A PAGE A MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài tiểu luận Việt Nam là nước đang phát triển với điều kiện tự nhiên, kinh tế đặc thù dễ gặp phải rủi ro, ảnh hưởng đến sinh kế và thu nhập của.
Trang 1Tên tiểu luận:
Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống an sinh
xã hội ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay.
Chuyên đề tự chọn: Chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Tuyên Quang trong thời kỳ
hội nhập quốc tế Thuộc chuyên đề số: 04
Họ và tên học viên: Lê Đào Bích
Lớp: K8-CCLLCT hệ không tập trung Tuyên Quang 2014-2016 Khóa học: 2014 - 2016
Tuyên Quang, tháng 12 năm 2015
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài tiểu luận:
Việt Nam là nước đang phát triển với điều kiện tự nhiên, kinh tế đặc thu dễ gặp phải rủi ro, ảnh hưởng đến sinh kế và thu nhập của người dân Sự phân hóa nhanh mạnh trong nền kinh tế thị trường, cung với sự phát triển thì các nguy cơ, rủi ro kinh tế và xã hội ngày càng có xu hướng tăng Quan tâm chăm
lo đời sống cho mọi người dân là bản chất tốt đẹp của chế độ ta
Có thể thấy rằng, ngay từ năm 1945 đến nay, ở Việt Nam đã thực hiện gần như đầy đủ các chính sách an sinh xã hội mà các quốc gia trên thế giới đã
và đang thực hiện Đặc biệt, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách ưu đãi xã hội được chú trọng thực hiện, thể hiện nét riêng, sáng tạo trong hệ thống an sinh xã hội
Trong giai đoạn đầu khi vừa có chính quyền nhân dân thì nhiệm vụ trước mắt và cấp bách của an sinh xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rất cụ thể, gắn với các nhu cầu thiết thực của người dân, đó là:
“Làm cho dân có ăn; Làm cho dân có mặc;Làm cho dân có chỗ ở;Làm cho dân được học hành”
Hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển và ổn định kinh tế - xã hội, đó là:
Thứ nhất, an sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của người lao động Hệ
thống an sinh xã hội sẽ góp phần thay thế hoặc bu đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết Nhờ có sự thay thế hoặc bu đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường
Thứ hai, an sinh xã hội góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền
kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề
ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ
Trang 3Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống an sinh xã hội kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế - xã hội
Thứ ba, hệ thống an sinh xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội (BHXH) làm
tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động
và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất Người sử dụng lao động tham gia đóng góp quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước – người sử dụng lao động – người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội
Thứ tư, hệ thống an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội Quỹ an sinh xã hội, trong đó có quỹ BHXH là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ an sinh xã hội đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo hướng
có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội
Trang 4An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phu hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước Để chính sách này đảm bảo tốt hơn đời sống cho người dân, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết Pháp luật an sinh xã hội phải trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu lập pháp đã đạt được cũng như điều chỉnh các quan hệ mới theo điều kiện thực tế để Việt Nam có được một hệ thống an sinh xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro xã hội
Với những vai trò to lớn trên sau khi được học tập và nghiên cứu chuyên
đề tự chọn số 4: Chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Tuyên Quang trong thời kỳ hội nhập quốc tế Tôi xây dựng tiểu luận: “Một số giải pháp hoàn thiện hệ
thống an sinh xã hội ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay” làm Tiểu
luận chuyên đề khối kiến thức là cần thiết
2 Mục đích
Bảo đảm nguyên tắc công bằng và bền vững của hệ thống an sinh xã hội, về lâu dài cần gắn trách nhiệm và quyền lợi, giữa đóng góp và hưởng thụ, khuyến khích mọi người dân tham gia
Đảm bảo mọi người dân có quyền và được tiếp cận hệ thống an sinh xã hội Tăng cường trách nhiệm của các chủ thể, khuyến khích mọi lực lượng xã hội tham gia xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội
3 Giới hạn
- Về đối tượng: Mọi người dân có quyền và được tiếp cận hệ thống an
sinh xã hội
- Về không gian: Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở tỉnh Tuyên Quang
- Về thời gian: Giai đoạn hiện nay 2015-2020.
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá thực tiễn
- Đề xuất giải pháp thực hiện
5 Ý nghĩa thực tiễn
Triển khai các giải pháp đã đề xuất trong nội dung vấn đề nghiên cứu, từng bước đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao, bảo đảm tính bền vững của chính sách An sinh xã hội
Tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội, trong đó thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vung khó khăn và đặc biệt khó khăn
Đảm bảo mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân thực hiện quyền và lợi ích chính đáng cho người lao động
Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo từ đó thu hẹp chênh lệch về mức sống của người dân trên địa bàn tỉnh với khu vực và an sinh xã hội so với bình quân cả nước
6 Cấu trúc: Tiểu luận được kết cấu thành 4 phần như sau:
A PHẦN MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về an sinh xã hội
Chương 2: Phân tích thực trạng an sinh xã hội ở tỉnh Tuyên Quang Chương 3: Những biện pháp giải quyết
Chương 4: Kiến nghị đề xuất
C KẾT LUẬN
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6B NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI
1.1 Tổng quan về an sinh xã hội
Điểm mốc đánh dấu sự hình thành an sinh xã hội là cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ thứ XIX, cuộc cách mạng này đã khiến cuộc sống của người lao động gắn chặt với thu nhập do bán sức lao động đem lại Chính vì vậy những rủi ro trong cuộc sống như ốm đau, tai nạn, thất nghiệp hoặc do tuổi già sức yếu v.v đã trở thành mối lo ngại cho những người lao động Trước những rủi ro, bất hạnh thường xuyên xảy ra trong cuộc sống, một số nước đã khuyến khích các hoạt động tương thân tương ái lẫn nhau, kêu gọi người lao động tự tiết kiệm phòng khi có biến cố hoặc thực hiện trợ cấp đối với những người làm công ăn lương và thuật ngữ “an sinh xã hội” đã ra đời
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp” Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở
rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức
Theo cuốn “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam” tập I cũng đã
thống nhất khái niệm về an sinh xã hội (Social Security) là: “Sự bảo vệ của
xã hội đối với công dân thông qua các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con ”
Như vậy, từ các quan niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát rằng, an sinh xã hội là một hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm mục đích vừa
bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội không chỉ là bảo vệ quyền của mọi người dân theo Hiến chương Liên hợp
Trang 7quốc, mà còn là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Tuy nhiên, mức độ, quy mô, phạm vi an sinh xã hội của các nước có sự khác nhau, tuy thuộc vào quan niệm, chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển và chính sách của mỗi quốc gia
1.2 Chính sách bảo đảm an sinh xã hội
Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác Chính sách an sinh xã hội là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế
và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội
Chính sách bảo đảm an sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước (bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội…) và sự hỗ trợ của tổ chức hay tư nhân (các chế độ không theo luật định) nhằm giảm mức độ nghèo đói
và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội
1.3 Cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội
Theo quan điểm phổ biến của các tổ chức quốc tế, thì một hệ thống an sinh xã hội phải có tối thiểu 3 hợp phần cơ bản tương ứng với 3 chức năng chính của an sinh xã hội, gồm:
Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro Đây là tầng trên
cung của hệ thống an sinh xã hội Chức năng của những chính sách này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư
có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro Trụ cột cơ bản của tầng này là những chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động
Trang 8Thứ hai, những chính sách, chương trình giảm thiểu rủi ro Đây là tầng thứ hai,
gồm các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống an sinh xã hội,
có vai trò đặc biệt quan trọng Nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng – hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, v.v… Nhóm chính sách này rất nhạy cảm, nếu phu hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho Nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống Ngược lại, nếu chính sách không phu hợp, người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng
Thứ ba, những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro, bao gồm các chính
sách, chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội.Đây là tầng cuối cung của hệ thống an sinh xã hội với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em
mồ côi, người nghèo…
Ở Việt Nam, cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội gồm 5 trụ cột: 1) Bảo hiểm xã hội; 2) Bảo hiểm y tế; 3) Bảo hiểm thất nghiệp; 4) Cứu trợ xã hội; 5) Trợ giúp và ưu đãi xã hội Xét về thực chất, năm trụ cột này là nhằm thực hiện 3 chức năng chiến lược của hệ thống an sinh xã hội: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro So với mô hình phổ biến trên thế giới, hệ thống an sinh xã hội ở nước ta có một cấu phần đặc thu, đó là chính sách
ưu đãi xã hội Chính sách này nhằm thực hiện mục tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa đối với sự hy sinh, công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước; thực hiện trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội chăm lo, bảo đảm cho người có công có cuộc sống ổn định
và ngày càng được cải thiện
Trang 9Chương 2 THỰC TRẠNG AN SINH XÃ HỘI Ở TUYÊN QUANG
2.1 Kết quả thực hiện
Chính sách an sinh xã hội cũng đã được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đặc biệt quan tâm, lãnh đạo triển khai thực hiện, nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV đã ban hành Chương trình hành động số 15 CTr/TU ngày 28/8/2012 Thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 Các ngành, các cấp trong tỉnh đã tập trung triển khai nhiều giải pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội, gắn với phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được những kết quả cụ thể:
2.1.1 Về chính sách Người có công
Triển khai thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, trong đó tập trung phát động thực hiện phong trào đền ơn đáp nghĩa, triển khai việc chăm sóc, thăm hỏi, tặng quà cho người
có công nhân các ngày lễ, tết; triển khai hỗ trợ hộ chính sách người có công
có khó khăn về nhà ở Thẩm định hồ sơ xét đề nghị tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hung" cho 113 trường hợp; Hoàn thành và đưa vào sử dụng công trình Đền thờ liệt sĩ huyện Yên Sơn; 4 đài, nghĩa trang liệt sỹ và nhà bia ghi tên liệt sỹ; tham mưu cho lãnh đạo tỉnh đi thăm, viếng Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn Thực hiện hoàn thành việc tổng
rà soát chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh
2.1.2 Về chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm
Trong giai đoạn 2011-2015 Tỉnh đã ban hành Nghị quyết Chuyên đề về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực coi đó là 1 trong những lĩnh vực đột phá của tỉnh (Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 13/5/2011 của Ban Chấp hành Đảng
Trang 10bộ tỉnh, (Khóa XV) về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020)
Thành lập mới 02 cơ sở đào tạo nghề, nâng tổng số cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh lên 15 cơ sở (01 trường Cao đẳng nghề, 02 trường Trung cấp nghề,
10 trung tâm dạy nghề và 02 đơn vị khác có tham gia dạy nghề), 6/6 huyện đã có trung tâm dạy nghề, tổng quy mô tuyển sinh đạt 15.850 học sinh/năm
Kết quả từ năm 2011 - 2014 tỉnh đã đầu tư trên 100 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư cơ sở vật chất và hỗ trợ đào tạo cho các cơ sở dạy nghề Hiện nay tổng diện tích đất sử dụng cho công tác dạy nghề là 449.220 m2, trong đó diện tích đất xây dựng là 71.863 m2; có 126 phòng học lý thuyết, 47 xưởng thực hành, 12 thư viện Qua đó từng bước đổi mới, nâng cao năng lực dạy nghề cho các đơn vị
Thường xuyên chỉ đạo các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh triển khai tự kiểm định chất lượng dạy nghề hàng năm Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy chứng nhận kiểm định chất lượng dạy nghề cấp độ 3
và chứng nhận thành lập Trung tâm Đánh giá kỹ năng nghề cho Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ Tuyên Quang Tích cực chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học của các cơ sở dạy nghề, tham gia các cuộc thi tay nghề, hội giảng giáo viên dạy nghề quốc gia để giao lưu, học hỏi; kết quả, đã đạt 05 giải khuyến khích cho thí sinh tham gia Hội thi tay nghề quốc gia và 03 giải khuyến khích cho giáo viên tham gia hội giảng giáo viên toàn quốc Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lựa chọn 02 nghề để đầu tư nghề trọng điểm cấp độ ASEAN (nghề Hàn và nghề Điện công nghiệp), 01 nghề đầu tư nghề trọng điểm quốc gia (nghề Vận hành máy thi công nền)
Công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác quản lý dạy nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề được quan tâm, số lượng, chất lượng đảm bảo đúng theo các quy định hiện hành về dạy nghề Đến nay, tổng số cán bộ quản lý dạy nghề cấp tỉnh, cấp huyện và cơ sở dạy nghề là 103