Phật giáo được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng của Sakiyamauni, người Trung Quốc dịch là Thích ca Mâu ni ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM I[.]
Trang 1ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM
I- NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO.
1- Sơ lược lịch sử ra đời của triết học Phật giáo.
Phật giáo được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng củaSakiyamauni, người Trung Quốc dịch là Thích ca - Mâu ni Phật - theo tiếngPhạn là Bouddha (bụt), phiên âm tiếng Hán là Phật đà, âm Hán đọc là Phật
Phật có nghĩa là đấng giác ngộ và giác ngộ người khác Phật là tên khôngchỉ riêng Thích ca - Mâu ni, mà còn chỉ những bậc thánh nhân giác ngộ hếtthảy mọi lẽ của tạo hóa và có thể chỉ bảo cho con người giải thoát khỏi sự khổnão của kiếp người
Theo lịch sử phật giáo, Thích ca - Mâu ni tên thật là Shiddhatha - Tất Đạt
Đa, con của vua nước Nê Pan là Shuddhodana Ông sinh vào ngày tháng nămnào, cho đến nay có nhiều nguồn tư liệu khác nhau, nhưng UNESCO lấy ngày15/4 âm lịch năm 624 TCN là ngày tháng năm sinh của Phật và mất năm 554TCN, thọ 80 tuổi Phật giáo nước ta lấy ngày phật sinh là 8/4/563 và mất năm
483 TCN (ngày Phật đản)
Theo truyền thuyết Phật giáo, Đức Phật sinh ra có nhiều điểm khác lạ vềnhân tướng Ngài thông minh, nhạy cảm, đặc biệt thông cảm với nỗi đau khổhạnh của con người Năm 16 tuổi ngài lấy vợ Mặc dù sống trong giàu sangquyền quí, nhưng ngài luôn nghĩ về sự khổ đau của con người, trăn trở tìm điềugiải thoát Vào lúc giữa đêm ngày 7/2, ngài bỏ đi khỏi cung thành về cổng phíaTây, bỏ lại ngôi báu, vợ trẻ và con cái (có sách nói 1 trai, 1 gái, có sách nói 1con trai…) Lúc này, ngài mới 29 tuổi
Phật đi khắp nơi nơi học đạo, lúc đầu ngài theo phương pháp ép xác khổhạnh, song không đặng Ngài nhận thấy, phương pháp tu khổ hạnh chỉ làm suygiảm tinh thần và trí tuệ, còn lối sống dưỡng dục vật chất thì chỉ làm chậm trễ
sự tiến bộ của đạo đức và tâm lý Đó là hai thái cực cần phải tránh Sau đó, ngài
Trang 2dùng phương pháp dưỡng tâm thiền định và đắc đạo trong 49 ngày Lúc ấy ngàimới 35 tuổi.
Ngài sáng lập ra đạo gọi là đạo Bồ-đề Ngài ra sức truyền đạo của mình
ở vườn Kỳ Đà Trúc Lâm suốt 45 năm Ngài có 60 học trò đã chính quả thànhPhật, gọi là Arhat, tiểu thừa gọi là La hán, đại thừa gọi là Bodhisattva - Bồ tát.Trong 45 năm truyền đạo, ngài để lại rất nhiều giáo lý Khi ngài mất, học tròcủa ngài thu thập và chỉnh sửa lại thành những bộ kinh Đến nay, kinh Phậtgồm 3 kinh - tam tạng:
Kinh - ghi lại thuyết pháp của Phật
Luật - những giới điều mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo
Luận - là các tác phẩm luận bàn về phật pháp của các vị cao tăng, phậttử
Lịch sử phát triển của Phật giáo rất phức tạp Hình thành từ ấn Độ rấtsớm nhưng Phật giáo lại phát triển rất chậm chạp Thế kỷ IX sau công nguyên,Phật giáo bắt đầu suy vong Thế kỷ XIII Phật giáo bị Hồi giáo tàn sát tín đồ,phá hủy tu viện Phật giáo bị tiêu diệt trên đất ấn Độ nhưng Phật giáo lại pháttriển khá thịnh vượng ở nước ngoài Hiện nay, Phật giáo là một trong 3 tôn giáolớn nhất trên thế giới
2- Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo.
2.1- Thế giới quan Phật giáo.
Trung tâm của triết học Phật giáo là vấn đề nhân sinh quan, song để lýgiải đời sống con người, Phật giáo lại tiếp cận từ những nguyên lý về thế giớiquan Thế giới quan Phật giáo thể hiện tập trung ở 2 nguyên lý: Vô ngã, vôthường, thể hiện trên 4 điểm sau đây:
- Vô tạo giả: Khi bàn đến nguồn gốc, bản chất của tồn tại, Phật giáo cho
rằng, thế giới này không có tác giả (vô tạo giả) Nghĩa là thế giới không do lựclượng siêu nhiên tuyệt đối nào sinh ra cả Không phải Brahman hay thượng đếnhư kinh Vêđa hay đạo Bàlamôn quan niệm Thế giới tồn tại như nó vốn có,không sinh, không diệt, nó vận động từ dạng này sang dạng khác
Trang 3Đây là điểm khác căn bản với quan niệm của các trường phái chínhthống và các tôn giáo khác trên thế giới Một điều khá lý thú là một tôn giáonhưng quan điểm nguyên thủy của Phật giáo lại có tính chất duy vật, vô thần.
Quan điểm của Phật giáo sơ kỳ cho rằng, mọi vật trong thế giới được tạonên từ 5 yếu tố (ngũ uẩn): Sắc: vật chất; Thụ: cảm thụ, cảm giác sướng khổ;Tưởng: ấn tượng, hình tượng; Hành: sự suy nghĩ; Thức: tâm lý, ý thức
Trong 5 yếu tố trên, yếu tố đầu là vật chất, các yếu tố sau có tính chấttinh thần và từ 5 yếu tố trên hình thành nên vũ trụ
Phật giáo còn dự đoán rằng, vũ trụ là vô tận, gồm rất nhiều thế giới Thếgiới được chia thành nhiều tầng khác nhau: đất - không gian - trời Phái đạithừa cho rằng, có trần gian, niết bàn và địa ngục
Năm yếu tố kết hợp với nhau, cấu tạo nên vạn vật theo nguyên lý: ly,hợp, tụ, tán Mỗi sự vật tồn tại là sự kết hợp, tụ hội, hòa quyện của ngũ uẩn
Quan điểm của Phật giáo hậu kỳ ngày càng xa rời chủ nghĩa duy vật, vôthần của Phật giáo sơ kỳ, chuyển sang lập trường duy tâm - nhị nguyên, quanđiểm phiếm thần luận
- Vô ngã: Vô ngã theo nghĩa đen là không có cái tôi Thế giới hiện tượng
đang tồn tại là không có thực, vì nó đều do cái khác sinh ra rồi lại mất đi Chonên, không cái gì là chủ thể tuyệt đối không do một cái khác sinh ra, không docái khác chi phối và lại chuyển thành cái khác
Quan điểm vô ngã nói lên tính phụ thuộc, sự liên hệ, tương tác lẫn nhau,làm biến đổi lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng Phật giáo bác bỏ sự tồn tạituyệt đối của bất kỳ sự vật, hiện tượng hữu hạn nào
Quan điểm vô ngã là cơ sở của chủ trương giải thoát cho con người khỏi
sự ràng buộc của những dục vọng, danh sắc cuộc đời Đấu tranh gạt bỏ sự chấpngã vì đó là nguồn gốc của những khổ đau, phiền não, bất hạnh của con người.Thực hành vô ngã đưa con người ta đến chỗ thanh tịnh, giải thoát
Quan điểm vô ngã đối lập với quan điểm chấp ngã, hướng con người tớigiải pháp toàn diện, hội nhập với thế giới, chứ không đối lập với thế giới Phậtgiáo khẳng định, mọi cái hiện hữu chỉ là hư ảo, không có thực, là cái bóng củacái khác Nó chẳng qua do duyên sắc hội tụ rồi ly tán, biến chuyển thành cái
Trang 4khác Nhưng con người lại luôn ảo tưởng rằng, cái gì ta có là của ta, do đó mà
ra sức níu giữ, ấy là do vô minh
- Vô thường: Thường là thường hằng, tức cái vĩnh hằng, vô là không, vô
thường là không thường hằng, không vĩnh hằng Phật giáo cho rằng, mọi vậtđều biến đổi, không có cái gì là vĩnh hằng cả
Qui luật vận động của vũ trụ trong thời gian là: Thành trụ hoại không Thành hình, tồn tại hiện hữu và sau đó biến về không - với nghĩa khôngphải không còn gì, hư vô mà không hình hài Đối với vạn vật là: Sinh - trụ - di -diệt Với chúng sinh là: Sinh - lão - bệnh - tử Qui luật vận động trong khônggian là ly - hợp - tụ - tán Theo nguyên lý đó, vạn vật đều sinh ra, có mặt hưhao và tan rã Kinh Hoa Nghiêm viết: Chư pháp vô thường, chư hành vôthường, chúng sinh vô thường, chư niệm vô thường
-Phật giáo đã giải quyết mối quan hệ giữa cái vĩnh hằng và cái không vĩnhhằng, cái tuyệt đối và cái không tuyệt đối, giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, giữacái vô hình và cái hữu hình một cách biện chứng
- Nhân quả tương tục: Phật cho rằng, sự tồn tại và biến chuyển của vạn
vật, chúng sinh đều là một chuỗi nhăan quả của nhau, không dùng, không dứt,
cả cề quá khứ, cả về tương lai, tương tác nhân quả một cách liên tục Theo Phậtgiáo có nguyên nhân tất sinh kết quả (quả báo) nhưng kết quả phụ thuộc vàoduyên khởi Nguyên nhân phù hợp duyên khởi sẽ có kết quả phù hợp là “nhấtđịnh pháp”, “trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”, còn duyên khởi khôngphù hợp thì kết quả hoặc thế này hoặc thế khác gọi là “bất định pháp” Chuỗicác mối liên hệ nhân - duyên - quả báo như vậy gọi là “tính trùng trùng duyênkhởi - “pháp giới tính” Luật nhân quả là học thuyết sâu sắc của Phật giáo, nógiải thích mọi sự vận động, biến đổi trong vũ trụ
2.2- Nhân sinh quan Phật giáo
Cơ sở xã hội và mục đích của Phật giáo là đi tìm lẽ sống cho con người,
là tìm ra bản chất, ý nghĩa nhân sinh từ hiện thực đời sống con người, nhằm tìm
ra phương thức giải quyết những khát vọng của con người Phật giáo đưa ra tưtưởng luân hồi nghiệp báo, tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên và niết bàn
Trang 5Luân hồi nghiệp báo là giáo lý của Phật giáo dựa trên luật nhân quả.
Theo Phật giáo, sự sinh tử của con người (vô ngã) là sự hợp tan của ngũ uẩn:sắc, thụ, tưởng, hành và thức Có sách còn nói là của lục đại: địa, thủy, hỏa,phong, không và thức Con người sau khi chết có thể đầu thai trở lại một trongsáu kiếp phàm là nhân, tiên, súc sinh, địa ngục, Atula và quỷ Quá trình cứ thếnhư chiếc bánh xe (luân) quay tròn (hồi) không dứt Đó là luân hồi Tái sinh trởlại kiếp nào (kết quả - nghiệp báo) là phụ thuộc vào nghiệp (nguyên nhân) củamình lúc còn sống ở kiếp trước Có thân nghiệp, ý nghiệp, khẩu nghiệp; lại cóthiện nghiệp, ác nghiệp, bất động nghiệp, cực trong nghiệp, cận tử nghiệp Cónghiệp của bản thân, của cha mẹ, của gia đình… Hơn nữa, lại có nghiệp báođến với thế hệ sau (cha làm con chịu) Tổng hợp lại gọi là thuyết luân hồinghiệp báo
Thuyết luân hồi nghiệp báo không thừa nhận có linh hồn bất tử Luân hồi
ở đây không phải là sự đầu thai của linh hồn mà là sự kết tập mới của ngũ uẩnqua nghiệp lực Nghiệp lực là kết quả tổng hợp các nghiệp của đời người Nó ditruyền vào ngũ uẩn, dẫn dắt con người vào luân hồi Luân hồi là mắc vào bểkhổ trầm luân, Phật giáo chỉ ra đường lối giải thoát ở Tứ diệu đế
- Tứ diệu đế và thập nhị nhân duyên: “Khổ đế” là học thuyết về sự khổ,
cho rằng đời người là bể khổ Có tám cái khổ chủ yếu (bát khổ) là sinh, lão,bệnh, tử, ái, biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ và ngũ thục uẩnkhổ Vậy là, ngay cả khi vui sướng nhất cũng vẫn có cái khổ, không thoát khỏi
bể khổ
“Nhân đế” nói về nguyên nhân của sự khổ Có nhiều nguyên nhân
nhưng ba cái chính là tham, sân và si Những nguyên nhân ấy kết hợp vớiduyên khởi hình thành thuyết Thập nhị nhân duyên Đó là mười hai cái vừa lànhân vừa là duyên của sự khổ: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc,thụ, ái, thủ, hữu, sinh và lão tử
“Diệt đế” nói về sự diệt khổ, phải diệt nguyên nhân sinh ra sự khổ, phải
“tịnh nghiệp”, tức là phải diệt nghiệp
“Đạo đế” là đường lối, phương pháp diệt khổ, giải thoát khỏi vòng luânhồi Diệt khổ suy cho cùng là diệt vô minh để giác ngộ chân lý của Phật giáo
Trang 6Đường lối ấy có tam học - ba cái phải học (tu) - là học giới, học định và họctuệ Có tám phương pháp chính (bát chính đạo) là: chính kiến, chính tư duy,chính nghiệp, chính ngũ, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định.Ngoài ra còn có nhiều phương pháp bổ trợ khác để diệt khổ.
Thực hành tu luyện tốt đạo để có thể giác ngộ chân lý nhà Phật, chứngquả Niết bàn, giải thoát khỏi bể khổ trầm luân Niết bàn là một trạng thái tinhnghiệp, hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi, là đắc đạo ởnhững mức độ khác nhau: thanh văn, duyên giác, bồ tát và Phật Như vậy, Niếtbàn không phải là một thế giới khác riêng biệt mà ở ngay thế giới hiện thực.Người đắc đạo vẫn có thể đang sống (Phật sống) Ví dụ như Phật tổ
Thế giới quan phật giáo có nhiều yếu tố tích cực: vô thần, có nhiều yếu
tố biện chứng có giá trị Quan niệm về Phật không phải theo nghĩa thần học mà
là theo nghĩa cái bản chất, cái thiện căn, trong sáng vô cùng của con người Mọivật, con người đều có phật tâm, phật tính Phân tích qua những câu chuyện ngụngôn Phật giáo, hay trà đạo, nghệ thuật bonsai Nhật Bản ta thấy rõ điều đó
Về ý nghĩa xã hội: Phật giáo chứa đựng nhiều tư tưởng nhân bản tích cựctrong quan niệm về đời sống hiện thực, đưa ra những tư tưởng giải phóng conngười, giáo hóa đạo đức tinh thần, khuyên can con người sống có trí tuệ, từ bi,
bi kịch của cuộc đời Đạo Phật nêu cao thiện tâm, bình đẳng, bác ái cho mọingười như những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội Những giá trịtích cực của Phật giáo đã đưa Phật giáo trở thành một trong ba tôn giáo lớnnhất trên thế giới cho đến ngày nay
Trang 7II- ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO VỚI MỘT SỐ LINH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM
Phật giáo du nhập vào nước ta từ những năm đầu Công Nguyên Phậtgiáo đã phát triển phù hợp với đạo đức, truyền thống Việt Nam Từ đó hìnhthành nhiều phái Phật giáo ở Việt Nam: Phái Tỳni Đa lưu chi, phái Thảođường, phái Trúc lâm (Yên Tử)… ảnh hưởng của Phật giáo khá toàn diện: Phậtgiáo trở thành quốc giáo ở các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, góp phần kiến lập
và bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền vững mạnh, giữ vững nền độc lập dântộc Trước đây, Phật giáo có công trong việc đào tạo tầng lớp tri thức cho dântộc Trong đó có nhiều vị tăng thống, thiền sư, quốc sư có đức độ và tài nănggiúp nước an dân như: Ngô Chân Lưu, Pháp Nhuận, Vạn Hạnh, Viên Thiếu,Không Lộ… Bản chất từ bi hỷ xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thầndân tộc, hướng nhân dân và tầng lớp vua quan vào con đường thiện nghiệp, tudưỡng đạo đức, vì dân vì nước
Vào thời kỳ cục thịnh, Phật giáo là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnhvực như kinh tế, chính trị, văn học, giáo dục, khoa học, kiến trúc, hội hoạ…Nhiều tác phẩm văn học có giá trị, nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đậm đàbản sắc dân tộc có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam phần lớn được xây dựng vàothời kỳ này Từ cuối thế kỷ XIII cho đến nay, Phật giáo không còn là “quốcgiáo” nữa nhưng những giá trị tư tưởng tích cực của nó vẫn còn là nhu cầu, sứcmạnh tinh thần của nhân dân ta…
1- Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt tư tưởng triết học và đạo lý
Trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa, chính trị đặt biệt là xét trên khíacạnh hệ thống tư tưởng thì Phật giáo đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hìnhthành nên một quan niệm sống và sinh hoạt cho đa số con người Việt Nam
1.1- Về mặt tư tưởng
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật giáo là đạo lý duyên khởi, tứ diệu
đế và bát chánh đạo Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái Phậtgiáo nguyên thủy cũng như Đại thừa
Trang 8Đạo lý duyên khởi là một cái nhìn khách quan về thế giới hiện tại Duyênkhởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại Không những các
sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả nhữnghiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều theo luật duyênkhởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu vong Có 4 loại duyên cần được phân biệt:Thứ nhất là Nhân Duyên, có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, như hạt lúa lànhân duyên của cây lúa Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện
có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên chohạt lúa Thứ ba là Sở Duyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức.Thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục, không gián đoạn, cần thiếtcho sự phát sinh, trưởng thành và tồn tại
Luật nhân quả, theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn độc không bao giờ
có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả, cho mộtnhân khác Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của Phật giáo đãđược truyền vào nước ta rất sớm và đã trở thành nếp sống tín ngưỡng đối với đa
số người Việt Nam chúng ta Con người ta ai cũng phải biết ăn ở sao cho hiềnlành, nó chẳng những thích hợp đối với đời sống trong cộng đồng dân chúng
mà còn ảnh huởng cả đến giới trí thức Có thể nói đa số người dân Việt Namđều chịu ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này Vì thế, giáo lý nghiệp báo luân hồi
đã in dấu đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn học chữ nôm, chữ hán
từ xưa cho đến nay con người ai cũng phải tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùngthiện Sống ở đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy ra cho họ, thì họ nghĩrằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới gặp khổ nạn này Cho nên họkhông than trời trách đất mà cam chịu và tự cố gắng tu tỉnh để chuyển hóa dần
ác nghiệp kia Nguyễn Du đã thể hiện ý này trong truyện Kiều rằng:
“Cho hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
1.2- Về mặt đạo lý
Trang 9Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh củaPhật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người ViệtNam Điều này ta thấy rõ qua con người và tư tưởng của Nguyễn Trải (1380-1442), một nhà văn hóa, nhà chính trị, nhà tư tưởng Việt Nam kiệt xuất, ông đãkhéo vận dụng đạo lý từ bi và biến nó thành đường lối chính trị nhân bản đemlại thành công và rất nổi tiếng trong lịch sử nước ta Ông nói điều đó trongBình Ngô Đại Cáo rằng:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Bằng cách:
“Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Đem chí nhân để thay cường bạo”
Cho nên khi đại thắng quân xâm lược, đối với tù binh nhà Minh, chúng
ta không những không giết hại mà còn cấp cho thuyền bè, lương thực để họ vềnước
“Thần vũ chẳng giết hại
Thuận lòng trời ta mở đất hiếu sinh”
Tinh thần thương người như thể thương thân này đã biến thành ca daotục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như "lá lành đùm lá rách", hay
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Đó là những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũngđều thấm nhuần và thuộc nằm lòng, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân tộc ViệtNam
Ngoài đạo lý từ bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lýkhác của Phật giáo là đạo lý tứ ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và
ân chúng sanh Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bướcphát triển của tâm lý và tình cảm của dân tộc Việt Nam Tình thương ở mọingười bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tìnhthương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào, quê hương, đấtnước Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng
Trang 10rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt Nam Phật giáo rất chútrọng đến hiếu hạnh, Đức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh khácnhau nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: "Muôn việc ở thếgian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ" hay "cùng tốt điềuthiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất hiếu" Bởi Phật giáođặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý, truyềnthống của dân tộc Việt Nam.
Đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng thực hiện lànhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân, nhân loại Đạo lý tứ ân còn
có chung cái động cơ thúc đẩy là từ bi, hỉ, xả, khiến cho con người sống hàihòa với xã hội, với thiên nhiên để mưu cầu hạnh phúc chân thực Từ cơ sở tưtưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Phật giáo Việt Nam hình thành đượcmột bản sắc đặc thù rất riêng biệt, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa nềnvăn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam
2- Ảnh hưởng của Phật giáo qua quá trình hội nhập văn hóa Việt Nam
Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất biến mà Phật giáo đã tạo cho mìnhmột sức sống vô biên, vượt qua những ngăn cách của địa lý, văn hóa, tôn giáo,
ý thức hệ, thời gian, không gian… Tinh thần tuỳ duyên là tự thay đổi với hoàncảnh để có thể tiếp độ chúng sanh, tính bất biến là giải thoát ra khỏi mọi đaukhổ, sinh tử luân hồi Tuy nhiên Phật giáo vẫn luôn luôn hòa nhập với tất cả cáctruyền thống, văn hóa, tín ngưỡng của các nước trên thế giới
2.1- Ảnh hưởng Phật giáo qua sự dung hòa với các tín ngưỡng truyền thống
Khi được truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tínngưỡng bản địa, do vậy đã kết hợp chặt chẽ với các tín ngưỡng này Biểu tượngchùa Tứ Pháp thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tựnhiên mây, mưa, sấm, chớp và thờ đá Lối kiến trúc của chùa chiền Việt Nam làtiền Phật hậu Thần, cùng với việc thờ trong chùa các vị thần, các vị thánh, các
vị thành hoàng thổ địa và vị anh hùng dân tộc Chính vì tinh thần khai phóng
Trang 11này mà về sau phát sinh những hậu quả mê tín dị đoan bên trong Phật giáo nhưxin xăm, bói quẻ, cầu đồng các nhà nghiên cứu nước ngoài rất ngạc nhiên khithấy Phật giáo Việt Nam dung nạp dễ dàng các tín ngưỡng đa thần của bản địatrong khi các quốc gia trong vùng thì không có Tinh thần dung hòa và khaiphóng của Phật giáo Việt Nam là một trong những nét đặc trưng rất đáng chú ý.
2.1.1- Sự dung hòa giữa các tông phái Phật giáo
Đây là một nét đặc trưng rất riêng biệt của Phật giáo Việt Nam so với cácquốc gia Phật giáo láng giềng Chẳng hạn như Thái Lan, Lào, Campuchia chỉ
có Phật giáo Nam Tông ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ thuần tuýchỉ có Phật giáo Bắc Tông Nhưng ở Việt Nam thì lại dung hòa cả Nam Tông
và Bắc Tông Chính vì tinh thần đó cộng với tinh thần khai phóng của Phật giáoViệt Nam mới có được kết quả như vậy Tuy thiền tông chủ trương bất lập văn
tự, song ở Việt Nam chính các vị thiền sư xưa lẫn nay đã để lại rất nhiều trướctác có giá trị, đặc biệt các thiền viện ở Việt Nam điều tụng kinh gõ mõ như các
tự viện Tông Tịnh Độ Dòng thiền Tỳni Đa Lưu Chi thì kết hợp với Mật giáo,
có nhiều thiền sư phái này như ngài Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn MinhKhông đều nổi tiếng là giỏi phép thuật trong việc trừ tà, chữa bệnh
Các thiền sư ở Việt Nam đã không theo thiền kiểu mẫu của các thiền sư
Ấn Độ và Trung Hoa mà mở ra một con đường riêng, phù hợp với dân tộc.Trong khi tiếp nhận hai luồng ảnh hưởng ấy, các thiền sư Việt Nam đã khéo léođiều chỉnh tính hai cực của Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa Một bênthì quá ham chuộng sự bay bổng, thần bí, một bên quá thực tiễn, duy lý KhiPhật giáo vào Trung Hoa đã gây cho các nhà Phật học những cuộc tranh luậnsôi nổi về giáo pháp, suốt cả quá trình lịch sử của nó là sự phát sinh ra nhữngtôn giáo, những cuộc đấu tranh tư tưởng dữ dội, điển hình là cuộc đấu tranhgiữa phái Thiền Nam Phương của Huệ Năng với Thiền Phái miền Bắc của Thần
Tú vào thời kỳ sơ Đường Còn ở Việt Nam thì khác, trên pháp đàn tư tưởngthời Lý cũng như thời Trần, thời kỳ vàng son của Phật giáo Việt Nam và cácthời kỳ sau này không có những mâu thuẩn đối lập mà tất cả điều quy về mộtmục đích chính là tu hành giải thoát Phải chăng sự thống nhất về ý thức tư
Trang 12tưởng, dung hòa giữa các tông phái và đoàn kết dân tộc đã uốn nắn Phật giáoViệt Nam theo con đường dung hòa thống nhất
2.1.2- Sự dung hòa với các tôn giáo khác
Đó là kết quả của sự phối hợp và kết tinh của Phật giáo với Nho giáo vàLão giáo, được các nhà vua thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa Chính vìđặc tính dung hòa này mà Phật giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưỡng truyềnthống của dân tộc Việt Nam Nó chẳng phải Phật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa,tiểu thừa hay đại thừa, mà nó là tất cả những khuynh hướng tâm linh của ngườidân Việt Nam Nó thực ra là cái "Đồng qui nhi thù đồ" - cùng về một đích màđường lối khác nhau, chính tinh thần khai phóng của Phật giáo Việt Nam đã kếttinh lấy chân, thiện, mỹ làm cứu cánh để thực hiện Nho giáo thực hiện cứucánh ấy bằng con đường thiện, tức là hành vi đạo đức để tới chỗ nhất quán với
mỹ và chân Đạo giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường mỹ, tức là tâm lýnghệ thuật để tới chỗ nhất quán với thiện và chân Phật giáo thực hiện cứu cánh
ấy bằng con đường trí tuệ giác ngộ để đạt tới chỗ nhất quán chân, thiện, mỹ.Trong nhiều thế kỷ hình ảnh tam giáo tổ sư với Phật Thích Ca ở giữa, Lão Tửbên trái và Khổng Tử bên phải đã in sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam
2.1.3- Sự dung hòa với các quan hệ chính trị xã hội
Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật giáo Việt Nam có chủtrương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất ở các thời Đinh,
Lê, Lý, Trần Trong các thời này, các vị cao tăng có học thức, có đức hạnh đềuđược mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọngcủa quốc gia, có nhiều lý do khiến các thiền sư Việt Nam tham gia vào chính
sự Thứ nhất, họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũinên thấu hiểu được nổi đau khổ của một dân tộc bị đô hộ của ngoại bang Thứhai, các thiền sư không có ý tranh ngôi vị ngoài đời nên được các vua tin tưởng.Thứ ba, các thiền sư không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua màthôi) như các nho gia nên họ có thể cộng tác với bất cứ vị vua nào đem lại hạnhphúc cho dân chúng Thời vua Đinh Tiên Hoàng đã phong cho thiền sư NgôChân Lưu làm Tăng Thống, thời Tiền Lê có thiền sư Vạn Hạnh, thiền sư Đỗ
Trang 13Pháp Thuận, thiền sư Khuông Việt cũng tham gia triều chính Trong đó, đặcbiệt thiền sư Vạn Hạnh đã có công xây dựng triều đại nhà Lý khi đưa Lý CôngUẩn lên làm vua, chấm dứt chế độ tàn bạo của Lê Long Đỉnh Thời nhà Trần cócác thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên Thông đều được các vua tin dùng trong khibàn bạc quốc sự.
Đến thế kỷ 20, phật tử Việt Nam hăng hái tham gia các hoạt động xã hộinhư cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu Đến thời Diệm, Thiệu (1959-1975) cũng thế, các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong tràođấu tranh đòi hòa bình và độc lâp cho dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoạichính trị giữa các tăng sĩ Phật giáo và chính quyền Đến cuối thế kỷ 20, ta thấytinh thần nhập thế này cũng không ngừng phát huy, đó là sự có mặt của cácthiền sư tham gia vào các hoạt động chính sự của Quốc hội
2.2- Ảnh hưởng của Phật giáo đối với một số lĩnh vực trong đời sống xã hội
Cũng như tất cả các dân tộc trên thế giới, lúc sơ khởi người Việt Nam tínngưỡng và tôn thờ tất cả những sức mạnh hữu hình hay vô hình mà họ cho là
có thể giúp đỡ hoặc làm hại đến họ như mây, mưa, sấm, sét, lửa, gió Trong bốicảnh tín ngưỡng đa thần này, Phật giáo đã xuất hiện và nhanh chóng hóa thânqua hình ảnh của bộ tượng Tứ Pháp ở chùa Dâu, ngôi chùa Phật giáo đầu tiêncủa Việt Nam ở Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay) Đó là bộ tượng Pháp Vân, Pháp
Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điễn, một hình ảnh sống động và gần gũi với nông thôntrong việc cầu xin phước lộc, cầu đảo, cầu siêu, cầu xin tất cả những gì màcuộc sống con người đòi hỏi để có thể mang lại mọi điều tốt lành
Đến thời nhà Lý, các hệ phái Phật giáo phát triển mạnh trong giới tríthức, cung đình, đô thị, nhưng trong dân chúng vẫn tồn tại nhất định một Phậtgiáo dân gian với những ảnh hưởng cảm tính vốn có từ trước Được vua triều
Lý, Trần ủng hộ, hoạt động của Phật giáo có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm,làng nào cũng có chùa, có tháp, người ta học chữ, học kinh, hội hè, biểu diễnrối nước, họp chợ ngay ở trước chùa
Trang 14Chùa làng đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần củacộng đồng làng xã Việt Nam, chùa không những là nơi giảng đạo cầu kinh, thờcúng Phật mà còn là nơi hội họp, di dưỡng tinh thần, tham quan vãn cảnh Bởi
vì, kiến trúc của chùa Việt Nam thường hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên, tạothành một kiến trúc hài hòa với ngoại cảnh Khung cảnh ấy phù hợp với nhữnggiờ phút nghỉ ngơi sau lao động nhọc nhằn và dinh dưỡng tinh thần của tuổigià
Đến thế kỷ XV, Nho giáo thay thế Phật giáo trong lĩnh vực tinh thần xãhội, Phật giáo từ giã cung đình nhưng vẫn tồn tại trong làng xã Ngôi đình xuấthiện tiếp thu một số kiến trúc và nghệ thuật Phật giáo, đồng thời trở thành trungtâm hành chính của làng xã Cửa chùa chỉ còn là nơi để con người nguyện cầukhi gặp tai ương, vạ gió, ốm đau, bệnh tật, mất mùa, đói rét xin Phật gia hộ,
độ trì cứu vớt
Ngoài ra, không khó khăn gì khi ta tìm dấu ấn Phật giáo trong đời sốngdân gian, ảnh hưởng của Phật giáo thể hiện rõ nét trong các di tích và danh lamthắng cảnh còn tồn tại cho đến tận ngày nay Đó là một chùa Hương rộn ràng,nhộn nhịp trong ngày trẩy hội đầu xuân, một chùa Tây Phương cao vợi, chùaYên Tử mây mù, chùa Keo bề thế, chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sôngHương Và những câu chuyện dân gian đầy tính nhân bản như truyện Từ Thức,Tấm Cám, Quan Âm Thị Kính… Ngoài ra còn có những lễ hội tưng bừng nhưhội Lim, hội Chùa Hương Quả thật vậy, Phật giáo đã có mặt ảnh hưởng khắpmọi giai tầng trong ở xã hội Việt Nam, không những trong dân gian mà còn ở
cả trong giới trí thức nữa
Phật giáo thiền tông ở Việt Nam phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu rộngtrong giới trí thức, cung đình từ thời nhà Đinh (968-980), tiền Lê (980-1009)đến thời Lý (1010-1225) đã mang trong mình một tinh thần Việt Nam Đó là sự
ra đời của một thiền phái mới, phái Thảo đường do Lý Thánh Tông - một vịvua anh kiệt đứng đầu Nhưng Thiền tông Việt Nam phát triển rực rỡ nhất là ởgiai đoạn nhà Trần (1226-1400), với những tư tưởng vừa thăng trầm, vừaphóng khoáng của các thiền sư thời Trần đã được đúc kết trong các tác phẩmKhóa Hư Lục của Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đã làm cho bình