ấy là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa” Trong nguồn từ vựng của tiếng Việt, lớp từ

Hán- Việt chiếm đến 60%, từ thuần Việt chỉ chiếm 40 % Nhưng vì lớp từ thuầnViệt là lớp từ cơ bản biểu thị các phạm trù ngữ nghĩa chỉ các sự vật, hiện tượng,tính chất, hoạt động gắn bó thiết thân với đời sống con người nên việc sử dụng lớp từ thuần Việt trong các văn bản luôn cao hơn lớp từ Hán- Việt, đặc biệt trong các văn bản là sản phẩm của dân gian Điều này sẽ được chứng tỏ thông qua thống kê của chúng tôi về tỷ lệ từ thuần Việt và từ Hán Việt ở phần sau Trong thời đại hiện nay, tiếng Việt ngày càng nâng cao vai trò của mình trong thực tiễn, ngày càng có nhiều từ thuần Việt được sử dụng thay thế cho từ Hán- Việt trong những trường hợp diễn tả nghĩa tương đương Xu hướng giao tiếp, sáng tác văn học của Việt Nam ngày nay là hướng đến sự chân thật, giản dị, mộc mạc, dễ hiểu Với những tiêu chí ấy, lớp từ thuần Việt đáp ứng tốt Không chỉ trong văn học mà trong nhiều loại hình khác thuộc về tâm linh như các văn bản cầu cúng có tính chất nghi lễ, người ta cũng dần dần giảm bớt từ Hán- Việt thay vào đó là sử dụng nhiều từ thuần Việt dễ hiểu Như thế, có thể nói rằng, từ thuần Việt là lớp từ quan trọng và chủ chốt trong các văn bản hiện nay

1.1.3.2 Từ Hán - Việt

+ Khái niệm: Từ Hán- Việt là những từ gốc Hán được đọc theo âm Việt + Vai trò của từ Hán Việt:

Trang 13

Trải qua quá trình lựa chọn, cải biên và vận dụng kéo dài hàng ngàn năm, lớp từ Hán- Việt đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong kho từ vựng tiếng Việt.Giữa từ thuần Việt và từ Hán- Việt đã có sự phân hóa chức năng và được người Việt sử dụng để thể hiện sắc thái tu từ trong các phong cách chức năng khác nhau Từ Hán- Việt là nguồn chất liệu đáng kể không chỉ trong văn chương bác học mà cả trong văn chương bình dân

Từ chỗ vay mượn trực tiếp, các từ Hán đã được Việt hóa và được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt hàng ngày của người Việt Nhà nghiên cứu Lê Xuân Thại (1990) cho rằng trong vốn từ tiếng Việt, các từ mượn từ tiếng Hán chiếm 60-70 % Theo Nguyễn Văn Tu (1980), thuật ngữ khoa học xã hội trong tiếng Việt vay mượn đến 80%

Từ gốc Hán trong tiếng Việt rất đa dạng và phong phú Người ta không thể tách từ Hán -Việt ra khỏi khối lượng từ vựng nói chung trong tiếng Việt Hiện nay, chưa có con số thống kê chính xác nhưng theo Huỳnh Thanh Xuân (2003),“ Từ Hán- Việt trong tiếng Việt hiện đại”,Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thì trong vốn từ vựng của tiếng Việt, từ Hán- Việt chiếm một

số lượng rất lớn- có lẽ lên đến trên 70 % Theo nguyên lý biến đổi của ngôn ngữ, thì càng năm tỷ lệ này càng giảm do người dân Việt đã Việt hóa nhiều từ

có nguồn gốc tiếng Hán trở thành từ tiếng Việt Đó là trường hợp nhiều từ đã được Việt hóa đến nỗi ngày nay nhiều người Việt Nam cũng không ý thức rõ

nhiều về từ Hán- Việt có một âm tiết có nguồn gốc từ tiếng Hán như: học, áo, canh, tiền, chỉ, hoặc, tuy, bát, bút, hộp, than.

Một số từ Hán- Việt được đưa vào sử dụng trong tiếng Việt, có nhiều trường hợp phải cải biến nghĩa cho phù hợp với tiếng Việt Có những từ Hán- Việt được chuyển từ nghĩa rộng sang hẹp, từ trừu tượng, khái quát sang cụ thể, hay mang thêm một nét biểu cảm nào đó

Đặc biệt, có một lượng lớn từ Hán- Việt sau khi du nhập vào tiếng Việt, qua thời gian được sáng tạo cho phù hợp với tiếng Việt, gọi là Việt hóa Đây là một

xu hướng diễn ra liên tục từ khi người Việt bắt đầu tiếp xúc với tiếng Hán cho đến ngày nay Điều này chứng minh cho quy luật phát triển chung của ngôn ngữ đó là sự phát triển, thâm nhập lẫn nhau của những ngôn ngữ ở gần nhau Thông qua việc Việt hóa từ Hán- Việt, chúng ta cũng thấy được lòng yêu nước, tinh thần sáng tạo, vận dụng của người Việt Sự Việt hóa này được thể hiện trênnhiều phương diện: ngữ âm, ngữ nghĩa và phong cách Người Việt đã có những cách ứng xử đối với từ Hán- Việt cho phù hợp với hệ thống và mục đích sử dụng của tiếng Việt

1.1.3.3 Từ địa phương

Trang 14

+ Khái niệm: Từ địa phương là biến thể địa lý của từ toàn dân trong một phạm vi hẹp.

+ Vai trò của từ địa phương: Từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách, báo, nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm nhânvật

1.1.4 Các phạm trù ngữ nghĩa của từ

Trong hệ thống từ vựng, sự liên hệ về ngữ nghĩa giữa các từ không hiện ra một cách trực tiếp, nhưng khi đặt các từ vào trong những hệ thống con thích hợp thì chúng ta sẽ nhận ra tính hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng Quan

hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ lúc này được thể hiện qua các phạm trù ngữ nghĩa của từ

Khái niệm: “Các phạm trù ngữ nghĩa của từ là lớp các mục từ có cùng chức năng, một đặt tính của lớp từ như thế” [34,91] Đây là một thuật ngữ chung

được các nhà ngôn ngữ học sử dụng theo những cách khác nhau

Phân loại: Các nhà ngôn ngữ học đã phân loại từ theo nhiều phạm trù như phạm trù ngữ nghĩa, phạm trù ngữ pháp, phạm trù từ vựng, phạm trù

người/phạm trù phi người, phạm trù rỗng…

1.2 CÂU

1.2.1 Khái niệm câu

“Câu là phạm trù ngữ pháp cơ bản của cú pháp học Nó là đơn vị độc lập

nhỏ nhất của lời nói, đơn vị hiện thực của giao tiếp được cấu tạo từ từ và ngữ theo qui luật ngữ pháp và ngữ điệu của một ngôn ngữ, là phương tiện cơ bản

để hình thành, thể hiện và thông báo ý nghĩ, cảm xúc về thực tại và mối quan

hệ của chúng với người nói” [ 53,32]

1.2.2 Cấu trúc cơ bản của câu

Hiện nay có hai khuynh hướng phân tích cấu trúc câu trong tiếng Việt, đó là

Trang 15

khuynh hướng phân tích theo ngữ pháp truyển thống lấy cấu trúc chủ vị làm nền tảng và phân tích cấu trúc câu theo ngữ pháp chức năng lấy cấu trúc đề thuyết làm nền tảng.

1.2.2.1 Hướng phân tích theo cấu trúc chủ - vị

Theo PGS-TS Nguyễn Hồng Cổn (2008), Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt- chủ vị hay đề thuyết- Hội nghị khoa học về Việt Nam học, phân tích theo

quan hệ chủ vị là hướng phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt phổ biến ở Việt Nam, hiện vẫn được sử dụng trong ngữ pháp nhà trường Hướng phân tích này chịu ảnh hưởng cách phân tích cấu trúc câu theo quan hệ chủ - vị của ngữ pháp truyền thống châu Âu, đặc biệt là ngữ pháp tiếng Pháp Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, những người đầu tiên đi theo hướng này (Trần Trọng Kim 1936, Phan Khôi 1948, Bùi Đức Tịnh 1952), cấu trúc cú phápcủa câu thường được mô tả qua khái niệm mệnh đề với nòng cốt là cấu trúc chủ

- vị Mệnh đề bao gồm hai thành phần chính là chủ từ (tiếng đứng làm chủ) và động từ hay tính từ (chỉ cái dụng hay cái thể của chủ từ); ngoài ra còn có túc từ phụ thêm cho chủ từ, động từ, tính từ Trong giai đoạn này, Phan Khôi là người

để lại dấu ấn sâu đậm nhất Để mô tả cấu trúc cú pháp của câu đơn, Phan Khôi

đã xác định một danh sách thành phần câu đầy đủ hơn (gồm 6 thành phần: chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ túc ngữ, hình dung phụ gia ngữ và phó từ phụ gia ngữ)trong đó chủ ngữ và vị ngữ được coi là hai thành phần chủ yếu của câu Điều đáng lưu ý là Phan Khôi đã thay thế các thuật ngữ chủ từ/động từ bằng các thuật ngữ chủ ngữ/ vị ngữ, phản ánh đúng hơn bản chất ngữ pháp (chức năng chứ không phải từ loại) và tính cấp độ (ngữ chứ không phải là từ) của các thànhphần câu hữu quan Những năm 60-80 của thế kỷ XX, cấu trúc chủ -vị của mệnh đề ngữ pháp được các nhà Việt ngữ học kế thừa và phát triển theo những hướng khác nhau Hầu hết các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục hướng lưỡng phân cấu trúc cú pháp của mệnh đề / câu đơn theo quan hệ chủ -vị và dùng các thuật ngữ cụm từ chủ -vị (Nguyễn Kim Thản 1964), kết cấu chủ - vị (Hoàng Trọng Phiến 1980), cụm chủ -vị (Diệp Quang Ban 1984) câu chủ -vị (Lê Xuân Thại 1994) để chỉ kiểu cấu trúc này Tuy nhiên, một số tác giả khác lại cho rằng cấu trúc cú pháp của câu không phải là một kết cấu chủ -vị mà là một kết cấu tiêu điểm có vị ngữ làm trung tâm và các bổ ngữ tiêu điểm, trong đó chủ ngữ cũng chỉ là một loại bổ ngữ (L.C Thompson 1965), hoặc là một cấu trúc nòng cốt tối giản gồm vị ngữ cùng các tham tố của nó là chủ ngữ và bổ ngữ bắt buộc

( Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp 1998)

1.2.2.2 Hướng phân tích theo quan hệ đề- thuyết

Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX, xuất hiện trong Việt ngữ học hướng

Trang 16

phân tích câu theo cấu trúc đề-thuyết Sở dĩ có hướng phân tích này là do hướng phân tích theo cấu trúc chủ -vị đã không giải quyết đến tận cùng nhiều câu vốn rất phổ biến trong giao tiếp của người Việt

Cao Xuân Hạo là người đầu tiên áp dụng một cách triệt để quan hệ đề - thuyết vào việc phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt Trong công trình

“Tiếng Việt- Sơ thảo Ngữ pháp chức năng” (1991), Cao Xuân Hạo cho rằng cần phải thay cách phân tích câu tiếng Việt theo quan hệ chủ vị mà theo tác giả

là đã được bê nguyên xi từ tiếng Pháp vào tiếng Việt do tư tưởng “dĩ Âu vi trung” bằng cách phân tích theo quan hệ đề- thuyết Theo đó, câu với tư cách làđơn vị “thông báo một mệnh đề” hay “phản ánh một nhận định” được cấu trúc hóa thành hai phần đề và thuyết, trong đó “đề là điểm xuất phát, là cái cơ sở, cái điểm tựa làm bàn đạp cho đà triển khai của câu” ở phần thuyết

Trên đây là hai hướng phân tích cấu trúc câu tiếng Việt và hiện vẫn đang

được áp dụng Thực tế khi nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, có một thông lệ bất thành văn là người ta chỉ trình bày cấu trúc cú pháp của câu đơn song phần đơngiản, là kiểu câu có cấu trúc ứng với cấu trúc cơ bản được chọn làm công cụ để miêu tả Trong luận văn này, cấu trúc cú pháp cơ bản mà chúng tôi lựa chọn khinghiên cứu câu trong các bài ca nghi lễ dân gian Thừa Thiên Huế là cấu trúc câu theo quan hệ chủ ngữ- vị ngữ (C-V) và phân loại câu theo cấu trúc thành hai loại lớn là câu đơn và câu ghép

1.2.3 Phân loại câu theo cấu trúc

1.2.3.1 Câu đơn

+ Khái niệm: là câu gồm một cấu trúc chủ- vị làm nòng cốt, ngoài ra còn có thành phần mở rộng

+ Các loại câu đơn:

- Câu đơn song phần: là câu có cấu tạo gồm hai thành phần chính là chủ ngữ

và vị ngữ

- Câu tỉnh lược: là câu mà trong đó một hoặc cả hai thành phần chính được

tỉnh lược, đôi khi chỉ có một bộ phận phụ mà thôi (do ngữ cảnh trong lời đối thoại có thể tiết kiệm, ta có thể lặp lại đầy đủ thành phần)

- Câu đặc biệt: là câu một thành phần diễn đạt ý trọn vẹn mà không xác định được thành phần chính của câu là chủ ngữ hay vị ngữ về mặt cấu trúc

Trang 17

1.2.3.2 Câu ghép

+ Khái niệm: Câu ghép là câu chứa hai kết cấu chủ ngữ- vị ngữ trở lên, không bao hàm lẫn nhau, liên hệ với nhau bằng những mối quan hệ ngữ pháp nhất định, hoặc quan hệ đẳng lập hoặc quan hệ chính phụ

+ Các loại câu ghép:

- Câu ghép chính phụ: là câu gép có các vế câu không bình đẳng về ngữ pháp

( có vế chính và vế phụ) Vế phụ được bắt đầu bằng quan hệ từ phụ thuộc

- Câu ghép chuỗi: là câu ghép không dùng quan hệ từ hoặc cặp phụ từ, cặp đại từ hô ứng làm phương tiện nối các vế với nhau

- Câu ghép đẳng lập: là câu có các vế câu bình đẳng với nhau về ngữ pháp,được nối với nhau bằng những quan hệ từ bình đẳng

- Câu ghép qua lại: là câu ghép có các vế được nối với nhau bằng các cặp phụ

từ hoặc cặp đại từ

1.2.4 Phân loại câu theo mục đích nói năng

Dựa theo mục đích nói năng, có 3 kiểu câu thông dụng nhất thường gặp trong

phát ngôn, đó là câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến ( câu mệnh lệnh). 1.2.4.1 Câu trần thuật

+ Khái niệm: Câu trần thuật là câu thuật lại sự việc, các hoạt động hay tính chất, trạng thái của sự vật, hiện tượng

+ Đặc điểm: Là câu kể nên không yêu cầu người nghe đáp lại Có ba loại câu trần thuật: câu khẳng định, câu phủ định và câu không xác định

1.2.4.2 Câu nghi vấn

Trang 18

+ Khái niệm: Câu nghi vấn là câu dùng để hỏi Khi viết được kết thúc bằng dấu chấm hỏi.

+ Đặc điểm: Câu nghi vấn được thể hiện bằng ngữ điệu hỏi, từ nghi vấn và

có dạng nghi vấn ở phủ định

1.2.4.3 Câu cầu khiến ( câu mệnh lệnh)

+ Khái niệm: Câu cầu khiến là câu biểu đạt yêu cầu, nguyện vọng, khuyên bảo, sai khiến, xin xỏ, thúc giục hành động

+ Đặc điểm: Câu cầu khiến khinói có ngữ điệu mệnh lệnh.

1.2.4.4 Câu cảm thán

+ Khái niệm: “Câu cảm thán nhằm mục đích nói lên các thứ tình cảm,

các trạng thái tinh thần của người nói”.

+ Đặc điểm: Có nhiều ngữ điệu khác nhau Nhờ những ngữ điệu ấy mà

ta nói lên được những tình cảm vui mừng, sợ hãi, căm giận, âu yếm, nũng nịu, ca tụng…

1.3 VĂN BẢN

1.3.1 Khái niệm văn bản

Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong nói hay viết, mang tính hoàn chỉnh nhất, trọn vẹn nhất Văn bản được tạo lập bởi sự liênkết các câu bằng những liên kết khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, tu từ…, tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức : có nội dung, có cấu trúc, có đề tài và hợp nhất hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định

Hiện nay, việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ tồn tại hai tên gọi sau văn bản và diễn ngôn Trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ học, giai đoạn đầu người ta gọi văn bản để chỉ chung những sản phẩm ngôn ngữ viết và sản phẩm ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết Giai đoạn thứ hai, có sự phân biệt, dùng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói Giai đoạn hiện nay, diễn ngôn được dùng như văn bản ở giai đoạn đầu, tức

là dùng chung cả sản phẩm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Soi rọi khái niệm ấy vào thực tế, cụ thể như trong hát chầu văn và hò đưa linh, người cung văn có thể dựa vào hình dáng, điệu độ của vai đồng để ứng tác

Trang 19

cho phù hợp Hay như trong hò đưa linh, tùy theo hoàn cảnh gia đình mà người nghệ nhân ca ứng tác cho phù hợp Nghệ nhân Trương Văn Khiếm 87 tuổi ở làng Thai Dương- Thuận An- Phú Vang cho biết: một buổi ca hò đưa linh, tùy theo yêu cầu của gia chủ mà họ có thể hát từ 2 giờ đến 4 giờ Bài ca thì vẫn nhưnhau nhưng nếu kéo thêm giờ thì họ sẽ ngân lên, thêm các hô ngữ vào, và tùy theo thực tế lúc ấy mà họ ứng tác thêm Do tính chất đặc trưng của đề tài là nghiên cứu bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế, với thực

tế như thế cho nên để tiện cho việc trình bày, khái niệm văn bản được chúng tôi

đề cập đến trong luận văn này là văn bản ở giai đoạn đầu

1.3.2 Phân loại văn bản

Trong thực tế có rất nhiều loại văn bản Sự tồn tại của các loại văn bản khác nhau là do nhu cầu giao tiếp khác nhau Có năm loại văn bản thường gặp trong thực tiễn giao tiếp, đó là văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản trữ tình, văn bản khoa học và văn bản hành chính

1.3.2.1 Văn bản tự sự

+ Khái niệm: Văn bản tự sự là văn bản tái hiện hiện thực ( hiện thực khách quan hoặc một thế giới tưởng tượng nào đó) bằng cách trình bày các sự việc theo trình tự thời gian

+ Đặc điểm của văn bản tự sự: Ba đặc điểm nổi bật của văn bản tự sự là tính khách quan, tính liên tục và tính mạch lạc

+ Các thể loại văn bản tự sự: truyện, tiểu thuyết, các bản tin

Trang 20

+ Đặc điểm của văn bản trữ tình: Văn bản trữ tình có các đặc điểm, đó là tính chủ quan, tính hàm súc và tính mạch lạc.

Tính chủ quan là đặc điểm cơ bản của văn bản trữ tình Tính hàm súc

thể hiện ở chỗ những suy nghĩ, tình cảm chứa đựng trong văn bản trữ tình trong rất nhiều trường hợp được ẩn dấu hết sức kín đáo Tính mạch lạc là thuộc tính phải có của văn bản Tuy nhiên trong văn bản trữ tình, tính mạch lạc được xây dựng từ quá trình phát triển cảm xúc Mạch lạc trong văn bản trữ tình chính

là sự thể hiện lôgich tâm trạng

Các bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế thuộc thể loại văn bản trữ tình Bởi lẽ theo như V Guxep trong “Mỹ học Folklor”, ông xếp những bài ca nghi lễ vào thể loại những bài ca dân gian trữ tình

1.3.2.4 Văn bản khoa học

+ Khái niệm: Văn bản khoa học là văn bản trình bày kết quả của một công

trình nghiên cứu khoa học

+ Đặc điểm của văn bản khoa học: Ngoài các đặc điểm giống các văn bản trên như tính khách quan, tính liên tục, tính mạch lạc, văn bản khoa học còn có tính có vấn đề Đây là đặc điểm làm nổi bật tính chất của văn bản khoa học, nếukhông có thì nội dung của văn bản sẽ trở nên mơ hồ và văn bản sẽ không có giátrị khoa học

1.3.2.5 Văn bản hành chính

+ Khái niệm: Văn bản hành chính là văn bản dùng trong việc giao tiếp giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước với công dân và ngược lại. + Đặc điểm của văn bản hành chính: Có ba đặc điểm nổi bật, đó là tính khuôn mẫu, tính chính xác và tính ngắn gọn

1.3.3 Chức năng của văn bản

Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra văn bản Cụ thể là người tạo

ra văn bản dùng lời nói (miệng hay viết) của mình để thực hiện một hành động nào đó nhằm tác động vào người nghe (như cảm ơn, sai khiến, hỏi, trình bày, nhận định, phủ định, chào, mời, …) chính chức năng này của văn bản gắn trực tiếp với chức năng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp

Trang 21

Trong các bài ca nghi lễ mà chúng tôi nghiên cứu ở trong đề tài này, đối tượng giao tiếp chủ yếu là lực lượng siêu nhiên, trong hát chầu văn thì đó

là những bài ca giao tiếp (mà cụ thể là ca ngợi, cầu xin) các đấng thần thánh Trong Hát sắc bùa thì đó là giao tiếp với Thái Thượng Lão Quân- vị thần phù trợ trừ ma diệt quỉ và giao tiếp với cả quỉ Trong hò đưa linh là giao tiếp với linh hồn Và điều này sẽ để lại dấu ấn trong ngôn ngữ các bài ca

1.4 BIỆN PHÁP TU TỪ:

1.4.1 Khái niệm: Biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ,

nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn.

nhân tố hợp thói quen thẩm mỹ.

1.4.2.2 Hoán dụ tu từ

+ Khái niệm: Hoán dụ tu từ là lấy tên gọi của đối tượng này lâm thời biểu thịđối tượng khác dựa trên cơ sở về mối quan hệ liên tưởng lô-gic khách quan giữa hai đối tượng

+ Đặc điểm: Hoán dụ tu từ thực chất cũng là sự so sánh, chỉ sử dụng một vế tồn tại trên lời nói, đó là đối tượng so sánh Điều đặc biệt là, giữa hai đối tượng này đều phải có mối liên hệ bản chất tất nhiên, đó là các mối liên hệ giữa

nguyên nhân và kết quả, giữa hình thức và nội dung, giữa cái chung và cái riêng, giữa cái bộ phận và cái toàn thể, giữa cái chứa đựng và cái được chứa đựng

Trang 22

1.4.2.3 So sánh tu từ (còn gọi là tỉ dụ)

+ Khái niệm: So sánh là việc trực tiếp đối chiếu hai đối tượng có cùng một thuộc tính nào đó (thuộc tính giống nhau) nhằm biểu hiện một cách hình tượng

về phẩm chất bên trong của một đối tượng

+ Đặc điểm: Ngoài so sánh trực tiếp còn có so sánh ngầm là kiểu so sánh không xuất hiện từ so sánh do tính chất cố định, cân đối và sự cố định của kết cấu

1.4.2.4 Thậm xưng

+ Khái niệm: Thậm xưng (còn được gọi phóng đại, ngoa dụ) là hình thức dùng từ ngữ hay cách diễn đạt để nhân lên gấp nhiều lần những thuộc tính của đối tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần được miêu tả,gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ

+ Đặc điểm: Cơ sở của thậm xưng là tâm lý của người nói muốn rằng điều mình nói gây được sự chú ý và tác động cao nhất, làm người nhận hiểu được nội dung và ý nghĩa đến mức tối đa

+ Đặc điểm : Sự sắp xếp các câu, các bộ phận từ ngữ thành từng cặp, có hình thức ngữ âm, cấu tạo ngữ pháp và nội dung ngữ nghĩa tương ứng với nhautạo nên sự cân đối, hài hòa làm nổi bật nội dung và tăng tính biểu cảm

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA 1.5 TÍN NGƯỠNG VÀ BÀI CA NGHI LỄ TRONG TÍN NGƯỠNG

Trang 23

Có thể nói rằng khi con người bắt đầu biết dùng công cụ thô sơ để săn bắn, lao động sản xuất thì nhu cầu khám phá thế giới, giải thích thế giới cũng bắt đầu xuất hiện Nhu cầu ấy gắn bó với con người như một tất yếu của sự sống vàphát triển Trong buổi đầu ấy, con người dựa vào thiên nhiên để tồn tại nhưng thiên nhiên cũng đầy bí ấn đối với con người Không giải thích được các hiện tượng thiên nhiên, con người đã thần thánh hóa thiên nhiên: tin tưởng và tôn trọng, đó là cơ sở của tín ngưỡng.

1.5.1.Tín ngưỡng

1.5.1.1 Khái niệm

“Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện

tượng, một lực lượng siêu nhiên, tôn sùng vào một điều gì đó pha chút huyền

bí, hư ảo, vô hình, tác động mạnh đến đời sống con người” ( Giáo trình chủ

nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, 2006)

1.5.1.2 Đặc trưng của tín ngưỡng

Khi nói đến tín ngưỡng, đặc trưng nổi bật là mang tính dân tộc và tính dân gian Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo

Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những lực lượng

"siêu nhiên" (hay còn gọi là "cái thiêng")- đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc

về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm Cho nên, nói đến tín ngưỡng là nói đến sự thờ phụng và việc thi hành cácnghi thức của sự thờ phụng

1.5.2 Bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian

1.5.2.1 Khái niệm bài ca nghi lễ

Theo V.Guxep trong “ Mỹ học Folklor”, xét về mặt nguồn gốc, “ bài ca nghi lễ là những bài dân ca ra đời trong lao động sản xuất và được sử dụng cùng với những nghi thức mang tính chất tâm linh”

1.5.2.2 Bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian

Trang 24

Là những bài vịnh ca, bài ca lễ nghi, lễ tiết được sử dụng trong những tín ngưỡng mang tính chất sơ khai như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái con người và sùng bái tự nhiên

1.6 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN THỪA THIÊN HUẾ TRONG DÒNG CHẢY TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC

1.6.1.Tín ngưỡng dân gian Việt

Từ khi xã hội loài người bắt đầu hình thành thì tín ngưỡng dân gian đã bắt đầu phôi thai Trong cuộc sống của mình, con người ở thời kỳ đầu chỉ chấpnhận các hiện tượng tự nhiên mà chưa thể giải thích được Không biết được qui luật vận động và biến đổi cuả tự nhiên nên con người cho rằng tất cả những hiện tượng ấy là do thần linh tạo ra Vì vậy, con người thờ cúng thần linh, cầu mong sự che chở của thần linh Và niềm tin này ngày càng có sức lan tỏa và ảnh hưởng mạnh mẽ khắp trong cộng đồng dân cư Khi xã hội phân chia giai cấp, sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội đã khiến nhiều người chịu cảnh khốn cùng, đau khổ, lo âu và sợ sệt Trước tình cảnh ấy, con người không còn cách nào khác là cầu xin sự ban ơn, cứu rỗi và sự che chở của các lực lượng siêu nhiên, của thần linh

Như vậy, tín ngưỡng dân gian là lòng ngưỡng mộ, tin tưởng và cả sự sợ hãi của con người đối với các lực lượng siêu nhiên nào đó Người ta tin rằng, các lực lượng siêu nhiên này không chỉ có năng lực ban ơn, che chở mà còn có thể giáng họa cho con người Việt Nam là một nước nông nghiệp nên tín ngưỡng dân gian Việt Nam cũng giống như các bộ phận khác của văn hóa đều mang những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp Nghề làm nông đem đến cho người Việt tâm lý cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, vật nuôi sinh sôi nảy nở bầy đàn, cho nên người Việt có tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín

ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng sùng bái con người

1.6.1.1 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Người Việt chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước nên sự gắn bó với tựnhiên là lâu dài và bền chặt Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến người Việt có lối tư duy tổng hợp Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ, điều này thể hiện trong tín ngưỡng là việc các nữ thần chiếm ưuthế Điều đặc biệt là vì cái đích mà người làm nông nghiệp hướng đến là sự phồn thực, cho nên nữ thần trong tín ngưỡng dân gian của người Việt không phải là những cô gái trẻ, đẹp mà là các Bà mẹ, các Mẫu Tục thờ Mẫu đã trở

Trang 25

thành một tín ngưỡng Việt Nam điển hình Đó là việc thờ các bà Trời, Bà Đất,

bà Nước là những nữ thần cai quản các hiện tượng tự nhiên thiết thân nhất đối với cuộc sống của người trồng lúa nước Bà Trời tồn tại dưới dạng Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ Ở Huế là Bà Mụ Trời (Thiên Mụ), Thiên Y A

Na Bà Đất tồn tại dưới tên Mẹ Đất (Địa Mẫu) Bà Nước tồn tại dưới tên bà Thủy Ba bà này còn được thờ chung dưới dạng Tam phủ cai quản ba vùng Trời– Đất- Nước: Mẫu Thượng Thiên- Mẫu Thượng Ngàn- Mẫu Thoải Các Bà Mây- Mưa- Sấm- Chớp dưới ảnh hưởng của đạo Phật trở thành Tứ Pháp

Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời gian Thần không gian là Ngũ hành (Ngũ Hành Nương Nương), Ngũ phương có Ngũ Phương chi thần, thần thời gian là Thập nhị hành khiển, mười hai vị nữ thần này cũng chính là Mười hai bà Mụ- chăm sóc và bảo trợ cho việcsinh nở

Trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên còn có việc thờ động vật và thực vật Người Việt có câu “ Nhất điểu, nhị xà, tam ngư, tứ tượng” Hiện nay

ở Huế còn di tích thờ Voi là điện Voi Ré, miếu thờ rắn ở làng Thủy Phù,

thị xã Hương Thủy, tục thờ Cá Ông (cá voi) có ở hầu hết các tỉnh ven biển miềnTrung, ở Huế có lăng và miếu thờ Cá Ông ở làng Thai Dương (Thuận An) Haynhư ảnh hưởng của văn hóa Chăm có thờ chó đá, bò đá hiện còn ở huyện Quảng Điền Thờ cây cũng là một tục của người Việt Ở các làng quê Việt Nam vẫn còn câu nói “ thần cây đa, ma cây gạo”, những cây cổ thụ đều được xem là nơi linh thiêng, nơi thần thánh ở, không được đốn, chặt…

1.6.1.2 Tín ngưỡng phồn thực

“Phồn” nghĩa là nhiều, “thực” nghĩa là nảy nở Ngay từ buổi ban đầu, việc duy trì và phát triển sự sống là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người Đối với Việt Nam là nước nông nghiệp nên hai công việc này càng vô cùng hệ trọng Tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử với hai dạng biểu hiện là thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối

Việc thờ cơ quan sinh dục nam và nữ được gọi là thờ sinh thực khí (sinh =

đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã phát hiện tượng đá hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to

có niên đại hàng ngàn năm trước công nguyên được tìm thấy ở Văn Điển (Hà Nội), ở Sa pa (Lào Cai) Ở Phú Thọ, Hà Tĩnh còn có thục thờ nõ nường (nõ là cái nêm, tượng trưng cho sinh thực khí nam, nường là cái nang, mo nang, tượngtrưng cho sinh thực khí nữ) Ở Thừa Thiên Huế còn dấu tích của văn hóa Chăm

Trang 26

trong việc thờ sinh thực khí, đó là hình Linga và Yoni bằng đá hiện còn ở huyệnQuảng Điền

1.6.1.3 Tín ngưỡng sùng bái con người

Tín ngưỡng sùng bái con người, trước hết trong phạm vi gia đình là thờ cúng

tổ tiên Đối với người Việt và một vài dân tộc ở Đông Nam Á, theo triết lý âm dương, chết không phải là hết mà là cơ thể chuyển từ trạng thái động sang trạngthái tĩnh Hồn đi từ cõi dương (dương gian, dương thế) sang cõi âm (âm ti, âm phủ) Đó là thế giới bên kia cũng là nơi sông nước, ngăn cách với người sống bằng “chín suối”, muốn đi đến đó phải đi bằng thuyền Thời Đông Sơn, người chết được chôn trong những quan tài bằng thân cây đẽo theo hình chiếc thuyền

Ở Huế hiện vẫn còn hình thức hò đưa linh tiễn đưa người chết Đó là cách các nghệ nhân cầm mái chèo chèo xung quanh một chiếc thuyền tưởng tượng để đưa người chết về nơi chín suối

Đối với phạm vi lớn hơn như làng xã, đất nước, người Việt có tục thờ thần làng (Thành hoàng), thổ công, thổ địa, các vị anh hùng dân tộc, các nhân vật gắn liền với những huyền thoại và có công giúp dân giúp nước

Trong việc phân chia này, chúng tôi nhận thấy rằng việc tôn thờ các vị thần linh của người Việt, ban đầu là những lực lượng siêu nhiên (thần mây, thần mưa, thần sấm, thần sét, Bà Trời, Bà Mụ, Mẫu…) nhưng về sau những vị thần linh này còn bao gồm những vị anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo được tôn xưng là Đức Thánh Trần (hiện ở Huế có 3 Đền thờ Đức Thánh Trần- trước đây

có đến 24 đền thờ), Liễu Hạnh- một người con gái quê ở Vân Cát- Vụ Bản- Nam Định được tôn xưng là công chúa con Trời, là Thánh Mẫu Liễu Hạnh hoặc

Bà Chúa Liễu Các nhân vật siêu nhiên, huyền thoại cũng được nhân dân xây dựng nguồn gốc, sự tích và công trạng trong việc giúp dân, giúp nước, điều nàycho thấy tín ngưỡng dân gian cũng đã bắt đầu có yếu tố lịch sử Giáo sư- Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh- Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam- khi nói về sự tồn tại của tín ngưỡng dân gian trong đời sống ngày nay đã cho rằng con người còn khổ đau, còn bất an thì tín ngưỡng dân gian còn tồn tại Động cơ khiến con người tìm đến với tín ngưỡng dân gian là muốn có được một đời sống an lành, hạnh phúc, muốn giải quyết những bức xức trong cuộc sống Chính vì thế, tín ngưỡng dân gian đã tồn tại suốt hàng ngàn năm quatrên thế giới cũng như ở Việt Nam

1.6.2 Tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế

Tín ngưỡng dân gian của mỗi vùng đất, mỗi dân tộc là do cộng đồng dân

cư của vùng đất ấy, dân tộc ấy tạo nên Thừa Thiên Huế từng là một trong

Trang 27

những địa bàn cư trú của dân tộc Chăm từ cuối thế kỷ thứ III Năm 1306, khi Vua Chăm Chế Mân dâng hai châu Ô- Rí làm lễ sính hôn cùng công chúa Huyền Trân của Đại Việt, thì bắt đầu từ thời điểm ấy, người Việt chính thức di dân về vùng đất này để lập nghiệp Lẻ tẻ các triều đại Trần, Hồ, Lê, Mạc cũng

có một số người Hoa hành nghề phong thủy, thương mại, lương y nhập cư Kết cấu cư dân như thế nên nguồn gốc hình thành của tín ngưỡng dân gian Huế cũng bao gồm nhiều yếu tố, đó là tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt mà lưu dân Viêt từ phía Bắc vào Huế đã mang theo trong tâm khảm như một thứ hành trang vô hình mà bền chặt trên vùng đất mới thêm vào đó là tàn

dư tín ngưỡng của cư dân Chăm và sự giao hòa với tín ngưỡng của người Hoa

1.6.2.1 Duy trì tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt

Những cư dân Việt từ vùng đồng bằng sông Lam, sông Mã, sông Hồng nhập

cư về Huế từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, trong hành trang của mình luôn mang theo nỗi hoài vọng cố hương Mái đình uy nghiêm, ngôi chùa làng thân thương là hình ảnh biểu trưng của một tín ngưỡng từ nguồn cội luôn luôn trăn trở trong tâm thức người nhập cư Khung cảnh vùng đất mới xa lạ của một “Ô châu ác địa” đã làm cho người tha hương, mặc dù có thừa lòng quả cảm, nhưngcũng cần có một sự trấn an, một nơi để gửi gắm niềm tin Phải có một lực lượng tinh thần khác, đủ sức neo con thuyền lưu dân trong bến đậu yên ắng của

vùng đất mới Chiếc bàn thờ tổ tiên thô sơ đã ra đời trong ngôi nhà tranh đơn sơ… Mô hình tín ngưỡng cố hương đã dần dần hiện hình rõ nét trên quê

hương mới Và sức mạnh từ quá khứ truyền thống từng luân lưu trong huyết mạch của cư dân, đã phả hơi thở thiêng liêng của Thần, Phật tổ tiên cho vùng đất mới [50,44]

1.6.2.2 Tiếp biến tín ngưỡng của cư dân Chăm

Người dân Việt di cư về vùng đất mới đã gặp không ít những di tích tín ngưỡng của dân cư Chăm Đó là tháp đôi Liễu Cốc thượng (xã Hương Xuân- Huyện Hương Trà), tháp núi Rùa (hiện ở làng Vinh Hòa- xã Vinh Hiền- Phú Lộc), đó là hệ thống tượng thờ nhân thần và vật thần như tượng bà Ponagar ở làng Ưu Điềm, tượng Bà Tám Tay ở làng Mỹ Xuyên (xã Phong Hòa- huyện Phong Điền), vật thần là tượng chó đá ở thôn Nam Dương, tượng bò đá Nandin

ở làng Đức Nhuận (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền) Đặc biệt là những tượng thờ sinh thực khí linga và yoni ở nhiều xã như Phong Thu, Phong Hiền, Phong Hòa (Huyện Phong Điền) Khi người Việt vào vùng đất mới, một bộ phận dân cư Chăm vẫn còn đó, các đền miếu thờ tự của người Chăm vẫn còn, với bản chất hòa thuận, người Việt tôn trọng và tiếp tục thờ cúng Điển hình là

nữ thần Pô Yan Inư Nagar của người Chăm, sau này phát triển thành Thánh Mẫu Thiên Y A Na, hay miếu thờ bà Dàng ở làng Thai Dương (Thuận An- Phú

Trang 28

Vang) với câu chuyện dân gian ly kỳ, bi thảm về hai anh em ruột người Chăm

do lưu lạc mà tình cờ nên vợ chồng, người anh phát hiện ra em mình nên bỏ đi, người em chờ chồng hóa thành hình hòn đá mang thai Cư dân làng Bạt Thát đãlập miếu thờ bà Dàng, làng chài ấy mang tên văn vẻ làng Thai Dương Tục cúng bà Dàng hiện vẫn được cư dân Thuận An tiến hành với câu ca dao lưu truyền:

Như vậy, tàn dư tín ngưỡng cư dân Chăm đã chuyển hóa phần nào vào tín ngưỡng dân gian Huế Một số tập tục thờ cúng của cư dân Huế hiện vẫn mang đấu ấn của tín ngưỡng cư dân Chăm như tục cúng đất luôn có kèm theo một nhúm rau luộc với mắm nêm và cá nướng

1.6.2.3 Tiếp biến tín ngưỡng của người Hoa nhập cư

Quan hệ giao lưu tương hỗ giữa người Hoa nhập cư và dân Việt tại Huế đã tác động đến nhiều mặt sinh hoạt của cư dân Huế, trong đó có tín ngưỡng Đó

là tín ngưỡng thờ Thiên Hậu, là một nữ thần bảo hộ cho người đi biển Người Hoa ở Huế đã dựng cung Thiên Hậu ở làng Minh Hương, thôn Địa Linh

(khoảng cuối thế kỷ XVIII) và còn được triều đình Huế sắc phong Hồng Từ Bác Nghĩa An Tế Phổ Trạch Linh Hữu Gia Trang Thiên Phi thượng đẳng thần

Ngoài thờ Thiên Hậu, người Hoa ở Huế còn thờ Tam vị Vương gia và Ngũ Vương Tam vị Vương gia và Ngũ Vương thì người Việt không thờ cúng nhưngngười Việt thờ cúng theo người Hoa hai vị thần phổ biến, đó là Phú Tài Bạch Tinh Quân và Quan Công Quan Công được thờ ở các chùa lớn và cả hệ thống chùa làng ở Huế Thậm chí, triều Nguyễn đã chính thức hóa việc thờ tự Quan

Trang 29

Công ở làng xã bằng việc sắc phong Quan Công làm Quan Thánh Đế Quân Hộ Quốc Tí Dân Hiển Hữu Công Đức Dực Bảo Trung Hưng đại vương tôn thần.

Do đặc điểm nguồn gốc dân cư mà tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên

Huế mang đặc điểm của tín ngưỡng dân gian Việt, tín ngưỡng dân gian Chăm

và tín ngưỡng dân gian người Hoa Trong đó, tín ngưỡng dân gian Việt là chínhyếu, hai tín ngưỡng Chăm và Hoa kiều là sự kế tục và ảnh hưởng, giao lưu Hiểu được nguồn gốc dân cư sẽ cho chúng ta cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn

về tín ngưỡng dân gian Huế, giúp chúng ta nhận ra những nét riêng biệt của tín ngưỡng dân gian Huế trong dòng chảy của những tín ngưỡng truyền thống dân tộc Việt

1.7 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA TÂM LINH VÀ VĂN HÓA TRI NHẬN CỦA CON NGƯỜI TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN 1.7.1 Văn hóa tâm linh

1.7.1.1 Khái niệm văn hóa

Có hơn 300 định nghĩa về văn hóa, để làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu ở

chương ba, chúng tôi xin chọn định nghĩa về văn hóa của UNESCO “Văn hóa

là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần xã hội nó không thuần túy bó hẹp trong các sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng” Như vậy, tuy chưa trực tiếp nhắc đến chữ tâm linh nhưng

UNESCO đã nhắc đến truyền thống, tín ngưỡng, những chữ gắn liền với tâm linh, với niềm tin thiêng liêng

1.7.1.2 Khái niệm tâm linh

Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb KHXH, 1994, thì “ tâm linh là linh hồn, tinh thần” Xung quanh khái niệm tâm linh, còn nhiều ý kiến chưa

thống nhất Trong công trình này, chúng tôi xin chọn khái niệm tâm linh của

Nguyễn Đăng Duy “ Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”[17,14) Vì đây là từ Hán- Việt nên về mặt chiết tự, có thể thấy có

sự gần gũi của hai khái niệm “ tâm linh” và “ tín ngưỡng”: “tâm” là tin, “ tín” cũng là tin,“ linh” là linh thiêng, “ ngưỡng” là ngưỡng mộ, ở chừng mực nào

đó, trong một số văn cảnh nhất định, hai khái niệm này là tương đương

1.7.1.3 Văn hóa tâm linh

Trang 30

Văn hóa tâm linh là một khái niệm mới xuất hiện và vẫn còn nhiều ý kiến

khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi chấp nhận quan niệm “Văn hóa tâm linh là một mặt hoạt động văn hóa của xã hội con người, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất và tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống thường ngày và trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ của con người.”[17, 24].

Giá trị vật chất của văn hóa tâm linh là những kiến trúc nghệ thuật, không gian thiêng liêng như đền, miếu, nhà chùa, nhà thờ

Giá trị tinh thần của văn hoá tâm linh là những nghi lễ, những ý niệm thiêngliêng trong tâm thức của con người

1.7.2.Văn hóa tâm linh của người Việt

Văn hóa tâm linh của người Việt có những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng Phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân trong mỗi gia đình Ở phạm vi cộng đồng là tục thờ cúng thành hoàng, các vị thần, các vị tổ sư, các vị anh hùng đã có công với nước, các danh nhân văn hóa…

Hình thành từ xã hội nguyên thủy, người Việt có tín ngưỡng bách thần “thầncây đa, ma cây gạo”, gán cho các thế lực siêu nhiên, các sự kiện chưa giải thíchđược là các vị thần Thế giới thần linh bao gồm thần Sông, thần Núi, thần Biển,thần Lửa, thần Sấm Sét… Nhân gian có người xấu người tốt nên các vị thần cũng có thần Thiện và thần Ác, có thánh thần luôn giúp người và cũng có ma quỷ chuyên hại người

Do ảnh hưởng của xã hội phong kiến, thế giới tâm linh của người Việt cũng được hình dung theo một mô hình tổ chức tương tự: trên có Ngọc Hoàng Thượng Đế, có các vị thần lãnh trách nhiệm về một miền nào đó, giữa có thế giới người trần mắt thịt và dưới đất có Diêm Vương phụ trách việc xét xử những linh hồn của con người trần gian sau khi chết

1.7.3 Văn hóa tri nhận của con người trong tín ngưỡng dân gian

1.7.3.1 Khái niệm tri nhận

Tri nhận là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận, xuất phát từ những từ

La Tinh kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư

duy, suy nghĩ Tri nhận biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) – tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói v.v phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin, bao gồm cả việc con

Trang 31

người nhận thức và đánh giá bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người

“Theo Мaslova (Маслова 2005), tri nhận bao quát cả tri thức và tư duy được thể hiện bằng ngôn ngữ, vì vậy tri nhận, tri nhận luận liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ học Tri nhận là quá trình liên quan đến cả sự nhận thức khoa học về thế giới, cả sự nhận biết đơn giản (đôi khi vô thức, tiềm thức) hiện thực bao quanh con người” [15,90].

1.7.3.2 Văn hóa tri nhận

Hoạt động tri nhận của con người có quan hệ trực tiếp với môi trường sống của con người, là cộng đồng dân tộc và văn hóa của cộng đồng ấy, nên

hoạt động tri nhận sẽ mang tính đặc thù văn hóa- dân tộc Và như thế, “nội dung của những truyện thần thoại, tiêu chuẩn, đạo đức, tôn giáo, tín ngưỡng

và những thành tố khác của văn hóa được phản ánh trong những qui trình và kết quả của tri nhận” [15,103].

1.7.3.3 Văn hóa tri nhận trong tín ngưỡng dân gian

Tri nhận của con người trong tín ngưỡng dân gian sẽ bao gồm tri nhận

về vũ trụ, về chính bản thân con người Tri nhận về vũ trụ đó là sự thu thập những tư liệu về thế giới khách quan và từ đó cho ra kết quả là những ý niệm

về thế giới tự nhiên Tri nhận về con người sẽ cho ra kết quả những ý niệm về

xã hội, cá nhân, phong tục, tập quán, đạo đức, thế giới tinh thần, thế giới tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo, linh hồn, số phận, Thượng Đế, các vị thần linh

K Marx nói rằng nếu Thượng đế là có thật, thì ông ta phải có khuôn mặt và thân hình giống như của con người ( vì Thượng đế do con người tưởng tượng ra) Cho nên, các vị Thánh, thần linh mà người Việt ( và nhiều dân tộc khác nữa) thờ cúng đều có hình hài giống con người

Tiểu kết chương 1

Về mặt lý luận ngôn ngữ, dù nghiên cứu ở bình diện nào thì từ cũng là đơn

vị cơ bản của từ vựng, là đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản

Từ trong tiếng Việt, về mặt cấu tạo có các loại từ đơn, từ ghép, từ láy và ngữ

cố định Về nguồn gốc, lớp từ thuần Việt là lớp từ cốt lõi, có ý nghĩa chi phối

Trang 32

các lớp từ khác, mang sắc thái nghĩa mộc, mạc, dễ hiểu Lớp từ Hán- Việt là lớp

từ vay mượn từ tiếng Hán và nó có giá trị biểu đạt những sắc thái trang trọng,

hư ảo, trừu tượng Lớp từ địa phương mang sắc thái vùng miền Với thể loại bài

ca nghi lễ, lớp từ Hán- Việt sẽ rất thích hợp khi biểu đạt nội dung ngợi ca thần linh về tài năng, sự linh hiển cũng như vẻ đẹp của thần thánh

Câu trong tiếng Việt là phạm trù ngữ pháp cơ bản của cú pháp học, là đơn vị độc lập nhỏ nhất của lời nói, đơn vị hiện thực của giao tiếp, được cấu tạo từ từ

và ngữ theo qui luật ngữ pháp và ngữ điệu của một ngôn ngữ, là phương tiện cơbản để hình thành, thể hiện và thông báo ý nghĩ, cảm xúc về thực tại và mối quan hệ của chúng với người nói Phân loại câu theo cấu trúc ta có hai kiểu loại

là câu đơn và câu ghép Phân loại câu theo mục đích nói năng, ta có câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán

Cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay,đẹp, biểu cảm, hấp dẫn được gọi là biện pháp tu từ Trong tiếng Việt, các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, thậm xưng, nói giảm hay sóng đôi đã tạo cho ngôn ngữ tiếng Việt có một vẻ đẹp sâu sắc về nghĩa, giàu tính tượng thanh,tượng hình

Về mặt lý luận văn hóa, tín ngưỡng dân gian là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái trần tục, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Trong cuộc sống có nhiều loại niềm tin nhưng ở đây, niềm tin của tín ngưỡng là tin vào “ cái thiêng” Niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng với con người và loài người, là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh cũng giống như đời sống vật chất, tinhthần- tư tưởng, tình cảm của con người Tuy nhiên niềm tin vào “ cái thiêng” đócũng theo hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế- xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà thể hiện ra dưới các hình thức tôn giáo và tín ngưỡng cụ thể khác nhau Trong những bài ca nghi lễ hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế, niềm tin của người dân đó là tin vào Mẫu, vào Thái Thượng Lão Quân, Đức Phật, tôn sư… những lực lượng siêu nhiên có thể cứu giúp con người để họ có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an lành

Tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế có điểm đặc biệt đó là chứa đựng những ảnh hưởng tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt, lại mang dấu ấn của cư dân Chăm, lại có một chút ảnh hưởng của người Hoa nhập cư Từ đặc điểm này, có thể thấy rằng những cư dân Thuận Hóa xưa đã có một cách ứng

xử rất trọng nghĩa, trọng tình, có khả năng hòa hợp và thích ứng cao với môi trường sống mới Và điều này sẽ được thể hiện rõ hơn trong chương 2 của đề

Trang 33

tài khi chúng tôi đi vào nghiên cứu ngôn ngữ của các bài ca trong nghi lễ hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh.

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA BÀI CA NGHI LỄ TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN THỪA THIÊN HUẾ

Khái niệm “bài ca nghi lễ” luôn đem đến cho chúng ta cảm nhận ban đầu, đó

là những bài văn mang tính chất trang trọng, có cái gì đó vừa huyền bí vừa khó hiểu Cảm nhận ấy đến một cách tự nhiên khi chúng ta liên tưởng đến không khí trang nghiêm của buổi lễ, đến đối tượng tiếp nhận lời văn ấy là thần linh Ngôn ngữ là một thành tố tạo nên sự huyền bí ấy Tìm hiểu ngôn ngữ của bài cachính là một cách để chúng ta “ giải” sự huyền bí của những nghi lễ

Có nhiều phương pháp tiếp cận văn bản để tìm hiểu những đặc điểm của ngôn ngữ trên nhiều bình diện Do ngôn ngữ không chỉ có những đặc trưng về chất mà còn có cả đặc trưng về lượng, cho nên những đánh giá về lượng đã được sử dụng khi nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ khác nhau cũng như nghiên cứu đặc điểm của một ngôn ngữ Thống kê là một trong những phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ được sử dụng phổ biến vào những thập kỷ gần đây Chúng tôi chọn lựa phương pháp thống kê phân loại từ vựng về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, phạm trù ngữ nghĩa để tìm hiểu về đặc điểm ngôn ngữ trong các bài ca nghi lễ chầu văn, hát sắc bùa, hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ

2.1.1 Thống kê phân loại từ vựng theo nguồn gốc

Xét nguồn gốc ra đời của những bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian, các văn bản đều cho thấy nguồn từ vựng được sử dụng trong đó đều là từ thuầnViệt và từ Hán- Việt, không thấy có sự xuất hiện của các từ vay mượn ngôn ngữ phương Tây, cho nên chúng tôi chỉ tiến hành thống kê phân loại từ thuần Việt ( có từ địa phương) và từ Hán - Việt được sử dụng trong 36 bài ca nghi lễ hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế

2.1.1.1 Lớp từ thuần Việt

Trang 34

Lớp từ thuần Việt là lớp từ cốt lõi của từ vựng tiếng Việt Về mặt nguồn

gốc, “ cơ sở hình thành của các lớp từ thuần Việt là các từ gốc Nam phương (họ Nam Á và Tày Thái) Nghiên cứu cho thấy nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng”[11, 44]

+ Từ thuần Việt có nguồn gốc tương ứng với một số ngôn ngữ trong vùng (xem Phụ lục 2 bảng 1)

Tìm trong các bài ca nghi lễ hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi nhận thấy có xuất hiện những từ thuần Việt có nguồn gốc tương ứng với môt số ngôn ngữ trong vùng:

- Tương ứng Việt- Mường: vợ, chồng, cười, mây…

“vợ, chồng”: “ Chín nguyền chồng vợ kính vâng” ( Chầu văn)

“ cười”: “ Hây hây nhụy nở hoa cười” ( Chầu văn)

“ mây”: “ Chín tầng mây tán phủ thinh không” ( Chầu văn)

- Tương ứng Việt- Tày Thái: đường, bắt

“ đường”: “ Cửa Nam phương hỏa ế đường đi biết bao thế hiểm nguy”

(Hò đưa linh) “bắt”: Bắt thằng quỷ mà chém làm ba” (Hát sắc bùa)

- Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt- Mường đồng thời với nhóm Bru- Vân- Kiều: trời, đêm, bụng

“ trời”: “ Cây muốn lặng trời không ngừng gió” ( Hò đưa linh)

“ bụng”: “ Ngài thương bụng có ước ao”, “ Ngài thương bụng có dùi mài” “đêm”: “ Đêm năm canh mơ tưởng bóng hình” (Hò đưa linh)

- Tương ứng nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me ở Tây Nguyên Việt Nam: trời, mây, mưa

“trời”: “Trời hỡi trời sao dời vật đổi” (Hò đưa linh)

Trang 35

“mây”: “ Xe Vương Mẫu mây quanh năm thức” ( Chầu văn)

“mưa”: “Dầu bao trải nắng mưa thay đổi” (Chầu văn)

+ Từ thuần Việt chỉ người ( xem Phụ lục 2 bảng 2)

Lớp từ thuần Việt mang sắc thái mộc mạc, dễ hiểu Trong những bài ca nghi

lễ hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh Thừa Thiên Huế, lớp từ thuần Việt được sử dụng dành cho người tạo nên một sự phân biệt giữa hai đối tượng người trần và lực lượng siêu nhiên Chúng tôi nhận thấy khi nói về người trần,

người xưa đã sử dụng những từ thuần Việt như: mỗ, con, lão, kẻ, con đỏ, người ngu, ôông, mụ, chồng, vợ,…với ý nghĩa khiêm nhường, hạ thấp mình trước thần

thánh Chúng tôi đã có thống kê như sau: Kẻ (6 lần), mỗ, con, lão, người ngu, con đỏ, ôông, mụ, cha, mẹ, con gái, chồng…

+ Từ thuần Việt chỉ thiên nhiên- vũ trụ của người trần (xem Phụ lục 2 bảng 3)

Lớp từ thuần Việt chỉ thiên nhiên vũ trụ cũng có ý nghĩa dành cho người trần Thống kê trong các văn bản hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh, chúng tôi có kết quả những từ thuần Việt được sử dụng chỉ thiên nhiên,

vũ trụ như sau: Nắng (6 lượt), biển (6 lượt), nước non, trăng, rừng, mưa (6 lượt), sông, gió (6 lượt), mây (10 lượt), hồ.

+ Từ thuần Việt chỉ không gian nơi ở của người trần ( xem Phụ lục 2 bảng 4)

Là những từ thuần Việt như làng (12 lượt), nhà.

Trang 36

+ Từ Hán- Việt chỉ thiên nhiên- vũ trụ

Những từ Hán- Việt chỉ thiên nhiên- vũ trụ mà chúng tôi thống kê được đều

được dùng cho thần lình: Thượng thiên (3 lần), Bồng lai (3 lượt), Thiên thai (3 lần), yên hà (3 lần), Bồng đảo (2 lượt), Vân thiêng (2 lần), Đại hà (2 lần), Thượng giới, Thượng ngàn, Tam giới, Thiên thai, Tam thiêng, Càn khôn, Thúy nhiễu sơn la, Trung thiên, Ngân trùng vân thủy, Thủy bích, Giang khê, Phong vân, Tứ đại cửu châu, Sơn xuyên, Dục tú, Sơn hà vạn tượng, Tứ hải, Hà hải linh chung, Thập bách hải môn, Tam thiên vũ trụ, Giang khê, Tứ phương, Ngũ hành.

+ Từ Hán- Việt chỉ không gian nơi ở của thần thánh

Mang sắc thái sang trọng và cũng đầy chất huyền ảo như thiên đình, thủy phủ, Động phủ, thủy bộ chư dinh ,Miền cực lạc.

2.1.1.3 Đối chiếu sự sử dụng từ thuần Việt và từ Hán- Việt trong bài ca

nghi lễ tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế

Chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân loại, thống kê 7.663 từ trong 36 văn bản nghi lễ của các thể loại hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh (Chầu văn:

10 văn bản, Sắc bùa: 16 văn bản và hò đưa linh: 10 văn bản) Kết quả như sau: Bảng 2.1 : Thống kê phân loại từ thuần Việt và từ Hán- Việt

Thể loại bài ca nghi lễ Từ thuần Việt Từ Hán- Việt Tỷ lệ

Trang 37

thuần Việt nhiều hơn từ Hán-Việt, ngược lại trong Hát sắc bùa số lượng từ thuần Việt được sử dụng ít hơn từ Hán - Việt, đây là điều lưu ý chúng tôi về phong cách ngôn ngữ của hát sắc bùa.

Và chúng tôi xin được đối sánh hai đoạn hát sắc bùa bắt quỷ của Phò Trạch (Thừa Thiên Huế) và Phú Lễ (Bình Định):

Thỉnh Thiên Linh Huyền Đàng

Tối nhập tộ sơn đáo hải

Để nó trở raThì ta lộn vàoNăm mới giàu sangGia quan tấn lộc….”

Nhìn vào bảng 2.2, chúng tôi thống kê ở bài hát sắc bùa của Huế có tổng

số 51 từ, cả 51 từ đều là từ Hán - Việt (chiếm tỷ lệ 100%), còn trong bài hát sắcbùa Phú Lễ, tổng số 29 từ thì có 5 từ Hán - Việt “sang”, “gia”, “quan”, “tấn”,

“lộc” còn lại 24 từ là từ thuần Việt (từ thuần Việt chiếm 82,76%, từ Hán - Việt

Trang 38

chiếm 17,24%) Từ đây chúng ta thấy rằng việc sử dụng nhiều từ Hán - Việt trong bài hát sắc bùa ở Huế chứng tỏ hát sắc bùa Huế còn lưu giữ đậm màu sắc bùa chú, phù thủy của Đạo giáo Hát sắc bùa Huế thuần nghi lễ, mang tính chất trang trọng Đối với các hát sắc bùa Phú Lễ, việc sử dụng ít từ Hán - Việt làm cho bài ca dễ hiểu, gần gũi với người dân, ngôn ngữ và hình thức văn bản như một bài hát vè, có tính chất vui tươi, đầy hơi thở cuộc sống với những từ mang đậm màu sắc khẩu ngữ như “vật quách”, “ trở ra”, “ lộn vào” Nhìn ở góc độ xãhội, có thể thấy sự chuyển hóa chức năng của từ Hán- Việt / thuần Việt trong bài ca nghi lễ có khác nhau ở các vùng miền địa phương Đặc điểm này góp phần chứng minh cho nhận định về nguồn gốc của hát sắc bùa Phú Lễ (Bình Định) là được truyền trực tiếp từ Trung Bộ vào giữa thế kỷ XIX.

2.1.1.4 Lớp từ địa phương

Thực chất, lớp từ địa phương thuộc vào lớp từ thuần Việt, nhưng ở đây chúng tôi muốn xét riêng bởi lẽ lớp từ địa phương có ý nghĩa thể hiện rõ nét bản sắc ngôn ngữ vùng đất Thừa Thiên Huế Chúng tôi nhận thấy có sự xuất

hiện nhiều từ địa phương như: chi (gì), ngó (thấy), ni (nay), nác (nước), thiệt (thật), xô ra (đẩy ra), thấu (đến), nài (cầu xin), ngái (xa), rật rật (nhịp chuyển động nhanh, mạnh, không đồng đều), huống chi, bận này (lúc này)…(xem Phụ

lục 2 bảng 5)

+ Xuất hiện trong hát chầu văn:

Hương thơm một nén / Thấu Đức vương quan.

+ Xuất hiện trong hát sắc bùa:

Nào thằng quỉ là chúng tà ma / Mày ở làm chi trong xó nhà

+ Xuất hiện trong hò đưa linh: Chúng tôi đã làm thống kê tần suất xuất hiện của một số từ địa phương trong thể loại hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế như sau:

“chi” (4 lượt), “bận này” (4 lượt), “ngó” (2 lượt), “thâm bâu” (2 lượt), “nác”,

“bỏ”, “đặng”, “chi nữa”, “huống chi”, “rày”, “ mấy lâu này”, “ri”, “mau”, “ui chao”, “bấy chầy” Cụ thể những từ địa phương ấy xuất hiện trong các ngữ cảnh sau:

Nay tôi vốn thiệt đưa đò, Còn hôm ni nữa, rạng ngày mai / Âm dương cách

biệt mẹ đi rồi, Cầm gàu tát nác, Bà con cô bác ngó có vui không / Bỏ thêm năm chục ba đồng, Tai hại xô ra hiền lành đem tới, Tôi há dễ nài thí đức bố

Trang 39

ân…/ Đặng ôông mụ mỗ rước vong linh…, Xa làng ngái họ…, Mấy lâu ni bị

cát lấp sóng xao.

Thống kê phân loại từ thuần Việt và từ Hán- Việt trong các bài ca hát chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế cho chúng ta cơ sở để kết luận rằng tỷ lệ sử dụng từ thuần Việt hay Hán-Việt trong văn bản là tùy thuộc vào thể loại Trong hai thể loại hát chầu văn và hò đưa linh, tỷ lệ từ thuần Việt cao hơn từ Hán - Việt nhưng trong thể loại hát sắc bùa thì tỷ lệ từ thuần Việt lại thấp hơn từ Hán - Việt

Việc phân loại từ vựng theo nguồn gốc cũng là một việc làm góp phần chỉ dẫn về thời gian ra đời của văn bản Cũng là hát sắc bùa nhưng hát sắc bùa

ở Huế còn mang đậm màu sắc của đạo giáo, của phép thuật, và rất nghiêm trang với việc sử dụng một tỷ lệ lớn từ Hán- Việt, trong khí đó hát sắc bùa ở Phú Lễ (Bình Định) vui tươi, dễ hiểu nhờ vào lớp từ thuần Việt chiếm gần như tuyệt đối

Dù là nghi lễ tín ngưỡng dân gian, nhưng trong hát chầu văn và hát sắc bùa ngôn ngữ vẫn mang đậm tính khuôn mẫu, ước lệ hơn hò đưa linh Trong

thể loại hò đưa linh, từ ngữ địa phương xuất hiện nhiều, cho thấy ngôn

ngữ trong thể loại hò mang tính chất bình dân và gần gũi với đời sống nhân dânlao động Điều này phù hợp với đặc trưng của thể loại

Nhìn chung, việc xuất hiện những từ địa phương trong những bài ca nghi

lễ vừa góp phần chỉ dẫn xuất xứ của lời ca, vừa thể hiện nét đặc biệt trong ngônngữ của bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế Sự xuất hiệnnày làm cho những bài ca nghi lễ vừa mang tính trang nghiêm vừa gần gũi với đời sống của người dân

2.1.2 Thống kê phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo

2.1.2.1 Từ đơn

Như ở phần cơ sở lí luận đã trình bày, chúng tôi đồng ý với quan niệm xem

từ đơn là những từ đơn tiết có nghĩa có thể dùng độc lập để tạo câu Trong cácbài ca nghi lễ tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế, từ đơn có tỷ lệ cao, có thể

là những từ đơn thuần Việt cũng như những từ Hán- Việt, gồm 5.789 từ (theo tần số xuất hiện) cụ thể như sau:

Bảng 2.3 Thống kê từ đơn trong các bài ca nghi lễ

Trang 40

lễ chầu văn, hát sắc bùa và hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế có những loại sau:

- Từ ghép gộp nghĩa: Phương thức cấu tạo của từ ghép mang nghĩa tổng hợp

là ghép các từ có nghĩa riêng để tạo thành một nghĩa chung Chúng tôi đã tìm

thấy một số từ ghép mang nghĩa tổng hợp như thuận hòa, dân quan, tổ tỉ, lan quế, trần thế, thiên hạ, hà hải, trúc mai…

- Từ ghép lặp nghĩa: hay còn gọi là ghép trùng ý nghĩa là nghĩa của các

từ tố đều trùng ứng với nhau và trùng ứng với nghĩa của cả từ ghép Thực chất, ghép lặp nghĩa là một kiểu từ ghép đơn nghĩa nhưng được cấu tạo theo cách dùng các yếu tố trùng lặp về nghĩa Từ ghép lặp nghĩa trong các bài ca nghi lễ

cũng chiếm một số lượng khá lớn: oán thù, đày đọa, ứng hiện, từ bi, uy nghi, thành thị, thịnh vượng, linh hồn.….

- Từ ghép đơn nghĩa: là những từ ghép mà các từ tố trong đó có nghĩa khác nhau nhưng chỉ có nghĩa của một từ tố phản ánh nghĩa của toàn từ ghép, nghĩa của yếu tố còn lại chỉ hỗ trợ cho nghĩa của yếu tố kia nhằm tạo ra nghĩa

ngữ pháp tổng hợp chung cho từ Nếu không có yếu tố còn lại thì nghĩa của yếu

tố kia vẫn đại diện cho nghĩa của từ ghép Trong các bài ca nghi lễ hát chầu văn, hát sắc bùa, hò đưa linh, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy có những từ

ghép loại này: oan khiên, an khương, sắc phong, du ngoạn…

- Từ ghép chuyển nghĩa: là những từ ghép dựa trên tầng nghĩa ban đầu để

tạo ra tầng nghĩa thứ hai, gọi là tầng nghĩa thứ cấp hay nghĩa chuyển Ví dụ lâu đài (nghĩa nguyên cấp là nhà với kiến trúc và cảnh quan đẹp), trong câu Có phen dạo cảnh lâu đài / Dương đình phất phới chư tiên đứng hầu”(Chầu văn),

nghĩa chuyển tương đương cảnh giàu sang, đẹp đẽ ở chốn Bồng lai tiên cảnh

Từ ngàn thu (nghĩa nguyên cấp là thời gian dài, một ngàn mùa thu (nói ước lệ), nghĩa chuyển tương đương với “chết” trong câu Dưới suối vàng an giấc ngàn thu (Hò đưa linh) Từ Tây phương (nghĩa nguyên cấp ở về phía Tây), nghĩa chuyển tương đương với chốn của Phật, là cõi Phật Nơi nước Phật sen vàng đua nở / Cảnh Tây phương rực rỡ ánh hào quang”(Hò đưa linh) Từ cù lao

(nghĩa nguyên cấp là khó nhọc, vất vả), nghĩa chuyển tương đương với công ơn

Ngày đăng: 06/01/2023, 12:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban ( 2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Nguyễn Đại Bàng ( 2008), Nguồn gốc tiếng Việt- tính khoa học trong tạo từ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc tiếng Việt- tính khoa học trong tạotừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
3. Tôn Thất Bình ( 2006), Những đặc trưng của hò Trị Thiên, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng của hò Trị Thiên
Nhà XB: Nxb Trẻ
4. Tôn Thất Bình ( 2010), Lễ hội dân gian ở Thừa Thiên Huế, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian ở Thừa Thiên Huế
Nhà XB: Nxb Dân trí
7. Đỗ Hữu Châu ( 1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
9. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
10. Nguyễn Đình Chúc (2009), Văn hóa dân gian huyện Đồng Xuân, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn hóa dân gian huyện Đồng Xuân
Tác giả: Nguyễn Đình Chúc
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2009
11. Mai Ngọc Chừ- Vũ Đức Nghiên- Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ- Vũ Đức Nghiên- Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
12. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, Nxb Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009
13. Đỗ Kiên Cường (2002), Tâm linh dưới góc nhìn khoa học, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm linh dưới góc nhìn khoa học
Tác giả: Đỗ Kiên Cường
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2002
14. Lê Văn Chưởng (2004), Dân ca Việt Nam - Những thành tố của chỉnh thể tổng hợp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam - Những thành tố của chỉnh thể tổng hợp
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
15. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
16. Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Vănhóa thông tin
Năm: 2001
17. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1996
18. Nguyễn Thiện Giáp ( 2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
19. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2004), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
20. Nguyễn Thiện Giáp( 1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. V. Guxep (1998), Mỹ học Folklor, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học Folklor
Tác giả: V. Guxep
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998
22. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4 : Thống kê từ ghép trong các thể loại bài ca nghi lễ dân gian ở - Nghiên cứu nghi lễ tín ngưỡng dân gian tài thừa thiên huế
Bảng 2.4 Thống kê từ ghép trong các thể loại bài ca nghi lễ dân gian ở (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w