Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các phát minh của truyền hình đã có mầm mống từ trong các công trình nghiên cứu về luồng điện từ thế kỷ XVII và XVIII với những tên tuổi như L.. Như thế, vi
Trang 1PHẦN I
LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỀN HÌNH THẾ GIỚI
1 NHỮNG CỘT MỐC
1.1 Truyền hình - Mốc đánh dấu thế kỷ XX
Hai mốc chính trong lịch sử truyền hình
1 Năm 1880, Maurice Leblanc truyền hình ảnh động qua dòng điện
2 Năm 1884, người Đức Paul Nipkow lấy bằng sáng chế về dụng cụ tên gọi Elektrisches Teleskop, một hệ thống với 2 đĩa có đục lỗ hổng truyền được hình ảnh bằng hiệu ứng sinh ra từ nhiệt điện
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các phát minh của truyền hình đã có mầm mống từ trong các công trình nghiên cứu về luồng điện từ thế kỷ XVII và XVIII với những tên tuổi như L Galvani, A.Volta, H Oersted, A Ampère, G.Ohm, M.Faraday và J.Clerk Maxwell chưa kể những nhà ứng dụng như Samuel S.B Morse, A Bain, A Bell và Th Edison.
Ngày 25 tháng 8 năm 1900, thuật ngữ Television (Truyền Hình) đã được dùng đầu tiên bởi Constantin Perskyi ở Hội Chợ triển lãm Paris 1900
khi nói đến một cái máy giúp ta nhìn (vision) những vật từ xa (tele) dựa trên
từ tính của một chất xúc tác tên gọi selenium.
Kỹ thuật truyền hình với ống nhiếp ảnh (iconoscope tube, còn gọi là ống quang điện, có khả năng biến đổi ánh sáng đến từ ảnh tượng thành những điện tố) đã được khám phá năm 1934 bởi người Mỹ gốc Nga, tiến sĩ Vladimir Zworykin Như thế, việc khám phá ra truyền hình có thể gọi là một
công trình tập thể và quốc tế vì ta cũng không thể bỏ qua tên tuổi những
người đóng góp khác như giáo sư Boris Rozing (Nga, 1907), người đã khai đường mở lối cho sự thành công của môn đệ của ông là Zworykin cũng như các nhà phát minh khác như A.A.Camphell Swinton (Anh, 1911) và Charles Francis Jenkins (Mỹ, 1922)
1.2 Truyền hình tại Mỹ
Trong một nửa thế kỷ, truyền hình đã trở thành công cụ giải trí trên cả nước vào mỗi tối Người dân Mỹ cùng ngồi với nhau để xem các nhân vật
Trang 2yêu thích, các chương trình thể thao và thông tin về các sự kiện lịch sử Truyền hình vẫn là nguồn cung cấp tin tức và phương tiện quảng cáo chủ yếu có thể thu hút sự chú ý nhiều nhất của người Mỹ
Truyền hình ở Mỹ phổ biến sâu rộng vào thời 1945-1955 và nó đi trước
Âu Châu khoảng 10 năm Nó quả là môi thể đại chúng vì năm 1990, 87% nóc gia Mỹ nhận được tín hiệu của 11 đài miễn phí và hơn 30% xem được trên 30 đài Năm 1998, cứ hai trên ba nóc gia Mỹ chịu bỏ tiền để xem đài trên mạng cáp và 66% các hãng khai thác đài dây cáp đề nghị với khách 53 đài Đó là chưa kể 9 triệu nóc gia ghi tên mướn đài truyền hình vệ tinh
Truyền hình thương mại ở Hoa Kỳ đã phát triển đến đỉnh cao từ năm
1958 và 3 mạng đài chính chi phối tất cả hệ thống phát sóng mặt đất (hertzien) Đó là ABC (American Broadcasting Company), NBC (National Broadcasting Company) và CBS (Columbia Broadcasting System).Tuy nhiên, để tránh sự chi phối và tính cách quá thương mại của nó, chính phủ
Mỹ đã vận động thành lập mạng giáo dục PBS (Public Broadcasting System)
mà chương trình đặt trọng tâm vào giáo dục và công ích Từ năm 1980, mạng này đã có đến 300 trạm phát sóng.Cũng vào thời điểm này, đánh dấu
sự ra đời (1975) và trưởng thành nhanh chóng của các mạng đài dây cáp Theo số liệu của NTCA (1998, dẫn bởi Francis Balle) con số khách đăng ký
20 đài trên mạng cáp lớn nhất ở Mỹ là 60 triệu đến 73 triệu cho mỗi đài (được biết tới nhiều nhất là Discovery về tài liệu, ESPN về thể thao và TBS
về mọi lãnh vực) Một số đài đủ mọi màu sắc hợp lại thành một hãng điều phối đài (Cable Operator) và hãng này lại có khách hàng riêng của họ (nổi tiếng nhất là TCI với trên 11 triệu và Time Warner Cable với 6,5 triệu khách đăng ký) Mạng đài vệ tinh (như DirecTV, bắt đầu năm 1994, đã có gần 5 triệu khách đăng ký) Trong khi đó, giữa năm 1978-1994, số khách của bộ ba ABC, NBC va CBS sút giảm từ 90% chỉ còn 50% toàn bộ thị trường
1.3 Truyền hình ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản, truyền hình cũng đã ra đời trong thời hậu chiến Truyền hình Nhật Bản có điểm đặc biệt là sự tồn tại của đài công cộng NHK (Nippon Hoso Kyokai) và các đài tư nhân (Mimpo) NHK có 3 chương trình truyền thanh quốc nội, 4 đài truyền hình (trong đó 2 đài truyền bằng vệ tinh), một chương trình truyền thanh và một đài truyền hình quốc tế (TV Japan) , mướn 15000 nhân viên (số liệu năm 1993) Đây là đài sống bằng tiền mướn (một loại thuế) của 79,7% của 43 triệu nóc gia Nhật Bản Truyền hình NHK gồm các đài GTV ( 1953, Tổng quát), ETV (1959, Giáo dục) là hai đài sóng
Trang 3mặt đất (hertzien), BS1 (1987, Thời sự, Thể thao) và BS2 (1987, Tổng quát, Văn hóa) là hai đài vệ tinh Về các đài tư nhân, ta có thể nhắc tới 5 mạng truyền hình với tất cả 123 đài địa phương trên toàn quốc Những mạng này sống bằng tiền quảng cáo và đài thọ Đặc điểm của chúng là mối liên lạc với các nhật báo và dùng làn sóng mặt đất, ngoại trừ Wowow (1991), đài vệ tinh Năm đài ấy được liệt kê như sau :
-NTV (Nippon Television,1953, 26 đài, liên hệ với nhật báo Yomiuri)
-TBS (Tokyo Broadcasting System, 25 đài, 1955, liên hệ với nhật báo
Mainichi)
-Fuji Television (26 đài, liên hệ với nhật báo Sankei)
-TV Asahi (17 đài, 1956,liên hệ với nhật báo Asahi)
-TV Tokyo (4 đài, 1964, liên hệ với nhật báo Nihon Keizai)
1.4 Truyền hình tại Tây Âu
Các nước Âu châu như Pháp, Đức, Anh, Ý cũng đi từ độc quyền truyền thông qua cạnh tranh tự do Pháp đã giải thể tổ chức chính phủ ORTF từ năm 1964 Bên cạnh tổ chức chính phủ RAI ở YÙ cũng đã có đài tư nhân từ
1976 Chế độ độc quyền đã chuyển qua chế độ cạnh tranh từ 1954 ở Anh Trên toàn thể nước Đức thống nhất là có một hệ thống lưỡng nguyên (duale rundfunkordnung) qui chế hai lĩnh vực công và tư về truyền thông, tồn tại song song với nhau Điều này có nghĩa là trong hầu hết các quốc gia tiên tiến trên thế giới, các đài truyền hình tư nhân đã xuất hiện và phát triển một cách mạnh mẽ
Hiện tượng nói trên chỉ có tính qui luật vì Nhà nước đã tự giảm đi vai trò chủ đạo về truyền thông vào thời chiến tranh, nới nhẹ ra từ khi hòa bình tái lập và các điều kiện khách quan khác cho phép Về phương diện kinh tế, tài nguyên để vận doanh truyền hình đến từ nhiều nguồn khác nhau Trợ cấp trực tiếp của chính phủ hầu như trở thành một ngoại lệ, truyền hình chỉ sống bằng tiền đóng góp (redevance) được coi như một thứ thuế đánh vào khán thính giả, tiền quảng cáo, tiền bán chương trình cơ sở cho quảng cáo và tiền mướn đài của khán giả các đài mạng cáp và vệ tinh chủ đề Để có một khái niệm rõ hơn, ta nên biết tiền đóng góp hàng năm của mỗi nóc gia vào năm
1997 ở Âu Châu được ấn định ở Đức là 176,01 Euro, ở Bỉ là 179,67 Euro, ở Pháp là 108,01 Euro, ở Ý 85,39 Euro Qua đồ biểu sau đây, chúng ta có thể
Trang 4nhìn thấy biến chuyển của tỷ lệ giữa thu nhập về tiền đóng góp (hay
"thuê"truyền hình) và huê lợi quảng cáo ở Pháp từ 1980 đến 1998 cho cùng một số đài
Có thể nói, kỹ thuật truyền hình không do một người làm ra mà là kết quả của một chuỗi phát minh và cải tiến không ngừng trên nửa thế kỷ từ 1890 đến 1950 Theo Francis Balle, khi người Anh John Logie Baird truyền hình bằng sóng đầu tiên năm 1923 thì ảnh chỉ có 16 đường kẻ Sau đó, kỹ thuật
đã được hoàn chỉnh ở Mỹ và khi Pháp truyền hình từ tháp Eiffel lúc 20h15 ngày 25 tháng 4 năm 1935, ảnh đã có dến 120 đường kẻ
Nước Anh bắt đầu truyền hình từ năm 1936 và Thế vận hội lần thứ bảy ở Berlin đã được Tổng Cục Bưu Điện Đức (DRP) cho truyền hình Riêng lịch
sử của truyền hình nước Mỹ đã kinh qua nhiều trắc trở và chỉ thực sự bắt đầu năm 1948 khi Ủy Ban Truyền Thông Liên Bang (FCC=Federal Communications Commission) cho phép trên 100 trạm truyền hình hoạt động và đó là khởi điểm cho những hệ thống truyền hình (network) nổi tiếng
về sau như CBS, NBC hay ABC
Những cái mốc đánh dấu lịch sử truyền hình là những lần truyền hình các
sự kiện " to tát" (trên quan điểm truyền thông bởi vì lúc đó máy truyền hình bán chạy nhất) như lễ đăng quang của nữ hoàng Elizabeth II ở Anh, cuộc thắng cử của Tổng thống Mỹ Kennedy cũng như đám cưới của Hoàng thái tử Nhật Akihito và lần trực tiếp truyền hình cuộc thám hiểm mặt trăng của phi hành đoàn Neil Amstrong Chỉ trong vòng 50 năm (1950-2000), truyền hình phát sóng đã trở thành môi thể truyền thông đại chúng (Mass Media) trước khi bước qua thời đại truyền hình phát bằng đường giây cáp, rồi truyền hình bằng vệ tinh, để có cái tên tiếng Pháp là "tân truyền hình" (néotélé) mà nội dung vô cùng phong phú, kỹ thuật vô cùng đa dạng và phạm vi hoạt động vô cùng rộng lớn từ địa phương, khu vực cho đến tầm cỡ địa cầu
Truyền hình gặp phải trở ngại đầu tiên của nó khi hệ thống ăng-ten dùng chung hoặc hệ thống truyền hình cáp bắt đầu bắt được tín hiệu từ các đài truyền hình khác và sau đó có thêm các kênh như CNN hoặc MTV Những đài nhỏ của cá nhân bắt đầu hợp nhau lại thành các nhóm khi truyền hình cáp xuất hiện ở các khu vực đô thị trong những năm 1980 Các đài truyền hình cố gắng giữ khán giả của mình bằng việc nhấn mạnh rằng các quy định quốc gia yêu cầu các hệ thống cáp phải hỗ trợ các đài truyền hình địa phương
Trang 5Sự cạnh tranh gia tăng trong những năm 1990 do sự xuất hiện của các vệ tinh phát sóng trực tiếp, dịch vụ đầu tiên với tín hiệu kỹ thuật số Truyền hình cáp cũng đưa ra các dịch vụ kỹ thuật số, làm tăng số lượng kênh từ một vài chục lên hàng trăm
1.5 Những cái tổ
Theo thời gian, đặc biệt là khi những quy định về sở hữu được nới lỏng, các đài truyền hình đối mặt với sự cạnh tranh về các quyền lợi thu được khi làm chương trình phát sóng Hiện nay, trong số năm tập đoàn truyền thông hàng đầu của Hoa Kỳ, tất cả đều sở hữu các kênh truyền hình cáp và ít nhất cũng sản xuất một số chương trình truyền hình Bốn trong số chúng sở hữu các hệ thống phát hình qua cáp, bốn sở hữu các đài và mạng lưới truyền hình phát sóng, ba sản xuất phim truyện và hai sở hữu hàng trăm đài phát thanh Mối quan hệ qua lại giữa chúng và với những tập đoàn truyền thông hàng đầu khác là phức tạp và khó theo dõi
Trong khi đó, cả phát thanh và truyền hình đều phải đối mặt với việc khán giả có thể xem qua lịch phát sóng và ghi lại các chương trình vào băng cát-xét hoặc băng video rồi xem lại khi có thời gian Đã hàng thập kỷ, quá trình này thật rắc rối và phức tạp để được coi là một nhân tố quan trọng, cho đến khi ra đời thiết bị TiVo (một thiết bị quay video kỹ thuật số dùng cho TV
cá nhân) và những thiết bị tương tự có thể sắp xếp chương trình, đơn giản hóa việc ghi và loại bỏ các chương trình quảng cáo Đó là lúc tầm quan trọng của lịch phát sóng bắt đầu giảm đi và bắt đầu một xu hướng hướng tới
sự kiểm soát thuộc về người xem
Sau đó, trong những năm 1990, số lượng các hộ gia đình sử dụng TV giảm đi, có lẽ bởi vì người ta quá bận rộn để xem TV Các bộ phim trên đĩa DVD, mạng Internet, các trò chơi video và các phương tiện mới khác cũng vào cuộc cạnh tranh Theo ngân hàng đầu tư truyền thông Veronis Shuler, vào năm 2000, tỉ lệ thời gian dùng để xem TV so với thời gian dùng Internet
là 8/1, nhưng tỷ lệ này đã giảm còn 4/1 vào năm 2005
Internet đặt ra những thách thức cạnh tranh song cũng mang đến những
cơ hội cho các đài phát thanh truyền hình Các nghiên cứu cho thấy, có một
số người vừa vào Internet vừa xem TV cùng một lúc Truyền hình có thể quảng cáo cho các chương trình của mình với những tin tức và thông tin về lịch phát sóng trực tuyến Một đài phát thanh địa phương cũng có thể giới thiệu các chương trình của mình ở bất cứ đâu trên thế giới với một đường
Trang 6kết nối Internet Các đài phát thanh truyền hình có thể hướng khán giả vào những trang web của mình để có được thông tin chi tiết hơn, song họ cũng cảm thấy khó khăn hơn trong việc hướng khán giả của các trang web tới các chương trình tin tức
Mặc dù tổng lượng tin tức được xem tăng lên song các nhà đưa tin đã phải đối mặt với việc khán giả hay thay đổi và khó tính hơn CNN và các đài khác cung cấp tin tức, dự báo thời tiết và tin thể thao bất cứ khi nào mà người xem cần chúng Nhiều kênh khu vực chỉ phát toàn tin tức khác cũng học theo cách làm đó Các đài đưa tin địa phương và đưa tin qua mạng cũng gia tăng số lượng các chương trình, đặc biệt là vào các buổi sáng
Không còn những hạn chế về thời gian phát sóng nữa Tin tức luôn có sẵn
và được cập nhật Các phóng viên than phiền rằng họ không có thời gian để viết các câu chuyện bởi vì họ luôn phải đưa được các tin tức mới và trực tiếp Việc đưa tin nhanh chóng 24 giờ mỗi ngày cũng như các thông điệp tức thì từ Internet đã làm cho những người cung cấp tin, chẳng hạn như các nhà chính trị và các chuyên gia quan hệ công chúng, có ít thời gian hơn để phản ứng, đặc biệt là khi những kênh chỉ phát toàn tin tức làm cho cuộc khủng hoảng này thêm trầm trọng với những cuộc phỏng vấn phát trực tiếp qua vệ tinh Nhiều người xem đã liên tục chuyển kênh từ tin tức sang thời tiết, tin thể thao hoặc chương trình giải trí Một số chương trình tin tức thậm chí còn tăng số lần quảng cáo cho những tin sắp đưa của mình nhằm kéo những người xem lướt qua các kênh quay trở lại với kênh tin của mình nếu họ chuyển sang kênh khác
Phần quan trọng nhất trong các chương trình tin tức của Hoa Kỳ, chương trình tin tức buổi tối đã bị mất dần khán giả mặc dù đã có những cố gắng để làm cho các chương trình tin tức trở nên độc đáo thông qua việc đưa thêm thông tin về bối cảnh và giải thích nhiều hơn Năm 2005, ba mạng lưới đã mất đi người dẫn chương trình hàng đầu trong các chương trình tin tức hay nhất của mình - những nhân vật đã xuất hiện trong hàng thập kỷ - do họ nghỉ hưu hoặc chết
Tuy nhiên, các đài phát thanh truyền hình đã tìm được những công nghệ tiên tiến để cải thiện việc đưa tin của mình Các chương trình tin tức sử dụng những hình họa mang tính hiện thực, đặc biệt là những hoạt ảnh về thời tiết
mô tả hướng đi của các cơn bão Các tin tức trực tiếp phát qua vệ tinh đến từ khắp nơi - thậm chí là một tàu chở máy bay hay một đoàn xe quân sự đang lăn bánh qua một sa mạc Lần đầu tiên, những người dân thường được theo
Trang 7dõi chiến tranh ở nước ngoài theo cách nó diễn ra Những phóng viên theo chân các binh lính trong cuộc chiến Iraq mới đây nhất cũng có các tài khoản
cá nhân trên các trang tin Internet, ngoài việc họ vẫn thường xuyên đưa tin qua đài phát thanh truyền hình.Tin tức vẫn hấp dẫn đối với người xem và vẫn sinh lời
1.6 Những thăng trầm trong phát triển của Phát thanh
Xét chung, doanh thu của đài phát thanh (19,3 tỉ đô-la) và của truyền hình (44,8 tỉ đô-la) đạt cao nhất vào năm 2000 và giảm dần trong những năm tiếp theo Truyền hình đã phục hồi, phát thanh vẫn chưa có dấu hiệu khả quan Truyền hình cáp thì vẫn tăng đều đặn
Vấn đề của lĩnh vực phát thanh sâu xa hơn, với tỉ lệ giảm 13% lượng khán giả trong giai đoạn 1995 – 2005 Doanh thu từ quảng cáo giảm, và do
đó giá trị của đài giảm – đã làm cho một số nhà sở hữu mất đi những khoản doanh thu khổng lồ, chẳng hạn như tập đoàn phát thanh lớn nhất Clear Channel đã mất 17 tỉ đô-la trong năm 2002 và 4,9 tỉ đô-la trong năm 2005 Năm 2004, Clear Channel đã giảm thời gian dành cho quảng cáo khoảng 20% để giữ chân những khán giả có vẻ như không thỏa mãn với quá nhiều chương trình quảng cáo Chiến lược là tăng giá và giảm thời gian dành cho quảng cáo Năm nay, có một số dấu hiệu cho thấy chiến lược này có vẻ hiệu quả, song các đài phát thanh vẫn phải đối mặt với những vấn đề khác, trong
đó có cuộc điều tra về payola (trả tiền mặt hoặc tặng quà để được phát trên đài phát thanh) Các đài phát thanh sử dụng vệ tinh liên tục tăng lên như một loại hình thay thế cho các đài thương mại và ngoài ra, sự cạnh tranh còn đến
từ iPod (thiết bị nghe nhạc số) và các thiết bị kỹ thuật số tương tự vừa tiện dụng vừa làm cho âm nhạc có thể đi theo người
iPod và các thiết bị tương tự có thể lưu trữ các nội dung phát thanh để nghe lại Quy trình này, được goi là podcasting, cũng giống như thiết bị TiVo dành cho đài phát thanh Nội dung có thể thay đổi từ các chương trình phát thanh quốc gia đến loại hình tin trên trang web hay tin tức được sản xuất tại nhà
Từ lâu, người nghe đã có thể ghi lại chương trình phát thanh và nghe lại bằng thiết bị di động, song họ chưa bao giờ có nhiều nội dung, sự đa dạng, sự kiểm soát và khả năng để quản lý thông tin nhiều đến vậy
Trang 8Từ nhiều năm, ngành công nghiệp truyền hình đã nhìn thấy trước được việc tăng cường chất lượng – truyền hình với độ phân giải cao (HDTV) Bây giờ thì cuối cùng nó đã đến, dù là muộn nhiều năm
Các đài phát thanh sử dụng kỹ thuật số cũng đã được phát triển trong nhiều năm, với cam kết đưa ra những thiết bị thu có chất lượng như nghe từ
CD và được cải thiện rất lớn, song ngành công nghiệp này vẫn thiếu sự táo bạo nhằm tạo ra được sự đầu tư lớn cần thiết cho việc nâng cấp rộng lớn như vậy Công nghệ cho phép một đài phát thanh tiếp tục phát tín hiệu tương tự thường xuyên của nó đồng thời tăng tín hiệu sử dụng kỹ thuật số
1.7 Bùng nổ công nghệ và xu thế cạnh tranh mới trong truyền hình
Có lẽ truyền hình phát sóng và truyền hình cáp đã bước vào thế kỷ 21 cùng với HDTV, những kênh mới; và cũng không khác là mấy đối với những bước nhảy vọt về công nghệ trong những năm 1990 là dịch vụ Internet băng thông rộng phù hợp túi tiền và công nghệ nén phim video
Dịch vụ băng thông rộng là DSL (đường truyền kỹ thuật số) do các công ty điện thoại phát minh, và mô-đem cáp do truyền hình kỹ thuật số sáng tạo ra Những dịch vụ này đưa Internet tốc độ cao và phù hợp túi tiền tới các hộ gia đình và các công ty nhỏ
Công nghệ nén video kỹ thuật số mô tả mọi bit thông tin trong một cấu trúc video kỹ thuật số, tìm kiếm những thông tin không cần thiết hoặc thông tin mà con người không hiểu, thu gọn chúng và loại bỏ những gì không cần thiết Kết quả là tín hiệu được làm phù hợp với ổ cứng của máy tính và còn có thể lưu hành được trên Internet Hàng chục tín hiệu nén này được đưa vào các ống hoặc đường dẫn điện tử mà mỗi lần chỉ có thể xử lý được một tín hiệu video Với bộ nhớ lớn hơn và tốc độ xử lý tốt hơn, các máy tính đặt bàn có thể dễ dàng chạy hay thậm chí là chỉnh sửa phim video, nhanh chóng giúp hạ bớt các rào cản đối với các nhà sản xuất nhỏ độc lập
Công nghệ nén video kỹ thuật số giúp làm cho các tiêu chuẩn truyền hình kỹ thuật số mới có thể thực hiện được thông qua sự ủng hộ của Chính phủ Liên bang Chính phủ yêu cầu các đài truyền hình chuyển được tất cả các kênh và tín hiệu phát sóng analog sang kỹ thuật số vào năm 2009 Sau những năm ngần ngại đầu tư vào việc chuyển đổi, hầu hết các đài cuối cùng
đã phát sóng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật số mới, trong đó thường là HDTV Các máy thu hình kỹ thuật số đã trở nên phù hợp túi tiền và người tiêu dùng cuối cùng đã mua chúng Các màn hình HDTV lớn thậm chí đã lại có thể
Trang 9kéo mọi người trong gia đình vào phòng khách để cùng xem TV, tất nhiên đi cùng với nó là việc màn hình TV cũng ngày càng trở nên nhỏ hơn và có thể
di động cùng người xem cá nhân
Với những thách thức đến từ iPod đối với các đài phát thanh thương mại, các mạng truyền hình cũng đã nhân cơ hội sản xuất các chương trình vào giờ cao điểm chỉ với giá 1,99 đô-la mỗi chương trình khi Apple cho ra đời loại iPod mới có thể xem video được Có dấu hiệu cho thấy động thái này có thể giúp thu hút được khán giả
Tuy nhiên, phương tiện truyền thông mới này đã đe dọa tương lai của loại hình quảng cáo trên truyền hình truyền thống vốn có lợi nhuận cao Hai biện pháp cung cấp tài chính thay thế là phí đăng ký và phí trả cho mỗi chương trình Bất kỳ ai cũng có thể đưa phim video lên Google để lưu hành miễn phí hoặc để mua bán Các chương trình truyền hình trả tiền theo chương trình cũng sẵn có trên đài truyền hình cáp hoặc đài phát thanh truyền hình trực tiếp qua vệ tinh, cũng giống như việc xem và trả tiền theo từng phim Hiện nay, các công ty sản xuất, nhà viết kịch, diễn viên, các mạng lưới truyền thanh và những đối tượng khác đang tranh chấp xem liệu doanh thu được phân chia như thế nào
Các đài truyền hình có thể còn có thêm nhiều thách thức, lớn và nhỏ khi mà Internet cho lưu hành nhiều phim hơn nữa Các công ty công nghệ thông tin và viễn thông đang cho ra đời IPTV (TV dùng giao thức Internet)
Ai mà biết được những phim mới nào trên Internet sẽ đến từ những công ty mới và những nhà sản xuất độc lập non trẻ? Tuy vậy, xin hãy yên tâm rằng hầu hết các đài phát thanh truyền hình truyền thống sẽ tiếp tục cuộc cạnh tranh với những nguồn lực đáng kể, kinh nghiệm và những gì thừa hưởng được từ khả năng tồn tại và thành công của mình
Trang 10PHẦN II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
2 Tóm lược quá trình phát triển của Truyền hình Việt Nam
2.1 Thời kỳ chuẩn bị (1966-1970)
Trong những năm 1966-1970, nhu cầu thành lập ngành truyền hình Việt Nam trở nên cấp bách Bộ Biên tập Đài tiếng nói Việt Nam quyết định ký kết các hiệp định song phương nhờ Cuba giúp đỡ xây dựng đài truyền hình Lúc đó, truyền hình vẫn là một thứ kỹ thuật mới mẻ và quá hiện đại so với điều kiện Việt Nam
Tháng 11/1967, Đài tiếng nói Việt Nam cũng cử một đoàn cán bộ học hỏi kinh nghiệm làm truyền hình Tháng 4/1968, lại có tiếp tục 16 cán bộ của đài sang Cuba Tháng 9/1969, 16 cán bộ lại tiếp tục lên đường sang Cuba, chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc sản xuất chương trình truyền hình
Ngày 20/1/1970, Bộ Biên tập Đài tiếng nói Việt Nam quyết định
ngày 7/9/1970 là ngày kỷ niệm 25 năm thành lập đài tiếng nói Việt Nam và
sẽ cố gắng hết sức sáng tạo của mình để phát sóng chương trình thử nghiệm vào ngày này Đây là thời kỳ vô cùng khó khăn vì chúng ta chưa sản xuất ra được các trang thiết bị, vẫn phải nhập từ nước ngoài về Tuy nhiên, với tinh thần quyết tâm xây dựng ngành truyền hình, Đài tiếng nói quyết định lập ra ban Truyền hình do đồng chí Lê Quý phụ trách
Cùng với việc chuẩn bị về kỹ thuật, những người làm truyền hình tích cực chuẩn bị cho phần sản xuất nội dung Tháng 9/1970, các chương trình hoàn tất và chờ ngày phát sóng Chương trình gồm 45 phút ca nhạc, 15 phút tin tức Tối ngày 7/9/1970, chương trình truyền hình đầu tiên của nước ta được phát sóng từ trụ sở của Đài tiếng nói VIệT NAM 58 Quán sứ, Hà Nội
Buổi phát sóng đầu tiên thành công đã mở ra nhiều thuận lợi cho truyền hình Chính phủ quyết định đầu tư 400.000 rúp Nga để mua sắm trang thiết bị và giao cho Đài tiếng nói Việt Nam tiếp tục làm chương trình thử nghiệm