1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sự biến đổi chính trị ở việt nam từ 1858 đến 1945 phần 2

107 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự biến đổi chính trị ở Việt Nam từ 1858 đến 1945 phần 2
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi mà nhiều người đứng đầu triều đình đã phản bội lại lợi ích dân tộc, xã hội phong kiến không còn là một xu thế phát triển hợp quy luật, ở Việt Nam nó đã đến độ suy tàn, cuộc sống của

Trang 1

3.1.1 Khuynh hướng tái lập kiểu nhà nước phong kiến cuối thế kỷ XIX

Một kiểu nhà nước bao giờ cũng được biểu hiện cụ thể trong một hình thức nhà nước nhất định Khuynh hướng chính trị này tái lập kiểu nhà nước phong kiến dưới hình thức nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Tiêu biểu cho khuynh hướng chính trị này không thể không kể đến vua Hàm Nghi và tướng Tôn Thất Thuyết Là những người đứng đầu phe chủ chiến trong triều đình, trong dụ Cần Vương Hàm Nghi ngày 06-6-1888 viết: “Trẫm vâng noi đại thống, nối tiếp cơ đồ lớn lao, nhưng vận nước gian truân, bọn giặc thôn tính, thế thậm lan dần, không thể tạm yên Vì thế đã mật triệu các bề tôi vào viện Cơ Mật uống máu ăn thề, hẹn trước hết đánh phá tại kinh thành, sau

đó đuổi dài vào Gia Định” [212] “Noi đại thống, nối tiếp cơ đồ lớn lao” ở đây chính là tiếp tục chế độ quân chủ cha truyền con nối hàng nghìn năm ở Việt Nam Kêu gọi nhân dân phò vua cứu nước, sau khi giành độc lập lại tiếp tục xây dựng chế độ phong kiến ở nước ta chính là con đường của các lãnh tụ Cần Vương Với tôn chỉ này, “ái quốc” đã có thể gắn với “trung quân” Tư tưởng chính trị đã trở thành nền tảng cho chế độ phong kiến Việt Nam suốt chiều dài lịch sử được khơi dậy trong bối cảnh đất nước nguy nan đã trở thành động lực thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp phát triển

Trang 2

Là một người đứng đầu triều đình phong kiến nhà Nguyễn, trong một nền quân chủ đã có bề dày hàng nghìn năm ở nước ta, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, việc hướng đất nước theo mô hình phong kiến sau ngày độc lập của những lãnh tụ Cần Vương là điều dễ hiểu Những lãnh tụ yêu nước này chưa vượt ra khỏi nguồn gốc xuất thân của mình để hướng tới một chân trời mới, mở ra một hướng đi mới cho dân tộc Nền quân chủ đã toả sáng trong nhiều triều đại phong kiến Việt Nam, làm rạng danh cho dân tộc trong các triều đại phong kiến lớn như Lý, Trần, Lê…

đã không còn đủ sức cứu dân tộc Việt Nam trong bối cảnh lịch sử này Khi mà nhiều người đứng đầu triều đình đã phản bội lại lợi ích dân tộc, xã hội phong kiến không còn là một xu thế phát triển hợp quy luật, ở Việt Nam nó đã đến độ suy tàn, cuộc sống của nhân dân đói khổ, các cuộc đấu tranh của nông dân chống triều đình đã diễn ra ở khắp đất nước trong nhiều năm thì ngọn cờ quân chủ dù có làm dấy lên những cuộc khởi nghĩa chống Pháp oanh liệt nhưng cũng không đủ sức làm thay đổi thân phận nô lệ của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam Điều mà các lãnh tụ Cần Vương đầy nhiệt huyết còn thiếu là tầm nhìn thời đại để nhìn thấy xu thế phát triển tất yếu của xã hội Và số phận bi thương của

họ là kết cục tất yếu của những con đường như vậy Một Hàm Nghi bị tù đày, sống lưu vong nơi đất khách quê người: “Những người giúp việc bị chặt đầu và nhà vua bị đưa đi đày ở đảo Rêuyniông ở châu Phi” [98, tr.33] Một Đả Thạch Ông - Tôn Thất Thuyết thác nơi xứ người cũng là điều không khó lý giải

Mặt khác, có thể thấy một trong những nguyên nhân thất bại của Cần Vương - phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến điển hình ở Việt Nam - là do vấn đề lực lượng Phong trào Cần Vương dù cũng đã dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp oanh liệt khắp ba miền song không thực sự thu hút được đông đảo lực lượng nhân dân hưởng ứng và đi theo, đặc biệt các nhà nho, lực lượng tinh hoa trí tuệ trong xã hội phong kiến Trước thực tế một số ông vua triều Nguyễn cam tâm bán nước, phản bội lại lợi ích dân tộc, một câu hỏi lẩn quất trong đầu họ: Khi

Trang 3

vua không trung với nước nữa thì bề tôi có nhất thiết phải trung với vua nữa hay không Và trong khi nhiều nhà nho vẫn giữ tư tưởng trung quân song “có một số người thấy được rằng: có một cái phân biệt với vua, cao hơn vua, ấy là đất nước; khi có mâu thuẫn giữa trung vua với yêu nước thì người dân phải đặt nước lên trên vua” [37, tr234] Với nhận thức này “ái quốc” đã có sự độc lập nhất định với “trung quân” chứ không gắn hữu cơ với “trung quân” như trước nữa Cũng chính vì vậy, ngọn cờ “ái quốc - trung quân” không thực sự có sức hấp dẫn và lôi cuốn đông đảo nhân dân hưởng ứng Thực tế này dẫn tới sự hạn chế về lực lượng trong con đường cứu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến

Có thể thấy, trên nền một phương thức sản xuất TBCN phát triển cao hơn hẳn phương thức sản xuất phong kiến, các nhà nước

tư sản đã xuất hiện ở phương Tây và ngày càng tỏ rõ ưu thế của mình với sự phát triển kinh tế xã hội thì việc tái lập một mô hình nhà nước nằm trong kiểu nhà nước phong kiến ở Việt Nam lúc đó hoàn toàn không phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại

Và sự thất bại của một con đường cứu nước gắn với kiểu nhà nước phong kiến là hoàn toàn có thể lý giải được

Dù thất bại, song khuynh hướng tái lập kiểu nhà nước phong kiến vẫn âm ỉ cháy Đó vẫn là khao khát và mục đích hướng tới của nhiều người thuộc dòng dõi hoàng tộc, đặc biệt là các vị vua nhà Nguyễn Khuynh hướng này kéo dài đến tận mùa thu năm

1945 khi vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, nộp ấn kiếm cho đại diện nhà nước Việt Nam mới Đó là lời tuyên bố chính thức chấm dứt

sự tồn tại trên thực tế của chế độ phong kiến ở Việt Nam Tuy nhiên, không phải vậy mà tư tưởng quân chủ của những người bảo hoàng đã hết Nó còn tồn tại dai dẳng mãi tới sau này

3.1.2 Khuynh hướng xác lập kiểu nhà nước tư sản đầu thế kỷ XX

a Dưới hình thức quân chủ lập hiến

Tiêu biểu cho khuynh hướng chính trị này là con đường cứu nước của lãnh tụ Phan Bội Châu Ông xuất thân từ một nhà nho

Trang 4

yêu nước Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp chính trị của mình, khi xông pha tìm con đường cứu dân, cứu nước, Phan Bội Châu cũng thể hiện rõ khuynh hướng quân chủ trong tư tưởng và nhận thức của mình Ngưỡng mộ mô hình chính trị của Nhật Bản, ông hướng tới một chế độ quân chủ lập hiến theo kiểu Nhật chứ không phải quân chủ chuyên chế như mô hình đã tồn tại bấy lâu trong lịch sử dân tộc

“Kìa xem Nhật Bản người ta Vua dân như thể một nhà kính yêu Chữ bình đẳng đặt đầu chính phủ ” [159, tr.192]

Phan Bội Châu miêu tả nước Việt Nam dưới chế độ chuyên chế phong kiến thật thiểu não, ảm đạm, thiếu sức sống: “nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng hư văn, khinh võ sĩ… Than ôi, nguy ngập lắm thay” [17, tr.434, 435]

Ông lên tiếng phê phán nền quân chủ chuyên chế:

“Về chính giáo thì chứa chất hủ lậu, mọi việc đều mô phỏng Minh Thanh, văn nhân thì khư khư giữ theo sách cũ, tự khoe đắc chí; võ sĩ thì cốt ở cờ trống mỹ quan, côn quyền coi như trò chơi,

tự cho là không ai hơn được Đáng bỉ hơn hết là ức chế dân quyền, coi thường dư luận, phàm bàn việc quốc gia đại kế, nhân dân chỉ được ở ngoài hỏi rồi than thở mà thôi” [17, tr.34]

Trong tác phẩm nổi tiếng Hải ngoại huyết thư, ông chỉ ra nguyên nhân mất nước là do sự quan liêu của chính thể quân chủ, vua quan không biết gì tới đời sống của nhân dân, nhân dân thờ ở với việc nước, coi đó không phải là việc của mình:

“Một là vua sự dân chẳng biết Hai là quan chẳng thiết gì dân

Ba là dân chỉ biết dân Mặc quân với quốc, mặc thần với ai” [159, tr.242]

Ông coi vua như dân tặc - tức kẻ thù của nhân dân, ông coi chuyên chính của lực lượng cầm quyền như nọc độc, ông thấy sự

Trang 5

bất công của một chế độ trong đó một người ngồi trên ngàn vạn người dân, sống trên mồ hôi nước mắt của ngàn vạn người này Mặc dù vậy, trong tư tưởng của Phan Bội Châu vẫn còn một sự vấn vương, lưu luyến rõ nét với nền quân chủ đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta Ông chỉ chủ trương khiển trách, trừng phạt những vua tệ, quan hư chứ không chủ trương lật đổ ngai vàng, biểu tượng quyền lực của xã hội phong kiến Phê phán quân chủ song không thể rời bỏ nó, ông đã giải quyết mâu thuẫn này bằng một mô hình chính thể theo kiểu quân chủ lập hiến của Nhật Bản Trong mô hình này vừa có vua làm biểu tượng quyền lực quốc gia, mặt khác, vai trò của dân cũng được coi trọng ở mức độ nhất định và vì vậy, quyền lực của vua không còn là tối thượng nữa Như vậy, “Phan Bội Châu trong thời kỳ đầu của sự nghiệp chưa thể chấm dứt ngay những ràng buộc với tư tưởng trung quân, đặt tư tưởng dân chủ, cách tân của mình trên giá đỡ của ý thức hệ Nho giáo… Ông thành lập một tổ chức cách mạng lấy tên là Duy Tân hội, nhưng lại suy tôn Kỳ ngoại hầu Cường Để làm Hội chủ, theo quan niệm suy tôn minh chủ, với mục đích khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập” [145, tr.148, 149]

Phong trào Đông Du với những cuộc đi ra nước ngoài của tầng lớp trí thức sang Nhật Bản cũng không đạt được mục tiêu cuối cùng, Nhật đã trục xuất sinh viên An Nam ra khỏi nước Nhật Và kết quả đau buồn của phong trào là: “Tất cả những người trí thức nào có đôi chút tiếng tăm đều bị đưa đi đày Tất cả các trường tư thục đều bị đóng cửa và tất cả các sách báo nước ngoài đều bị cấm Tất cả những người lãnh đạo hoặc bị coi là người lãnh đạo - khoảng 200 - đều bị chặt đầu” [98, tr.32]

Tuy nhiên, phải thấy rằng, Phan Bội Châu chủ trương quân chủ như một “thủ đoạn để giành độc lập”, để tập hợp lực lượng chống Pháp Theo nhận thức của ông vì nhiều người chống Pháp trung thành với tư tưởng quân chủ nên muốn thống nhất họ trong một khối thì phải chủ trương quân chủ Những người yêu nước này khá xa lạ với tư tưởng cộng hoà, nên nếu chủ trương cộng hoà

Trang 6

họ sẽ bỡ ngỡ, lo âu và khó thống nhất được họ “Quân chủ lập hiến hay cộng hoà dân chủ đều là thủ đoạn Thủ đoạn giành độc lập Cái nào thích hợp thì dùng, cốt yếu là đánh đuổi Pháp, khôi phục chủ quyền, còn với phương pháp nào, thủ đoạn nào thì tùy lúc thích nghi” [38, tr.118]

Mặc dù sau này, khi ông đã nhận thấy cái hay của dân chủ so với quân chủ, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam khi dân trí còn thấp, trình độ còn kém người châu Âu, ông vẫn chủ trương quân chủ Ông khẳng định với Phan Chu Trinh, mươi, mười lăm năm nữa, ở Việt Nam đưa ra học thuyết dân chủ thì ông sẽ là người tán thành đầu tiên Rõ ràng rằng, Phan Bội Châu trong tiến trình nhận thức của mình, ông không chỉ đi từ tư tưởng quân chủ đến tư tưởng dân chủ mà ông còn nhận thấy trình độ dân trí là một trong những điều kiện quan trọng để xây dựng một nền dân chủ Dân chủ nghĩa là dân là chủ, dân làm chủ Mà muốn là chủ, muốn làm chủ phải có ý thức làm chủ, năng lực làm chủ Do vậy, dân chủ gắn liền với dân trí Dù chưa nêu được hết các điều kiện cơ bản cho việc thực thi một nền dân chủ trong tương lai (dân sinh, dân trí, dân quyền), song rõ ràng, nhận thức của Phan Bội Châu trong thời kỳ đầu hoạt động cách mạng có thể coi như bước nhận thức quá độ cho sự phát triển tư tưởng chính trị Việt Nam từ quân chủ đến dân chủ

Có thể thấy, trong giai đoạn đầu của sự nghiệp chính trị của mình, Phan Bội Châu hướng tới mô hình quân chủ lập hiến Sau này dưới những tác động của điều kiện trong nước và quốc tế, tư tưởng của ông có nhiều biến chuyển theo hướng ngày càng tiến

bộ Sai lầm của ông chính là tư tưởng chủng tộc Ông thấy “đồng châu, đồng chủng, đồng văn” mà chưa thấy bản chất của tư bản,

đế quốc nên đưa mâu thuẫn chủng tộc thành vấn đề lý giải sự xâm lược của tư bản phương Tây Rõ ràng tư tưởng cầu ngoại viện đặt trong bối cảnh đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã không còn phù hợp,

cơ hội đã trôi qua Nước Nhật giờ đây đã không còn là một nước nhược tiểu như trước cuộc Duy Tân 1868 mà đã trở thành đế quốc

Nó nhìn thế giới bằng con mắt của một đế quốc Dựa vào một đế

Trang 7

quốc để đánh một đế quốc khác Con đường này đúng là “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”

Như vậy, trong giai đoạn đầu sự nghiệp chính trị của mình, Phan Bội Châu đã khởi xướng và dẫn dắt một phong trào giải phóng dân tộc theo mô hình quân chủ lập hiến kiểu tư sản như Nhật Bản Tuy nhiên vì những lý do khách quan và chủ quan khác nhau, con đường này đã không thể thực hiện thành công ở nước ta

b Dưới hình thức dân chủ cộng hoà tư sản

Sự thất bại của phong trào Cần Vương của Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết và thất bại của Duy Tân hội của Phan Bội Châu có thể coi như dấu chấm hết cho một khuynh hướng cứu nước hướng tới một mô hình xã hội đã trở nên quá lạc hậu so với xu hướng phát triển chung của nhân loại hoặc không phù hợp với hoàn cảnh nước ta Tác động của những sự kiện chính trị lớn trên thế giới vào nước ta cũng như sự vận động nội tại của phong trào cách mạng Việt Nam đã làm xuất hiện một khuynh hướng cứu nước mới - khuynh hướng dân chủ tư sản, hướng tới một nền dân chủ cộng hoà tư sản sau ngày độc lập Khuynh hướng chính trị này ảnh hưởng khá mạnh mẽ tới đời sống nhiều mặt của xã hội Việt Nam trong khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX

Về sự thâm nhập của tư tưởng dân chủ tư sản vào Việt Nam,

có thể khẳng định sự xuất hiện của thực dân Pháp ở nước ta - một

kẻ thù hoàn toàn mới từ phương Tây, quê hương của những tư tưởng dân chủ tư sản nổi tiếng thế giới - là một trong những nguyên nhân quan trọng thúc đẩy cho việc thâm nhập và hấp thu những tư tưởng dân chủ tư sản vào Việt Nam những năm đầu thế

kỷ XX Song song với quá trình quảng bá của chính kẻ xâm lược cho tất cả những gì là “tinh hoa”, là “đẹp đẽ” của văn minh phương Tây, ở người bị xâm lược cũng xuất hiện một nhu cầu tìm hiểu nền văn minh của kẻ thù Từ đó hiểu bản chất kẻ đang nô dịch mình để có một phương cách phù hợp chống lại chúng Tư tưởng dân chủ tư sản thâm nhập vào nước ta chủ yếu qua ba con đường:

Từ Trung Quốc, Nhật Bản và từ Pháp

Trang 8

Cuối thế kỷ XIX, ở Trung Quốc diễn ra phong trào Dương Vụ dưới thời vua Quang Tự Quang Tự triệu tập hai thầy trò Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu làm cách mạng để canh tân đất nước Tuy nhiên, phong trào này đã thất bại Hai thầy trò phải chạy sang Nhật lánh nạn Tại đây, họ xuất bản báo chí truyền bá cho tư tưởng dân chủ tư sản Tờ báo Thanh Nghị của họ chuyên đăng bài

về tư tưởng dân chủ tư sản đã được truyền về Trung Quốc sau đó vào Việt Nam Những tư tưởng đó làm bật dậy hướng đổi mới cho những người Việt Nam yêu nước Mặt khác, năm 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc bùng nổ đã đánh vào triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc, mở ra một thời đại mới ở đất nước này Tư tưởng Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn với hệ giá trị phát triển: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc đã ảnh hưởng tới nhiều người Việt Nam yêu nước, làm trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản có điều kiện bùng phát ngày càng mạnh mẽ ở nước ta

Con đường thứ hai là con đường từ đất nước mặt trời mọc Năm 1905, chiến tranh Nga- Nhật kết thúc với thắng lợi thuộc về nước Nhật Lịch sử Á Đông chưa có một trận thắng nào vẻ vang như vậy, nó đã được ghi nhận như một bước ngoặt lớn của các dân tộc châu Á thời hiện đại Chiến thắng này đã thức tỉnh các dân tộc châu Á vì lần đầu tiên người da vàng đã chiến thắng người da trắng, người châu Á đã chiến thắng người châu Âu Các nước châu Á có cảm tình ngay với Nhật và hướng theo con đường của Nhật vì Nhật đã rửa nhục cho giống da vàng và da đen Nếu như trước đó, các dân tộc này trông cậy nhiều vào sự giúp đỡ của Trung Hoa thì nay họ hướng sang nước Nhật Các sĩ phu Việt Nam truyền tay nhau những cuốn sách về Nhật Bản và công cuộc Minh Trị Duy Tân như: Nhật Bản quốc chí, Nhật Bản duy tân khảng khái sử, Nhật Bản tam thập niên duy tân sử và viết nhiều bài ca ngợi công cuộc duy tân này

Tư tưởng dân chủ tư sản từ phương Tây với tư tưởng của các nhà khai sáng nổi tiếng như: Môngtetxkiơ, Rutxô, Vônte cũng theo chân các thầy giáo Pháp vào Việt Nam Dù chủ trương thực

Trang 9

hiện chính sách ngu dân ở nước ta, song thực dân Pháp vẫn buộc phải phát triển giáo dục ở mức độ nhất định để đào tạo những công chức thuộc địa Mặt khác, không phải mọi người Pháp đều là thực dân và không phải mọi mong muốn của bọn thực dân đều được thực hiện đúng như chúng kỳ vọng, nên thông qua các thầy giáo Pháp tiến bộ, lần đầu tiên, các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và nhiều tư tưởng dân chủ khác đã được người Việt Nam biết tới Đây

là hệ tư tưởng mới với người Việt Nam Nó đánh thức những khát vọng tiềm ẩn chưa được gọi tên trong nhiều người dân Việt Nhận thức về dân chủ làm xuất hiện những nhu cầu dân chủ Khát vọng

tự do, bình đẳng, bác ái, hướng tới một xã hội dân chủ dần xuất hiện theo sự thâm nhập của tư tưởng dân chủ tư sản vào nước ta

Nó đặt tiền đề tư tưởng cho việc khởi xướng xây dựng một nền chính trị dân chủ thay thế nền chính trị chuyên chế đang tồn tại Nó

mở đường cho một trào lưu cách mạng hoàn toàn mới ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX - trào lưu dân chủ tư sản

Sau thất bại của phong trào Đông Du, Phan Bội Châu từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến, thành lập Việt Nam Quang Phục hội (1912), hướng đến mục tiêu xây dựng nước cộng hoà dân chủ tại Việt Nam sau khi đánh đuổi thực dân Pháp Tuyên ngôn của Việt Nam Quang Phục hội khẳng định:

“Muốn cho ích nước lợi nhà

Ắt là dân chủ cộng hoà mới xong” [38, tr.119]

Theo ông thì chính thể dân chủ cộng hoà là một chính thể rất tốt đẹp trong đó quyền bính của nước ta là của chung toàn dân do nhân dân quyết định Quang Phục quân trong khi vừa đánh đuổi giặc Pháp, đồng thời cũng vừa xây dựng một nước cộng hoà dân chủ

Ông cũng đã hình dung ra mô hình tổ chức của chính thể gồm

ba viện: thượng nghị viện, trung nghị viện, hạ nghị viện, một thể chế trong đó người dân có quyền quyết định những công việc chung Về cơ bản, tư tưởng của ông giai đoạn Quang Phục hội dù

đã vượt khỏi mô hình quân chủ lập hiến nhưng cũng vẫn chỉ

Trang 10

dừng lại ở chính thể đại nghị tư sản Hướng theo tư tưởng này, song bản thân Phan Bội Châu cũng chưa thật sự nhận thức được bản chất của nền dân chủ tư sản phương Tây nên không thể tránh khỏi những yếu tố ảo tưởng trong hành động của Việt Nam Quang phục hội do ông là thủ lĩnh

Sau khi Quang Phục hội thất bại, mặc dù ông đã bước đầu tiếp cận chủ nghĩa Mác nhưng ông cũng không tiến xa hơn trong nhận thức và hành động vì nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau Phần vì bị thực dân Pháp giam lỏng ở Huế suốt những năm tháng cuối đời, từ 1926 trở đi, Phan Bội Châu bị cách ly với thực tế đấu tranh của dân tộc Phần do hạn chế trong nhận thức và tiếp cận thông tin, chính ông cũng tự thừa nhận vì không biết các ngôn ngữ thông dụng của thế giới, ông như người mù trong thế giới này

Có thể thấy sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu phản ánh quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế

kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX tạo ra phong trào chống Pháp từ khuynh hướng quân chủ sang khuynh hướng dân chủ tư sản cho một Việt Nam độc lập “Phan Bội Châu đã làm được bước chuyển hết sức căn bản từ tư tưởng quân chủ sang dân chủ dẫn dắt cho dân tộc đi đến tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin” [19, tr183]

Cũng với khuynh hướng dân chủ tư sản, một nhà yêu nước tiêu biểu không thể không kể tới là Phan Chu Trinh Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, cha làm quan giữ chức Quản

cơ sơn phòng trong triều, sau này thân phụ ông tham gia tích cực phong trào Cần Vương chống Pháp Bản thân ông cũng đỗ Phó bảng và làm quan cho nhà Nguyễn Song, do có cơ hội tiếp cận với những tư tưởng mới và giao thiệp với những người yêu nước có

tư tưởng canh tân nên Phan Chu Trinh đã có nhiều nhận thức mới, tiến bộ so với phần lớn người Việt Nam đương thời Ông bôn ba nhiều nước trên thế giới, đặc biệt có một thời gian khá dài sống tại Pháp, một trong những cái nôi của tư tưởng dân chủ, đã giúp ông

có cái nhìn tiến bộ so với tư tưởng truyền thống ở Việt Nam

Trang 11

đương thời Từ thực tiễn xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ

XX, trước sự bất lực của triều đình phong kiến, ông nhận thấy làm quan cũng chỉ “vinh thân phì gia” chứ không giúp gì nhiều cho dân tộc Do đó, ông đã từ quan để mưu làm việc lớn Phan Chu Trinh phê phán triều đình, phê phán chế độ phong kiến chuyên chế, ví quan quân triều đình phong kiến như các quân cờ trên bàn cờ tướng: “Một ông tướng lác đứng trong cung/Sĩ tượng khoanh tay chẳng vẫy vùng” [23, tr.71] Ông đau đớn trước cảnh đồng bào bị đoạ đày: “Hồn Tổ quốc nặng trĩu trên vai, xót vì quốc dân đồng bào đương rên xiết bởi cường quyền áp chế” [23, tr695] Trong chế

độ quân chủ, dân trí không thể mở mang được và cũng chính vì

sự hạn hẹp trong nhận thức của người dân mà chế độ quân chủ có đất để dung dưỡng: “Một nước bao nhiêu triệu dân mà chỉ giao phó quyền chính cho một ông vua thì chẳng là ngu xuẩn lắm ư?” [23, tr.785] Chế độ quân chủ đã đặt vua với dân ở vị trí hoàn toàn đối lập, người dân không được tôn trọng: “Vua tôn như thánh, như thần/Phận tôi rơm rác, thân dân trâu bò” [23, tr.290] Trên lập trường dân chủ, ông phê phán vua Khải Định bằng tác phẩm Thư thất điều, luận tội vua và phán xét vua đáng bị chém đầu Đây là một ý tưởng quá mới mẻ trong một xã hội chuyên chế phong kiến với tư tưởng trung quân được đặt lên hàng đầu hàng nghìn năm như Việt Nam

Từ chỗ phê phán chế độ phong kiến, ông so sánh chủ nghĩa quân trị (quân chủ) và chủ nghĩa dân trị (dân chủ) mà khẳng định: “Ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn cái chủ nghĩa quân trị nhiều lắm Lấy theo cái ý riêng của một người hay một nước thì cái nước đó không khác nào là một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay phải đói rét khổ sở chỉ tuỳ theo lòng một người chăm Còn theo cái chủ nghĩa dân trị thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấy Dù không có người tài giỏi làm cho hay lắm, không đến nỗi phải cúi đầu khốn nạn làm tôi mọi một nhà, một họ nào cả” [38 tr.460] Kế thừa những tư tưởng canh tân nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, Phan Chu Trinh nhận

Trang 12

thấy: “Chủ nghĩa dân chủ chính là một vị thuốc rất thần hiệu để chữa bệnh chuyên chế của nước ta vậy” [23, tr.784] Ông tôn những nội dung của dân chủ là thánh thần và khẳng định đây là một trào lưu rộng khắp thế giới: “Công quyền là thánh, tự do là thần Khắp thế giới tôn dân tự chủ” [23, tr.309] Ông hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc nhưng theo ông muốn độc lập trước hết phải đánh đổ quân chủ, xây dựng chế độ dân chủ Tư tưởng dân chủ của Phan Chu Trinh hướng vào việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, làm cho nước nhà cường thịnh, khôi phục, chấn hưng đất nước Theo ông, có làm như vậy mới lấy lại được độc lập cho đất nước Hướng tới độc lập dân tộc song ông không có chủ trương đánh Pháp, thậm chí còn phê phán gay gắt những người có tư tưởng này Theo ông, cần ỷ Pháp cầu tiến bộ Ông mong muốn dựa vào lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của Pháp để tiến hành cải cách Ông đã thiết lập mối quan hệ với nhiều người Pháp tiến bộ để thực hiện mục tiêu chính trị của mình

Rõ ràng, ông đã có một sự nhầm lẫn khi xác định đâu là kẻ thù chính Mặt khác, tính ảo tưởng, mơ hồ về chính trị cũng được thể hiện trong tư tưởng chính trị của ông Làm sao một nước đế quốc có thể cho một thuộc địa của nó có tự do, dân chủ? Con đường của ông hướng đất nước tới một chế độ dân chủ kiểu Pháp

- một chế độ dân chủ tư sản, dân chủ cho số ít những kẻ có tiền, có

lẽ ông cũng chưa nhận thức rõ điều này Vì khi đặt ra chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, rõ ràng ông đã rất quan tâm đến vai trò của đông đảo nhân dân Chủ trương đánh vào sự

hủ lậu, thối nát của xã hội phong kiến rồi xây dựng một chính thể cộng hoà dân chủ theo kiểu tư sản ở nước ta của Phan Chu Trinh, theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu là “đặt cày trước trâu” Làm như vậy chỉ để triển lãm trâu và cày chứ không cày được thước đất nào Còn người cùng thời với ông là Phan Bội Châu thì đặt câu hỏi: Dân không còn nữa thì chủ với ai? Theo Phan Bội Châu, giành độc lập dân tộc phải là vấn đề cốt yếu trước khi thực hiện mục tiêu dân chủ Rõ ràng, Phan Chu Trinh đã chưa có cái nhìn đúng đắn

về mối quan hệ dân tộc - giai cấp, do đó chưa có biện pháp hợp lý

để giải quyết mối quan hệ này ở nước ta

Trang 13

Sau này trong nghị quyết Hội nghị trung ương 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5-1941, Hồ Chí Minh đã khẳng định mối quan hệ dân tộc- giai cấp:

Quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự

do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được [28, tr.113]

Theo khuynh hướng chính trị này, còn phải kể tới Việt Nam Quốc dân đảng, một tổ chức chính trị được thành lập theo mô hình Trung Quốc Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn Điều lệ của

tổ chức này cũng khẳng định: “Xây dựng nền cộng hoà dân chủ trực tiếp” [38, tr.580], lấy ba nguyên tắc “tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản Pháp làm khẩu hiệu cho mình Tuy mục tiêu hướng về chính thể dân quốc theo mô hình Trung Hoa dân quốc của Tôn Trung Sơn song Việt Nam Quốc dân đảng lúng túng trong việc xác định một chủ nghĩa, khẳng định lập trường chính trị của mình, Việt Nam Quốc dân đảng lúc thì khẳng định lý tưởng của cách mạng Pháp, lúc lại “bưng” toàn bộ chủ nghĩa Tam Dân vào đảng Hồ Chí Minh sau này đã đặt câu hỏi về Việt Nam Quốc dân đảng:

Muốn một nước cộng hoà nhưng là thứ cộng hoà nào? Sẽ cai trị quốc gia như thế nào? Với phương pháp gì người ta sẽ xây dựng lại kinh tế quốc gia? Làm thế nào để nâng cao mức sống của những tầng lớp lao động, thợ thuyền, nông dân và trí thức? Về những điều này, Việt Nam Quốc dân đảng chưa có chương trình

rõ rệt (Theo Trần Dân Tiên (1975), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Văn học, Hà Nội, tr.73)

Thực tế, Việt Nam Quốc dân đảng đã đứng trên lập trường của GCTS để giải quyết vấn đề dân tộc, nước cộng hoà trong mong muốn của Việt Nam Quốc dân đảng chính là cộng hoà tư

Trang 14

sản Theo tác giả Nguyễn Văn Khánh trong công trình chuyên khảo về Việt Nam Quốc dân đảng đã khẳng định: “mục đích cuối cùng của Việt Nam Quốc dân đảng là dùng bạo lực đánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp để giành độc lập, thành lập chính phủ cộng hoà, thực hiện quyền tự do dân chủ và mở đường cho CNTB phát triển ở Việt Nam” [68, tr.81] Tuy nhiên do không có chủ nghĩa xác định, không quan tâm đến lý luận, tư tưởng, không chú

ý đến tuyên truyền, huấn luyện, cách làm thì khá phiêu lưu, mạo hiểm, chưa nhìn thấy vai trò to lớn của nhân dân… nên phong trào hoạt động chính trị của Việt Nam Quốc dân đảng theo khuynh hướng tư sản cũng đã thất bại

Lịch sử đã chứng minh, khuynh hướng chính trị chống thực dân Pháp cứu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản không có tiền đề

về nhiều mặt để có thể giành thắng lợi ở nước ta Muốn thực hiện con đường cách mạng tư sản và xây dựng xã hội TBCN thì tất yếu phải có cơ sở xã hội là một GCTS đủ sức mạnh về nhiều mặt Ở nước ta đầu thế kỷ XX, theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu “tư tưởng tư sản không có GCTS” [38, tr.121] nên tư tưởng này không

có chân đế, không có bệ đỡ xã hội để thâm nhập vào cuộc sống và chuyển thành một chế độ xã hội mang tính hiện thực Một thực tế

là ở nước ta, lực lượng tiếp nhận và hoạt động chính trị theo tư tưởng tư sản phương Tây thời kỳ đầu là những nhà nho cấp tiến, thời kỳ sau là những trí thức Tây học chứ không phải những người đại diện cho GCTS dân tộc nên khuynh hướng chính trị này tuy hướng tới chống thực dân giành độc lập dân tộc nhưng cũng không thể thắng lợi

GCTS Việt Nam xuất hiện như là hệ quả của chính sách cai trị

về kinh tế của thực dân Pháp GCTS Việt Nam gồm hai bộ phận là

tư sản mại bản và tư sản dân tộc thì: “Tư sản mại bản, thà chịu kinh

tế nước nhà phụ thuộc vào đế quốc chứ không muốn giải phóng nông dân, không muốn công nghệ nước ta được phát triển” [100, tr.208] Như vậy, lực lượng tư sản mại bản không những không lãnh đạo được cách mạng mà còn là đối tượng của cách mạng Còn tư sản dân tộc dù có tinh thần chống đế quốc vì bị đế quốc

Trang 15

ngăn trở nhưng họ là bộ phận của giai cấp bóc lột nên họ cũng sợ giai cấp bị bóc lột nổi lên đấu tranh Về mặt kinh tế, tư sản dân tộc lại có dính líu ít nhiều với địa chủ phong kiến nên bộ phận này vừa muốn cách mạng, vừa muốn thoả hiệp

Tư sản Việt Nam phần lớn là tư sản thương nghiệp chứ không phải tư sản công nghiệp, không có thế lực kinh tế, phụ thuộc vào tư sản nước ngoài Sinh ra ở một nước thuộc địa “không

có nền kinh doanh lớn về thương nghiệp hay công nghiệp” [105, tr.64] GCTS Việt Nam nhỏ yếu về kinh tế, bạc nhược về chính trị, thoả hiệp với đế quốc để mưu sự sống còn nên đã không đủ sức làm trụ cột cho một chế độ TBCN ở Việt Nam sau ngày độc lập Mặt khác, tư sản Việt Nam lại ra đời muộn so với GCCN Khi tư sản Việt Nam ra đời thì công nhân Việt Nam đã từng bước khẳng định được ưu thế về chính trị và tinh thần của mình trong vai trò một lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

Ngày mai bắt đầu từ hôm nay Và theo logic đó, hôm nay có khởi nguồn từ hôm qua Xem xét trường hợp Việt Nam và Ấn Độ,

có thể nhận thấy sự khác biệt rõ nét Sự cai trị của thực dân Anh với thuộc địa Ấn Độ khác với sự cai trị của Pháp với thuộc địa Việt Nam Điều này đã tạo ra những cơ sở xã hội hết sức khác nhau cho con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và sự phát triển của

Ấn Độ, Việt Nam sau ngày độc lập Nếu như thực dân Anh cai trị

Ấn Độ theo lối đầu tư tư bản để phát triển một cách chủ định phương thức sản xuất TBCN ở nước này, thì “nước mẹ Pháp” lại không muốn “đứa con yêu” Việt Nam phát triển theo con đường tiến bộ Chúng muốn kìm kẹp Việt Nam trong phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu để dễ bề cai trị, hạn chế sự ra đời của phương thức sản xuất TBCN ở Việt Nam Cách cai trị thuộc địa của Anh cho phép ra đời ở Ấn Độ một GCTS bản xứ đủ sức mạnh kinh tế, uy thế chính trị để dẫn dắt Ấn Độ sau ngày độc lập đi lên theo con đường TBCN Còn với cách cai trị của Pháp cản trở sự ra đời của một GCTS bản xứ đủ sức mạnh về mọi mặt để dẫn dắt dân tộc phát triển theo con đường TBCN

Trang 16

Dù không thành công trên hiện thực song trong điều kiện lịch

sử cụ thể của Việt Nam đầu thế kỷ XX, phong trào chính trị theo khuynh hướng tư tưởng dân chủ tư sản vẫn là một phong trào có nhiều yếu tố tiến bộ Nó mở ra một cách nhìn, một hướng tư duy cho những người yêu nước Việt Nam để từ đó có thể hướng tới những chân trời mới tươi sáng hơn

Như vậy, có thể thấy, việc tìm tòi, hướng dẫn và tổ chức hoạt động của các trào lưu chính trị khác nhau nhằm đích chung là giải bài toán độc lập của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX diễn

ra rất sôi động Quân chủ hay dân chủ, quân chủ chuyên chế hay quân chủ lập hiến, dân chủ kiểu Nhật hay kiểu Pháp… tựu trung

có thể thấy các con đường này xoay quanh việc tìm kiếm một kiểu nhà nước gắn với một hình thức nhà nước phù hợp với Việt Nam

“Sự tìm tòi thể nghiệm có thể đạt đến thành công, có thể thất bại, song lại tạo tiền đề cho sự hình thành cái mới, cái phù hợp hơn với tiến trình vận động của lịch sử” [145, tr.152] Con đường cách mạng vô sản của Hồ Chí Minh gắn với kiểu nhà nước XHCN mà lịch sử Việt Nam đã tiếp nhận và từng bước hiện thực hoá ở nước

ta là một sự tiếp nối hợp quy luật sau hàng loạt những phương sách, con đường cứu nước khác nhau thất bại Đúng như lời nhận xét của tiến sĩ Unselt Jorgen: “Nếu không có những kinh nghiệm của Phan Bội Châu thì cũng không thể có sự thành công của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là một sự kế thừa biện chứng” [159, tr.275] Chính những người yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, bằng những gợi mở sâu sắc trong tư tưởng yêu nước gắn với các phong trào chính trị có thiên hướng dân chủ, đã báo trước bước ngoặt cách mạng của tư tưởng Việt Nam gắn với phong trào chính trị theo khuynh hướng vô sản mà Nguyễn Ái Quốc là thủ lĩnh

3.1.3 Khuynh hướng lựa chọn kiểu nhà nước XHCN đầu thế kỷ XX

Dưới góc nhìn chính trị học, có thể thấy: Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước thực chất Người nghiên cứu các kiểu nhà nước trên thế giới, các hình thức nhà nước trên thế giới và tìm một kiểu nhà nước, một hình thức nhà nước phù hợp nhất với Việt Nam

Trang 17

a Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm một con đường giải phóng dân tộc gắn với tìm kiếm kiểu nhà nước cho Việt Nam

Trong quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, Người đã quan tâm nghiên cứu nhiều kiểu nhà nước đang tồn tại trên thế giới: đó là kiểu nhà nước tư sản ở thuộc địa, kiểu nhà nước tư sản ở chính quốc và kiểu nhà nước mới đó là kiểu nhà nước XHCN ở nước Nga Xô viết

Trước hết là nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Ái Quốc về một hình thức đặc biệt của kiểu nhà nước của giai cấp tư sản tồn tại ở thuộc địa Việt Nam dưới hình thức chế độ thực dân phong kiến

Các khuynh hướng cứu nước gắn với việc tìm kiếm các mô hình nhà nước khác nhau của những người Việt Nam yêu nước đã

tỏ rõ lập trường chung của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, của

cả dân tộc Việt Nam với chế độ thực dân phong kiến mà thực dân Pháp thiết lập ở nước ta Đó là một thái độ căm phẫn, lên án và mong muốn thay thế chế độ chính trị này bằng một chế độ chính trị tốt đẹp hơn Thái độ của Nguyễn Ái Quốc với chế độ chính trị thực dân phong kiến góp thêm một tiếng nói cho việc lên án và thủ tiêu chế độ chính trị tàn bạo này Và Nguyễn Ái Quốc có thể coi là người Việt Nam đầu tiên đã có “công trình” nghiên cứu để vạch tội và tuyên án CNTD một cách mạnh mẽ, kiên quyết, đầy sức thuyết phục đến như vậy Người viết Bản án chế độ thực dân Pháp như lời tuyên chiến với CNTD Và không chỉ tuyên án, Nguyễn Ái Quốc còn là người bằng những hoạt động chính trị không mệt mỏi của mình đã thực hiện bản án đó đến cùng

Xem xét, đánh giá một chế độ chính trị có nhiều cách Một trong những cách đó là xem xét kẻ cai trị cùng bộ máy chính quyền của chúng, người bị cai trị và sự phát triển chung của xã hội dưới sự cai trị chính trị đó

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra khi bước chân của quân xâm lược đã giày xéo lên đất nước ta gần 1/3 thế kỷ Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, bản thân Người cảm nhận sâu sắc sự tàn bạo phi nhân tính của CNTD trên quê hương Việt

Trang 18

Nam đầy đau khổ của Người cũng như tất cả các thuộc địa khác trên thế giới

Về diện mạo của xã hội thuộc địa và thân phận những người dân thuộc địa dưới chế độ chính trị thực dân, Nguyễn Ái Quốc đã khái quát năm 1919: “Từ khi bị Pháp chiếm, đất nước chúng tôi hầu như luôn luôn sống lay lắt ngày này qua ngày khác, không hề biết chính quyền muốn dẫn mình đi đến đâu” [96, tr.6] Và nửa thế kỷ sau khi đặt ách thống trị trên đất nước ta: “Thật đáng buồn thay khi thấy rằng sau 50 năm thống trị mà những người đại diện cho nước Cộng hoà Pháp ở Đông Dương vẫn cứ ngoan cố kìm chân người bản xứ trong vòng nô lệ, không cho họ hưởng một chút quyền tự do nào cũng như các quyền khác theo luật pháp” [96, tr.12] Một tình trạng vô vọng, bế tắc bao trùm tất cả dưới sự cai trị của CNTD

Trong chế độ này, người Việt Nam không còn tồn tại như những con người: “CNTB Pháp đã vào Đông Dương từ hơn nửa thế

kỷ nay, vì lợi ích của nó, nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi Từ đó, chúng tôi không những bị áp bức, bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm… người ta đã làm chết hàng nghìn người An Nam và tàn sát hàng nghìn người khác để bảo vệ những lợi ích không phải của chính họ” [96, tr.22,23] “Tính mạng của một con người An Nam bị rẻ rúng không đáng giá một trinh” Người An Nam bị coi là “hạng người thấp kém”, là “nô lệ”, là “những súc vật phải điều khiển bằng roi vọt”, là “lũ ròi bọ” mà chỉ có “ba-toong, súng ngắn, súng dài” mới “xứng đáng” với họ Họ bị bọn thực dân “róc thịt” mãi

Họ “phải è ra mà chịu công ơn bảo hộ của nước Pháp Riêng người nông dân An Nam lại càng phải è ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách nhục nhã hơn” [97, tr.82] “Annamít và Angiêriêng đâu phải là người! Đó là bọn “nhà quê” bẩn thỉu, bầy “bicốt” (con dê con) bẩn thỉu Cần quái gì phải có công lý đối với những giống ấy” [97, tr.90] Luôn luôn có sẵn “một kho đầy ắp những hình phạt” [97, tr.90] để giáng vào đầu những con người khốn khổ ấy

Trang 19

Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác và trắng trợn đến thế” [97, tr.112] Và “để dạy cho mọi người sống cho ra sống, người ta bắt đầu bằng việc giết họ đi đã” [92, tr.33] Mỗi thuộc địa, CNTD sử dụng những biện pháp tàn bạo khác nhau để cai trị, nhưng các thuộc địa đều giống nhau ở một điểm “Giữa An Nam với Công Gô, Máctiních hay Tân Đào, không hoàn toàn giống nhau chút nào, trừ sự cùng khổ” [96, tr.63]

Thực tế đó tại các thuộc địa, ngay cả người Pháp ở chính quốc cũng không thể phủ nhận Sau lời phát biểu tại Đại hội Toàn quốc lần thứ 18 Đảng xã hội Pháp của Nguyễn Ái Quốc, chủ tịch phiên họp Êminguđơ phải thừa nhận: “Qua những loạt

vỗ tay tán thành đại biểu Đông Dương, có thể thấy rằng toàn thể Đảng xã hội đều đứng về phía đồng chí để phản đối những tội ác của GCTS” [96, tr.24]

Những con người trong bộ máy chính quyền thực dân - “tinh hoa của các cặn bã” lượm lặt từ các nước châu Âu

Con người trong bộ máy chính quyền thực dân là sự dung nạp của tất cả những cặn bã từ chính quốc thải ra, từ viên chức bình thường cho đến nhân vật chóp bu là viên Toàn quyền

Về các quan cai trị thì: “Sang Bắc Kỳ, các ông Toàn quyền chỉ nhằm một mục đích là: tìm chỗ bổ dụng bạn bè, con cháu thân thuộc và bọn vận động bầu cử của những bậc thế quyền có thể làm chỗ dựa cho mình” [97, tr.55]; “Các viên Toàn quyền lớn, Toàn quyền bé được nước mẹ ký thác vận mệnh xứ Đông Dương, nói chung đều là bọn ngu xuẩn, bọn đểu cáng” [97, tr.84] Tất cả sự xa hoa, tráng lệ, thừa mứa trong cuộc sống của các quan cai trị thuộc địa đều dựa trên ngân sách được bòn rút từ những người bản xứ nghèo khổ, bị bần cùng hoá đến cùng cực “Quan Toàn quyền chưa vừa ý với những lâu đài tráng lệ mà ngài ở tại Sài Gòn và Hà Nội, còn phải cần thêm cho ngài một biệt thự ở bãi biển nữa Ngân sách Đông Dương lại phải “è lưng ra gánh” Tiền nhà cửa, bàn ghế, điện nước của các vị đó đều do công quỹ đài thọ cả Ngoài ra, những người đánh xe, lái xe, giữ ngựa, làm vườn, tóm lại, tất cả

Trang 20

những kẻ hầu người hạ của họ cũng đều do nhà nước trả tiền công” [97, tr.71, 72]

Còn các ngài viên chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa thì là “những tên ngu xuẩn tò mò ưa xoi mói” [92, tr.86] Dù trước khi sang Đông Dương họ xuất thân từ đâu (một anh hàng cháo, một anh giám thị trong các nhà trường) thì khi sang Đông Dương,

họ đều trở thành các “ông vua con”, sống một cuộc sống đế vương trên máu và nước mắt của người dân thuộc địa Những viên chức trong bộ máy này là những viên chức “ăn hại ngân sách mà thường chẳng được tích sự gì cả” Họ là “những nhân tố ăn bám

đè nặng lên lưng nhân dân lao động”[97, tr.54] Họ được “giao phó những quyền hạn rộng rãi và ghê gớm” trong khi “không đủ những tư cách cần thiết” [97, tr.71] tương xứng Họ “rất hiền từ đối với bọn côn đồ nhưng đối với dân hiền lành thì lại là chuyện khác” [97, tr.61] Một chính quyền được tạo nên từ những con người mà “so với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện” [97, tr.69] Ngay cả một tên lính thực dân cũng phải thốt ra trong cuốn nhật ký đi đường của mình rằng: “Quả thật, chúng tôi đã có tâm hồn thực dân” và

tự thừa nhận: “chúng ta còn độc ác, còn dã man hơn cả bọn kẻ cướp nhà nghề”[97, tr.63] khi tận mắt chứng kiến tất cả những tội

ác man rợ, khủng khiếp mà chính bọn chúng đã gây ra với đồng loại (những người bản xứ) Và một nhà văn chính quốc khi sang thăm Đông Dương đã viết: “Hình như họ (các quan bảo hộ người Pháp) chỉ làm những điều khiến cho sự có mặt của chúng ta trở thành một điều xấu xa bỉ ổi không ai chịu được” [97, tr.62]

Có thể thấy: Thuộc địa là một “thiên đường ở trần gian” cho các quan cai trị, nơi mà “cái gì người ta (người châu Âu ở Đông Dương) cũng được phép và có thể làm được” [97, tr.33] Nơi đây

“tất cả những ai có tí chút quyền hành trong tay cũng đều sử dụng

và lạm dụng quyền hành để thả cửa làm bậy vì họ biết chắc rằng

sẽ không bị tội vạ gì hết” [97, tr.57] Nơi đây, không có luật lệ và công lý mà chỉ có một thứ luật rừng được các “nhà khai hoá” sử dụng một cách phổ biến và thường xuyên “Chẳng có luật lệ nào

Trang 21

khác ngoài sự tuỳ tiện của bọn nhà đoan” [98, tr.75] Và “khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể làm những việc

dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất” [97, tr.56]

Tóm lại có thể tìm thấy trong chính quyền thuộc địa “tinh hoa của các cặn bã” lượm lặt ở tất cả các nước châu Âu Với một bộ máy được tạo nên từ những hạng người có tố chất xấu xa như vậy thì để bộ máy đó có thể tồn tại và hoạt động, nguyên tắc hoạt động của luật pháp và bộ máy chính quyền thuộc địa luôn là:

“bằng bất cứ giá nào nhất thiết phải giữ uy tín cho kẻ đi chinh phục” và “bảo vệ uy tín của chủng tộc thượng đẳng”

Bộ máy chính quyền thực dân - Một bộ máy cồng kềnh, quan liêu, tham nhũng

Đó là một bộ máy ăn bám khổng lồ Hãy làm một phép so sánh giản đơn: “Ở thuộc địa Anh, cứ 66.150 người dân thì có một viên chức người Âu, còn ở thuộc địa Pháp thì cứ 3.490 người dân

đã có một viên chức người Âu” [97, tr.55] Trong bộ máy đó tồn tại nhan nhản những “viên chức giữ những chức vụ vô dụng” và thậm chí còn “dốt đặc” nhưng vẫn được nhận những “đồng lương rất hậu” Đây còn điển hình là một bộ máy quan liêu Các viên thanh tra thuộc địa, hàng năm ngốn của ngân khố một số tiền khổng lồ cho công việc thanh tra “thế nhưng các ngài thanh tra thì không bao giờ rời khỏi Pari và đối với các thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn là hiểu biết ông Trăng già” [97, tr.69]

Đó còn là một bộ máy vô trách nhiệm và vô cảm khi sử dụng những đồng tiền ngân sách một cách phung phí, tuỳ tiện và bừa bãi: “Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên rồ khác đã phung phí đồng tiền mà người dân An Nam khốn khổ đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được” [97, tr.68] Một bộ máy hoạt động một cách tuỳ tiện, không tuân theo một nguyên tắc nào: “Khi cần tiền, nhà nước bảo hộ Pháp chỉ có việc thay đổi hạng ruộng Chỉ một nét bút thần kì là họ biến một đám ruộng xấu thành ruộng tốt” [97, tr.83] Bộ máy nhà nước thực dân tồn tại và hoạt động không phải để thực hiện những việc công ích mà chỉ để thực hiện sự cai

Trang 22

trị chính trị nhằm vơ vét đầy túi tham cho những kẻ cai trị Đúng

là một bộ máy “cướp giật được hợp pháp hoá”:

Một số phiên họp của Hội đồng Quản hạt chỉ là để bàn việc cướp giật công quỹ một cách có phương pháp Kho bạc có vơi đi chút ít thì đã có những quý quan làm cho nó đầy lại một cách nhanh chóng Với quyền hành sẵn có, họ sức cho dân bản xứ biết nhà nước cần một khoản tiền bao nhiêu đó, rồi họ phân bổ cho các làng phải đóng góp Và các làng lo vội vàng tuân lệnh để khỏi bị trừng phạt ngay lập tức [97, tr.70]

Bọn thực dân với quyền lực trong tay ngày càng phè phỡn trên máu và nước mắt của những người bản xứ: “Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài là phung phí công quỹ, còn người An Nam khốn khổ thì cứ nai lưng đóng góp, đóng góp mãi” [97, tr.71] Tệ tham nhũng đã bòn rút gần như sạch trơn ngân sách chính quyền:

“Trong số 12 triệu đồng của ngân sách Nam Kỳ, thì 10 triệu đồng

đã tìm cách chui sâu vào túi các ngài viên chức rồi” [97, tr.99]

Và hành động của bộ máy chính quyền ấy cũng thật quái đản

Ví như, để giải quyết nạn đói, chính phủ bắt giam một số đông người đói Và để cho bọn người đói đừng coi nhà tù là nơi cứu tế, người ta không cho họ ăn gì hết cho đến chết!

Chế độ thuộc địa, chính quyền thuộc địa đã thực thi một chính sách ngu dân triệt để hòng “làm cho dân ngu để dễ trị” Nơi đây “ngay cả cái quyền sơ đẳng là viết thư cho nhau, họ (người bản xứ) cũng không được hưởng Sự vi phạm tự do cá nhân ấy lại ghi thêm một thành tích cho cái chế độ lạm quyền, cái chế độ mật thám bỉ ổi đương hoành hành ở các thuộc địa” [97, tr.100]

Từ việc tố cáo tội ác kinh tởm của CNTD khắp nơi trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc kết luận rằng: “Thế giới sẽ chỉ có nền hoà bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau cùng tiêu diệt con quái vật CNĐQ ở khắp mọi nơi mà họ gặp nó”[96, tr.11] Kết luận này chính là sự phủ nhận của Nguyễn Ái Quốc với chính trị thực dân - phong kiến - một hình thức đặc biệt

Trang 23

của nhà nước của giai cấp tư sản đã bị thực dân hoá ở các thuộc địa của CNTB

Trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chính trị thực dân - phong kiến sẽ phải được xoá bỏ ở Việt Nam và phải được thay thế bằng một chế độ chính trị phù hợp với sự phát triển tiến bộ của xã hội Tuy nhiên, thay thế chính trị thực dân - phong kiến bằng nền chính trị nào thì lúc đó bản thân Người chưa tìm ra câu trả lời

Tiếp theo là nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Ái Quốc về kiểu nhà nước tư sản tồn tại ở các nước tư bản phát triển dưới hình thức chế độ dân chủ tư sản ở Mỹ, Pháp

Bản chất của một chế độ chính trị thể hiện rõ nhất ở chỗ nó đại diện cho lợi ích của ai, phục vụ cho ai Trong quá trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm cho dân tộc một con đường sống, nghiên cứu xã hội tư bản và các cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới như cách mạng Anh, Pháp, Mỹ, Hồ Chí Minh nhận thấy nhiều điều nghịch lý

Sự tương phản giữa những khẩu hiệu mỹ miều trên lá cờ của cách mạng tư sản Pháp mà Nguyễn Ái Quốc được nghe thấy từ khi học trường Quốc học Huế với sự dã man, tàn bạo của thực dân Pháp trên quê hương đau khổ của Người đã thôi thúc Người đến nước Pháp để khám phá những gì thực sự ẩn giấu đằng sau cái gọi là “tự do - bình đẳng - bác ái” Đến Pháp, Người có dịp nghiên cứu bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của cách mạng Pháp 1789 Trong thời kỳ mà nền chuyên chế phong kiến đang thống trị thế giới, mọi quyền con người bị tước đoạt, bản tuyên ngôn là một văn kiện chính trị, pháp lý tiến bộ khi nó khẳng định quyền tự do, bình đẳng, quyền chống áp bức của con người Nhà nước đảm bảo quyền tự do có nghĩa là mọi người có thể làm tất cả những gì không gây hại cho người khác và không

bị pháp luật nghiêm cấm Quyền lực tối cao của nhà nước thuộc

về nhân dân Luật pháp phải biểu hiện ý chí của tất cả các thành viên trong xã hội

Trang 24

Tuy tuyên ngôn Pháp khẳng định quyền bình đẳng của con người nhưng tại Đông Dương thuộc Pháp thì không như vậy: “Giá

mà mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, như người ta thường nói, thì tuổi thọ của ông Xarô, toàn quyền Đông Dương, phải dài ghê lắm mới đủ để cho ông ngồi hết hạn tù” [97, tr.95] Sau cách mạng tư sản, GCTS Pháp nhiều lần thiết lập nhà nước quân chủ nghị viện nhưng trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng nhân dân, chúng đã không thực hiện được Tuy nhà nước vẫn mang hình thức cộng hoà nghị viện nhưng nhà nước tư sản Pháp ngày càng lao vào con đường độc tài, phản động Nghiên cứu lịch sử cách mạng Pháp, khi tư sản Pháp câu kết với tư sản Đức chống lại cách mạng, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “Tư bản không có Tổ quốc” [97, tr.274] Kết luận này giúp Người nhận thức rõ hơn bản chất quốc tế của CNĐQ và nhà nước tư sản ở các nước Âu Mỹ Lịch sử cách mạng Pháp cũng cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc những thông tin quý báu về một loại hình chính phủ của nhân dân, đó chính là công xã Pari Mô hình một chính phủ “Tự dân cử lên và dân có quyền thay đổi chính phủ”, “dân có quyền tự do tổ chức, làm báo, khai hội, xuất dương ”, “bất kì đàn ông, đàn bà, ai cũng được quyền chính trị, tuyển cử và ứng cử” [97, tr.273] Nguyễn Ái Quốc

đã tiếp thu những giá trị chân chính, những yếu tố nhân văn, tiến

bộ của cách mạng dân chủ tư sản, của chính trị tư sản nhưng người cũng đã bước đầu nhận ra những hạn chế của nó

Đến Mỹ, Người nghiên cứu bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ của cách mạng Mỹ 1776 Tuyên ngôn khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng họ được Chúa ban phú cho những quyền nhất định không thể chối cãi được, rằng trong số các quyền này có quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc” [63, tr.82] Tuyên ngôn cũng khẳng định cuộc đấu tranh vì nền độc lập của nước Mỹ đồng thời cũng là cuộc đấu tranh vì một chính phủ dựa trên sự đồng thuận của nhân dân thay thế cho một chính phủ được điều hành bởi một ông Vua Chính phủ mới được thiết lập

để bảo vệ tự do, hạnh phúc của nhân dân

Trang 25

Các chính phủ được thiết lập trong cộng đồng con người Các chính phủ ấy tiếp nhận mọi sức sống từ sự chấp thuận của những người bị cai trị Bất cứ lúc nào mà lực lượng cai trị trở nên lực lượng phá hoại mọi kết quả đó thì nhân dân có quyền thay đổi hay bãi bỏ chính phủ đó Sau đó thành lập một chính phủ mới bằng cách đặt cơ sở của chính phủ ấy trên những nguyên tắc như vậy Và bằng cách tổ chức mọi lực lượng của chính phủ theo hình thức mà theo họ sẽ là phù hợp nhất để thực thi được an ninh và hạnh phúc của họ[63, tr.82]

Điều đó nghĩa là “hễ chính phủ nào có hại cho dân chúng thì dân chúng phải đập đổ chính phủ đó đi và gây nên chính phủ khác” [97, tr.270] Tuyên ngôn thì đẹp đẽ, song những gì diễn ra trên hiện thực nước Mỹ thì trái lại Tuyên ngôn khẳng định rõ quyền đập đổ chính phủ nếu chính phủ ấy làm hại dân nhưng

“bây giờ chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh,

ai động đến chính phủ Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai [97, tr.270] Người phát hiện ra rằng: tượng Thần Tự Do tay nâng bó đuốc rực rỡ, đầu toả ánh hào quang biểu trưng cho khát vọng tự do toả ra khắp thế giới nhưng chân đạp lên đầu những người da đen Và câu hỏi lớn như một sự trăn trở

về thân phận con người rằng: ánh sáng tự do trên đầu tượng toả

ra khắp năm châu bốn bể, nhưng biết tới khi nào, ánh sáng ấy toả tới nơi gần nhất là chân bức tượng để giải phóng cho những người

nô lệ da đen? Người sớm nhìn thấy những sự đối nghịch trong xã hội TBCN: Khi tượng Thần Tự Do, dù biểu tượng đẹp đẽ như vậy, cũng chỉ là một bức tượng vô tri vô giác, còn nỗi thống khổ của những tù nhân lúc nhúc như ròi bọ trên đảo Ailit Ailan, cách tượng Thần Tự Do không xa kia là hoàn toàn có thật GCTS Mỹ ngày càng chà đạp trắng trợn các nguyên tắc cơ bản của tuyên ngôn Chúng đã thiết lập một chính quyền trung ương mạnh với quyền hạn tập trung cho các cơ quan nhà nước liên bang nhằm tập trung lực lượng để có điều kiện đàn áp có hiệu quả phong trào đấu tranh của GCCN và nhân dân lao động trong nước Hệ thống

Trang 26

chính trị Mỹ với thủ đoạn cầm quyền thông qua hai đảng của GCTS nhằm lừa bịp nhân dân lao động là hai đảng ấy đối lập nhau, đó là sự dân chủ trong nhà nước Mỹ nhưng thực chất hai đảng đó chỉ là hai cánh tay của CNTB thay nhau nắm giữ chính quyền nhà nước Đúng như Ăngghen viết: “Ở đây lại có bầy lũ lớn những nhà chính trị đầu cơ thay nhau nắm giữ chính quyền nhà nước và lợi dụng chính quyền đó với những phương pháp vô liêm

sỉ và cả nước đều bất lực trước những tên lớn đó gồm những nhà chính trị vốn mạo xưng vì cả nước mà phục vụ nhưng thực ra lại thống trị và cướp bóc nó”[91, tr.771, 772]

Cuối cùng, băn khoăn của Nguyễn Ái Quốc khi tận mắt chứng kiến những phụ nữ Pháp nghèo khổ lao động cực nhọc dưới cảng Mácxây: “Tại sao người Pháp không đi khai hoá cho chính họ trước khi khai hoá chúng ta?” đã có câu trả lời Theo Người, nguyên nhân của tất cả những nghịch lý trên tựu trung lại

là vì:

Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã bốn lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới thoát khỏi vòng áp bức [97, tr.247]

Từ nghiên cứu thực tiễn các nước TBCN và lý luận của các cuộc cách mạng tư sản nổi tiếng thế giới, nhìn rõ những hạn chế của cách mạng tư sản và bản chất xã hội tư bản đằng sau vẻ ngoài

xa hoa, hào nhoáng, Người rút ra kết luận: Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường ấy - con đường cách mạng tư sản Và kết luận này một lần nữa khẳng định chính trị tư sản, kiểu nhà nước tư sản không thể là chính trị tương lai của Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc cũng đã từng biết đến Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và mô hình nhà nước Trung Hoa dân quốc mà chủ nghĩa này hướng tới xây dựng Và dù nhận thấy chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là “chính sách của nó phù hợp với nước ta”, song

Trang 27

mô hình nhà nước theo kiểu Trung Hoa dân quốc - một kiểu nhà nước dân chủ tư sản - cũng không phải sự lựa chọn của Người Cuối cùng là nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Ái Quốc về kiểu nhà nước XHCN trong mô hình nhà nước Xô viết ở Nga

Vậy, không đi theo con đường cách mạng tư sản, mô hình nhà nước theo kiểu nhà nước tư sản không phải sự lựa chọn của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Việt Nam sẽ đi theo con đường nào gắn với một kiểu nhà nước như thế nào?

Với ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [99, tr161], Nguyễn Ái Quốc tâm niệm: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cho cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” [97, tr.270]

Người đã tìm thấy câu trả lời cho bài toán độc lập của Việt Nam khi biết tới Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga Sau nhiều trải nghiệm thực tế, Nguyễn Ái Quốc thấm thía và cảm nhận sâu sắc hơn bản chất dối trá, giả nhân giả nghĩa của chế độ dân chủ tư sản mà luận cương của Lênin đã chỉ ra Cái mà GCTS cũng như chế độ dân chủ tư sản gọi là “bình đẳng” thực chất chỉ là bình đẳng hình thức, bình đẳng cho những kẻ hữu sản Luận cương cũng chỉ rõ một thực tế là “tuyệt đại đa số nhân dân trên trái đất bị một thiểu số những nước tư bản tiên tiến rất mực giàu có nô dịch… Sự nô dịch này là đặc điểm của thời đại tư bản tài chính và CNĐQ” [84, tr.199]

Hướng tới một mô hình chính trị mới trước hết nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc nên Nguyễn Ái Quốc dành nhiều sự quan tâm đến những luận điểm của Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa Đặc biệt ở các dân tộc trong đó những quan hệ có tính chất phong kiến hoặc gia trưởng nông dân đang chiếm ưu thế

Trang 28

như Việt Nam Trong khi trên thế giới người ta bàn nhiều tới cách mạng vô sản ở chính quốc mà lãng quên hoặc nhận thức chưa đúng đắn về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa thì Người phát hiện ra chính Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn và của Quốc tế Thanh niên Cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu Lênin chỉ rõ không chỉ chống bọn địa chủ và chế

độ phong kiến mà còn phải chống cả giai cấp tư sản đã bị đế quốc hoá và chế độ TBCN

Từ những luận điểm đầy ý nghĩa về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, Luận cương còn chỉ ra mô hình nhà nước tương lai có khả năng tạo sức mạnh để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người là phải lập nên các Xô viết của những người lao động Đó là mô hình mà “Chính phủ công nông binh phát ruộng đất cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và ĐQCN nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng” [97, tr.280] Tiếng vang của Lênin và Cách mạng tháng Mười đã đến tận những vùng xa xăm của thế giới và Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ

“người ưu tú nhất của nước đó” cũng như “một dân tộc ở miền Bắc xa xôi” vì họ “đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình” [97, tr.208] Như vậy, khát vọng của Nguyễn Ái Quốc về một trạng thái xã hội trong đó không còn áp bức dân tộc qua trải nghiệm thực tiễn đã được bổ sung thêm bởi một tiêu chí quan trọng cho một mô hình nhà nước sẽ được xác lập trong tương lai

đó là: một mô hình trong đó người dân tự quản lý lấy mình Gặp được tư tưởng của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm được sự đồng cảm lớn lao, tìm được người tri kỷ Và lệ Bác Hồ đã rơi trên chữ Lênin Đặc biệt, khi nhận thấy sự khác biệt cơ bản giữa cuộc Cách mạng tháng Mười do Lênin lãnh đạo với các cuộc cách mạng tư sản trước đây, Người khẳng định:

Trang 29

Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải thứ tự do, bình đẳng giả dối như ĐQCN Pháp khoe khoang bên An Nam Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả ĐQCN và tư bản trong thế giới [97, tr.280]

Khác với tất cả các cuộc cách mạng tư sản, Cách mạng tháng Mười đã giải quyết được mục tiêu kép: giành được độc lập cho dân tộc đồng thời đem tới ấm no, hạnh phúc cho đông đảo nhân dân lao động Nếu chỉ dừng lại ở độc lập dân tộc như các cuộc cách mạng tư sản mà công - nông vẫn cực khổ thì đó là cách mạng nửa vời, không đến nơi, không triệt để Từ sự thấu hiểu tư tưởng của Lênin và Cách mạng tháng Mười vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra cho cách mạng Việt Nam một con đường: con đường dẫn tới “một tương lai mới, xán lạn”, con đường gắn độc lập của nước nhà với hạnh phúc của đông đảo những người lao động, một con đường thực sự “có nghĩa lý” Con đường đó là con đường đi theo Cách mạng tháng Mười, theo tư tưởng của Lênin và Đệ tam Quốc tế: “An Nam muốn cách mệnh thành công thì tất phải nhờ Đệ tam Quốc tế” [97, tr.287] Cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi, không thể

đi theo con đường nào khác con đường cách mạng vô sản Kết luận này

là sự gián tiếp phủ nhận kiểu nhà nước phong kiến cũng như kiểu nhà nước tư sản và khẳng định kiểu nhà nước sẽ được lựa chọn cho cách mạng Việt Nam hướng tới là kiểu nhà nước XHCN

b Các yếu tố đảm bảo tính khả thi của con đường giải phóng dân tộc gắn với kiểu nhà nước mới ở Việt Nam

Một sự lựa chọn chỉ có thể được hiện thực hoá trong những điều kiện nhất định Điều kiện đó là một môi trường gồm các yếu

tố mang tính tiền đề hoặc cơ sở đảm bảo cho sự lựa chọn đó được thực hiện Con đường giải phóng Nguyễn Ái Quốc tìm thấy cho dân tộc sở dĩ có tính khả thi vì nó có đủ những yếu tố như vậy

Trang 30

Trước hết, về khả năng thích ứng của CNCS ở Việt Nam - một nước châu Á, phương Đông, Nguyễn Ái Quốc đã từng trăn trở: Một con đường cứu nước gắn với một hệ tư tưởng nguồn gốc phương Tây liệu có thể thực hiện thành công ở Việt Nam, một nước phương Đông?

Sau khi tìm thấy con đường cứu nước cho Việt Nam, bản thân Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng đã nhìn thấy khả năng thích ứng của CNCS ở châu Á, thậm chí Người còn khẳng định CNCS thích ứng ở châu Á dễ hơn châu Âu Trong khi, theo cách nhìn của Lênin thì CNCS hiện thời chỉ có thể thắng lợi ở phương Tây nhưng sau này với sự giúp đỡ của các nước, CNCS sẽ lan sang châu Á Hồ Chí Minh ngưỡng mộ Lênin, song Người luôn khẳng định một tư duy độc lập đầy tính sáng tạo, không rập khuôn, máy móc Sau này, khi nghiên cứu lịch sử, văn hoá Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện khi luận giải cho câu hỏi: Chủ nghĩa Mác, lý luận về CNCS - một học thuyết phương Tây có khả năng vận dụng vào phương Đông, ông cũng phát hiện ra câu trả lời tương đồng với nhận định của Hồ Chí Minh từ những năm đầu thế kỷ XX? Trước hết ông cho rằng: “Chủ nghĩa Mác đến Việt Nam không phải là một học thuyết như các học thuyết khác, mà như một công cụ giải phóng… Nó kế tục Nho giáo để đem lại cho đất nước một học thuyết chính trị và xã hội, giúp cho nó giải quyết những vấn đề thực tiễn” [190, tr.42] Ông cũng cho rằng một đất nước Nho giáo như Việt Nam hấp thụ chủ nghĩa Mác dễ hơn một nước Hồi giáo hay Thiên Chúa giáo Vì Nho giáo và chủ nghĩa Mác có những nét tương đồng, đều “hướng tư tưởng con người vào những việc của đời” [190, tr.43] chứ không hướng người ta vào thế giới bên kia, đều “học tập, phục vụ xã hội chứ không phải làm phép” [190, tr.43] Vì vậy, “ở đây (ở Việt Nam), chủ nghĩa Mác không gặp khó khăn như khi du nhập vào những xã hội Hồi giáo hay Thiên Chúa giáo” [190, tr.43]

Nền chính trị mới được xác lập ở Việt Nam thay thế chính trị thực dân - phong kiến là kết quả tất yếu của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản mà Nguyễn

Trang 31

Ái Quốc tìm thấy cho dân tộc Vậy, tính khả thi của con đường giải phóng dân tộc gắn với nền chính trị mới được đặt trên những

cơ sở, tiền đề quốc tế, trong nước nào?

b1 Các yếu tố quốc tế

Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh gắn với một kiểu nhà nước mới ở Việt Nam sở dĩ là một con đường có tính hiện thực trước hết vì nó phù hợp với những điều kiện quốc tế lúc bấy giờ Đầu tiên không thể không đề cập đến là sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 Cuộc cách mạng xoá bỏ chế độ Nga Hoàng, xoá bỏ ách áp bức bóc lột TBCN đã có ý nghĩa trọng đại với số phận của hàng triệu, hàng triệu con người trên thế giới đang sống trong cảnh bị áp bức, bóc lột Cách mạng tháng Mười

mở ra “thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng GCTS, tới chỗ thành lập chuyên chính

vô sản” [187, tr.382] Cách mạng tháng Mười thành công đã thiết lập một hình thức chính quyền thể hiện bản chất là một chính quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Tiếp theo là sự thành lập Quốc tế Cộng sản năm 1919 Ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Quốc tế III như Lênin khẳng định là đã thực hiện khẩu hiệu thành lập “chuyên chính vô sản”, hướng tới một chế độ chính trị của dân, do dân và vì dân Với sự xuất hiện của tổ chức Quốc tế III và hoạt động tích cực của những người cộng sản Việt Nam trong đó nổi bật là Nguyễn Ái Quốc, cách mạng Việt Nam được nhân lên sức mạnh từ sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới

Một sự kiện có ảnh hưởng lớn tới con đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc lựa chọn cho dân tộc là sự ra đời của hàng loạt các đảng cộng sản trên thế giới, đặc biệt Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Trung Quốc

Trang 32

Những năm đầu của thế kỷ XX, như là kết quả tất yếu của sự phát triển phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, hàng loạt các Đảng Cộng sản trên thế giới đã ra đời ở các nước tư bản phương Tây và các nước thuộc địa, phụ thuộc Đặc biệt sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Pháp đã có ý nghĩa thiết thực với sự vận động của phong trào cách mạng Việt Nam theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển “Đảng Cộng sản Pháp, ngoài việc tổ chức xuất bản còn tìm cách đưa các tài liệu mác xít vào Việt Nam theo những chuyến tàu, trên đường hàng hải Pháp - Việt Nam… Đảng Cộng sản Pháp được uỷ nhiệm việc chỉ huy phong trào ở các thuộc địa Pháp” [187, tr.393, 394] Mặt khác, phong trào đấu tranh của GCCN và nhân dân lao động Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp chống lại chính phủ thực dân Pháp tại chính quốc làm suy yếu chính phủ này cũng tạo thêm cơ hội thành công cho cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương, nhân dân Việt Nam chống CNTD Pháp

Sự xuất hiện của đảng cộng sản tại nước láng giềng phương Bắc năm 1921 cũng là một mối đe doạ với CNTD Pháp ở Việt Nam

và cộng hưởng sức mạnh cho cách mạng Việt Nam

Nhờ Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người cách mạng Việt Nam đã tiếp thu ảnh hưởng đầy sức sống của Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác- Lênin [103, tr.570]

Cuối cùng, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai với thắng lợi thuộc về phe đồng minh, thất bại thuộc về phe phát xít đã góp phần tạo tình thế cách mạng trực tiếp cho một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi ở Việt Nam mùa thu 1945 thiết lập nên chế độ dân chủ cộng hoà

b2 Các yếu tố trong nước

Bên cạnh các yếu tố quốc tế, các yếu tố trong nước đã góp phần trực tiếp làm cho con đường cứu nước Hồ Chí Minh có tính khả thi ở Việt Nam Các yếu tố này có thể là các tiền đề có sẵn

Trang 33

hoặc các cơ sở đang được tạo ra Thực dân Pháp trong khi tạo ra các cơ sở cho sự tồn tại của nền chính trị thực dân - phong kiến đã

vô tình tạo ra những yếu tố mang tính tiền đề cho một nền chính trị mới tiến bộ hơn thay thế chính trị thực dân - phong kiến Cùng với

nó, những hoạt động chính trị tích cực của Nguyễn Ái Quốc cùng những đồng chí của Người cũng đã tạo ra các cơ sở cho việc hiện thực hoá con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam

Một là tiền đề xã hội

Cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi, không thể đi theo con đường nào khác con đường cách mạng vô sản Phát hiện đó của Nguyễn Ái Quốc đã hoàn toàn có cơ sở xã hội để thực hiện tại nước ta

Sự cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam, đặc biệt hai cuộc khai thác thuộc địa đã sản sinh ra một lực lượng xã hội chưa từng

có trong xã hội Việt Nam là GCCN Trong khi các tầng lớp, giai cấp xã hội khác ở Việt Nam lúc bấy giờ đều không đủ sức mạnh lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi thì chính địa vị kinh tế, vị trí, vai trò và thái độ chính trị của GCCN Việt Nam đã chi phối sự phát triển của cách mạng Việt Nam, quy định con đường phát triển của dân tộc Việt Nam

Với giai cấp nông dân, lực lượng chiếm đa số trong dân cư thì: “Trong tất cả các thuộc địa Pháp, nạn nghèo đói đều tăng, sự phẫn uất ngày càng lên cao Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu Nếu hiện nay, nông dân vẫn còn trong tình trạng tiêu cực thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo” [96, tr.289] Dù chiếm tới 95% dân số “nhưng vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu mà nông dân thường

có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu” [102, tr.213] Do đó, nông dân Việt Nam không thể lãnh đạo được cách mạng đi đến thắng lợi

“Phong kiến địa chủ và tư sản mại bản, thà chịu kinh tế nước nhà phụ thuộc vào đế quốc chứ không muốn giải phóng nông

Trang 34

dân, không muốn công nghệ nước ta được phát triển” Như vậy, lực lượng này không những không lãnh đạo được cách mạng mà còn là đối tượng của cách mạng

Tiểu tư sản, trí thức dù là những người “cũng bị đế quốc, phong kiến áp bức, có học thức, dễ có cảm giác chính trị…dễ tiếp thu sự giáo dục cách mạng” nhưng có nhược điểm “lý luận không đi đôi với thực hành, xem khinh lao động, tư tưởng mơ hồ, lập trường không vững, khi hành động thì hay lung lay” [102, tr.314] Nhìn chung, tiểu tư sản trí thức có nhược điểm là tự tư tự lợi, rời rạc, kém kiên quyết nên cũng không thể lãnh đạo được cách mạng

Giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện gắn liền với các cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương “Sự phát triển của CNTB thực dân ở Đông Dương đã tạo ra ở xứ đó hai giai cấp, giai cấp vô sản công nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp” [97, tr.357]

Sau chiến tranh thế giới 1914-1918, khi thực dân Pháp bước vào cuộc khai thác thuộc địa lần hai (1918-1929), sự đầu tư tư bản vào nước ta tăng một cách ồ ạt với nhiều nhà máy, xí nghiệp được xây dựng thì GCCN tăng nhanh chóng về số lượng và có sự trưởng thành về lập trường giai cấp Trong khi đó, những nhà tư sản đầu tiên của Việt Nam phải tới chiến tranh thế giới 1914-1918 mới xuất hiện Trong chiến tranh, đường biển từ Pháp sang Đông Dương bị các tàu ngầm Đức phong toả nên tư sản Pháp không thực hiện được vai trò của mình làm cầu nối giữa thị trường Pháp và thị trường Đông Dương, lúc đó, tư sản Việt Nam xuất hiện, thế chân vào chỗ của tư sản Pháp Như vậy, có thể thấy, GCCN Việt Nam ra đời trước GCTS Việt Nam

và rõ ràng có ưu thế hơn hẳn GCTS Việt Nam về thời điểm ra đời Khi GCTS Việt Nam ra đời thì GCCN Việt Nam đã bước đầu khẳng định được vị thế, vai trò của mình

Công nhân Việt Nam phần lớn làm việc trong các cơ sở kinh tế của người Âu (so với số công nhân làm trong các cơ sở kinh tế của người Việt và người Hoa, tỷ lệ này những năm 30 của thế kỷ XX là khoảng 22 vạn so với vài ba vạn) do đó quá trình lao động của họ

Trang 35

gắn liền với nền đại công nghiệp được du nhập từ Pháp sang nước ta

Họ là “giai cấp tiền tiến nhất trong sức sản xuất” [102, tr.212], là giai cấp có “đặc tính cách mạng” là: “kiên quyết, tập thể, có tổ chức, có

kỷ luật” [102, tr.212] GCCN Việt Nam phân bố trên khắp cả nước nhưng tập trung nhiều ở các trung tâm công nghiệp lớn Có những khu mỏ có hàng vạn công nhân, có những đồn điền, nhà máy có hàng ngàn công nhân Năm 1929, ở Hà Nội tỷ lệ công nhân so với tổng số dân của thành phố là 15% Sự tập trung này tạo điều kiện thuận lợi cho công nhân khi họ tổ chức các cuộc đấu tranh và cho những người cộng sản khi truyền bá lý luận cách mạng vào phong trào công nhân

Nội bộ GCCN tương đối thống nhất vì không có đội ngũ công nhân quý tộc và những công đoàn vàng Công nhân Việt Nam phần lớn xuất thân từ nông thôn do đó họ có mối liên lạc chặt chẽ với làng quê và những người nông dân Mặt khác, nhiều người còn hiện diện đồng thời với hai tư cách, lúc này là công nhân, lúc khác

là nông dân Mối liên hệ này tạo thuận lợi lớn cho việc xây dựng liên minh công - nông Họ xuất thân từ những người nông dân bị phá sản và buộc phải bán sức lao động của mình cho giới chủ Để

có đủ nhân công cho các cơ sở kinh tế của người Pháp, chính quyền thuộc địa đã thực hiện mọi biện pháp để bần cùng hoá những người lao động và bằng chính sách cưỡng bức, đẩy họ vào làm việc tại các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền

Trở thành công nhân là bước đường cùng của những người lao động Việt Nam dưới chế độ thuộc địa Họ buộc phải trở thành công nhân bằng chính sách bắt phu, mộ phu một cách tàn nhẫn trong một “hệ thống buôn bán nô lệ da vàng” ở cái “chợ buôn nô lệ” Và những con người không có bất cứ một thứ vũ khí nào trong tay ấy- những người buộc phải trở thành công nhân - đã “ký một hợp đồng nô lệ trong vòng 3 năm bắt đầu một cuộc hành trình đến cõi âm trên trần thế, nạn nhân của một chế độ bóc lột đặc biệt thực dân - phong kiến, dưới roi vọt của xu-ba-giăng, cai, ký, bị hành hạ bởi đói khát, bệnh tật, bị vắt đến kiệt cùng sức lực, bị xúc phạm về nhân cách và tình cảm dân tộc” [187, tr 370, 371]

Trang 36

Công nhân Việt Nam không có thân phận con người, họ bị coi như một thứ hàng hoá mà bọn cai thầu được nhận hoa hồng sau khi giao nộp cho chủ “Các xí nghiệp ngoại quốc lại thường không biết rõ số nhân công họ sử dụng, mà chỉ biết những người cai thầu

mộ thợ cho họ” [4, tr.232] thế nhưng những ông chủ tư bản này lại

có thể tự ấn định số giờ làm việc của công nhân trong các xí nghiệp của chúng Điều kiện làm việc và sinh hoạt của công nhân Việt Nam thật sự tồi tệ với đủ thứ tệ nạn trên đời, mức sống của

họ ngày càng giảm đi Dường như, vốn đầu tư của tư bản Pháp vào Việt Nam càng tăng lên thì số lượng công nhân càng tăng nhanh chóng và công nhân bị bóc lột ngày càng tàn tệ hơn chứ không làm cho cuộc sống của họ khả dĩ hơn Vì nguồn cung công nhân quá lớn dẫn tới lương công nhân thấp nên giới chủ gần như không cần quan tâm tới tăng năng suất bằng các phương tiện kỹ thuật mà tha hồ bóp nặn, bóc lột công nhân “Vì áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai bị áp bức càng mạnh thì cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết” [97, tr.266] Công nhân Việt Nam

là lực lượng xã hội bị áp bức nặng nề do đó có tinh thần cách mạng cao Những sự chuyển biến về mặt kỹ thuật trong quá trình khai thác thuộc địa đòi hỏi trình độ chuyên nghiệp của công nhân ngày càng cao, do đó, số công nhân chuyên môn ngày càng gia tăng Đặc biệt, số công nhân được mộ sang Pháp trong chiến tranh, phần nhiều là những công nhân có trình độ kỹ thuật Và do được tiếp xúc với lối sống mới, chịu ảnh hưởng của những luồng tư tưởng mới, những khát vọng về chính trị và xã hội, và khi trở về, trong chừng mực nhất định, họ đã có đầu óc công nghiệp Bộ phận này là một trong những hạt nhân làm cho chất lượng GCCN ngày càng tăng lên

Dù GCCN Việt Nam có số lượng ít và chất lượng không cao nhưng “lãnh đạo được hay không là do đặc tính cách mạng chứ không phải do số người nhiều hay ít” [96, tr.212] Mặt khác, số lượng

và đội ngũ chính trị của GCCN Việt Nam hoàn toàn có triển vọng phát triển vì Đảng của GCCN “đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mạng, lôi cuốn GCCN và tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi

Trang 37

dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến, lại có những phần tử trí thức tham gia cách mạng và vô sản hoá thành thử đội ngũ chính trị của GCCN ngày càng phát triển Mai sau công nghệ của ta ngày càng phát triển thì số công nhân ngày càng tăng thêm” [96, tr.212] Hơn nữa, công nhân Việt Nam không tồn tại đơn độc mà tồn tại trong mối quan hệ và sự hậu thuẫn với GCCN quốc tế: “Nước ta GCCN còn nhỏ, song ở thế giới thì GCCN rất to lớn” [96, tr.212]

Mặt khác, GCCN giai đoạn này phần lớn là những người lao động trẻ tuổi, họ có sức mạnh của tuổi trẻ cùng với sức phản kháng không chỉ của người lao động bị bóc lột cùng cực mà còn sức mạnh phản kháng của những người dân mất nước Sức mạnh của tuổi trẻ, của mối thù giai cấp và mối thù dân tộc hoà vào trong họ tạo nên một sức mạnh vô địch khi họ được giác ngộ và tổ chức lại “GCCN có thể thấm nhuần tư tưởng cách mạng nhất, tức chủ nghĩa Mác Lênin Đồng thời tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức

và hành động, GCCN đều giữ vai trò lãnh đạo” [102, tr.212]

Như vậy, sự cai trị của thực dân Pháp đã tạo ra ở Việt Nam một GCCN hiện đại với bản chất quốc tế và những đặc điểm mang tính chất đặc thù Việt Nam Với những đặc điểm nổi trội này cùng với ưu thế về sự ra đời trước so với GCTS Việt Nam, GCCN Việt Nam giữ vị thế thượng phong trong vai trò người lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi

Chỉ có GCCN là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm cách mạng của phong trào cộng sản quốc tế, GCCN tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam [96, tr.15]

Hai là các tiền đề về tư tưởng, văn hoá

Những năm đầu thế kỷ XX, một hệ tư tưởng mới đã xâm nhập vào Việt Nam, đó là hệ tư tưởng vô sản Có nhiều phương thức để

hệ tư tưởng vô sản thâm nhập vào nước ta Ở đây, như là hệ quả sự

Trang 38

cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, có thể thấy, chính thông qua chủ nghĩa chống cộng của thực dân Pháp ở Việt Nam bằng báo chí thực dân mà hệ tư tưởng này đã xâm nhập vào nước ta

Mặc dù tờ báo bí mật đầu tiên có xu hướng cộng sản (báo Thanh niên) ra đời năm 1925, nhưng trước đó báo chí ở Việt Nam

đã kịp nói tới cách mạng Nga và sự “đe doạ” của phong trào cộng sản Ngay từ những năm 1919, 1920, người ta đã đọc được nhiều bài viết công kích, bịa đặt, vu khống chính quyền Xô viết non trẻ

và CNCS Không chỉ báo chí Pháp mà cả báo chí tiếng Việt cũng bị

sử dụng vào công việc này [187, tr274]

Điển hình là tờ Diễn đàn Đông Dương ở miền Nam “đề cao chủ nghĩa Pháp Việt đề huề, chửi mắng thậm tệ, nói xấu hết lời CNCS, cách mạng Nga và Lênin” [187, tr.270]

Vào những năm 1920-1924, bọn quan lại thực dân Pháp luôn luôn tuyên truyền chống lại CNCS Giáo trình của giáo sư sử học

đã cố tình miêu tả chế độ Xô Viết như là một tai vạ của lịch sử hiện đại… Những buổi diễn thuyết nói xấu Liên Xô, bôi nhọ các nhà lãnh đạo Cách mạng tháng Mười [187, tr.403]

Thực dân Pháp đã phạm một sai lầm lớn: chúng triển khai chủ nghĩa chống cộng ở Việt Nam khi ở nước ta chưa hề có tư tưởng về CNCS Người Việt Nam, nhất là tầng lớp trí thức cấp tiến lúc bấy giờ đã lờ mờ hiểu ra hình như nước Nga Xô viết, Lênin là bạn của ta Họ đặt ra câu hỏi và suy luận:

Đối với ta, kẻ thù là ai? Tây lấy nước ta Tây cướp thuộc địa ở khắp nơi… Nếu như chúng nó ghét chế độ Xô viết đến mức đó thì CNCS chỉ có thể là người bạn tốt của những người dân thuộc địa chứ sao? [187, tr.403]

Một trong những hiệu ứng ngoài ý muốn của bọn thực dân trong việc tuyên truyền chống cộng và “làm sạch” môi trường chính trị tại thuộc địa Việt Nam là đã góp phần thúc đẩy phong trào tìm hiểu về CNCS phát triển ở nước ta

Mặt khác, sau chiến tranh, nhiều thuỷ thủ, lính thợ Việt Nam

bị thực dân bắt lính sang chiến trường châu Âu hồi hương Họ trở

Trang 39

về mang theo các hiểu biết mới, tư tưởng mới và cả kinh nghiệm đấu tranh của những anh em đồng chí ở châu Âu về nước Thực tế này làm cho đời sống tư tưởng và hoạt động chính trị ở Việt Nam càng thêm đa dạng, phong phú

Nếu như hai con đường trên là những con đường hết sức tự nhiên, khách quan thì một con đường hoàn toàn mang tính chủ động để hệ tư tưởng vô sản có thể thâm nhập vào Việt Nam đó là thông qua sự truyền bá của Nguyễn Ái Quốc mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong phần cơ sở chính trị ở sau

Bằng nhiều con đường chính thức và phi chính thức, chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận cách mạng của GCCN đã thâm nhập vào phong trào cách mạng Việt Nam thức tỉnh quần chúng cách mạng, trước hết là GCCN Việt Nam Đây là một trong những điều kiện quan trọng dẫn tới GCCN Việt Nam có thể tự tin bước lên vũ đài chính trị, thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình Và đây cũng chính là một tiền đề tư tưởng không thể thiếu cho việc hiện thực hoá từng bước con đường giải phóng dân tộc mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn

Một nhân tố không thể không kể tới là sự tương đồng giữa những yếu tố của tư tưởng, văn hoá Việt Nam với học thuyết của chủ nghĩa Mác Lênin tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa Mác Lênin thâm nhập vào nước ta Ở các nước phương Đông từ rất sớm

đã hình thành những mầm mống tư tưởng có tính chất XHCN như quan điểm dân là gốc, cộng đồng về tài sản, quan điểm về tình nhân ái yêu thương con người, quan điểm về xã hội đại đồng lý tưởng của Khổng Tử, quan điểm về lòng từ bi bác ái của Phật… Trong lịch sử châu Á, điều đặc biệt là chế độ quân chủ đã tồn tại hàng nghìn năm song cách tư duy và ứng xử của người dân nơi đây rất gần gũi với những giá trị “dân chủ” Chẳng phải tinh thần “Dân

vi bản, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” của Khổng Tử đã được nhiều nước châu Á coi là nguyên tắc ứng xử trong mối quan hệ giữa người dân và chính quyền đó sao? Hay Phật giáo - một tôn giáo của phương Đông, các nước phương Đông đã thấm nhuần Phật giáo từ hơn hai nghìn năm - là một tôn giáo luôn đề cao sự bình đẳng giữa

Trang 40

con người với nhau Phật đã từng nói: Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành Là một nước nằm ở một vị trí địa lý đặc biệt,

từ lâu trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam có cơ hội tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của các học thuyết chính trị - xã hội và tôn giáo của các nước châu Á, phương Đông Trong một môi trường với những giá trị truyền thống như vậy, những tư tưởng XHCN rất gần gũi và quen thuộc với người châu Á Mặt khác, những giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam như truyền thống đoàn kết, tinh thần cố kết cộng đồng, tương thân tương ái… rất gần gũi với bản chất của CNXH Sự tương đồng này khiến cho người Việt Nam khi tiếp nhận học thuyết CNXH của Mác, dù có nguồn gốc phương Tây nhưng không thấy xa lạ, ngỡ ngàng

Hơn nữa, chính sự thống trị tàn bạo của CNTD phương Tây ở châu Á đã tạo ra những tiền đề cho sự lựa chọn con đường XHCN

Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lịch sử các cuộc khai thác thuộc địa bao giờ cũng được viết bằng máu và nước mắt của những người bản xứ Sự cai trị tàn bạo đó đã dồn con người đến bước đường cùng và thôi thúc khả năng tự giải phóng, hướng tới một xã hội đối lập với trạng thái đang tồn tại: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương đang giấu một cái gì đó đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến” [91, tr.28] Và trạng thái xã hội tương lai họ hướng tới là: “Một thế giới XHCN, CNCS không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng, xứng đáng là thế giới của loài người” [104, tr.324]

Như vậy, sự cai trị tàn bạo của CNĐQ đã thôi thúc nhân dân Việt Nam phải đấu tranh giải phóng, thoát khỏi trạng thái nô lệ tủi nhục đó Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy cho nhân dân Việt Nam một con đường Con đường đó gắn liền với lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin Bản thân chủ nghĩa Mác Lênin khi truyền bá vào một nước Nho giáo như Việt Nam đã có nhiều yếu tố thuận lợi Trên thực tế, bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau, lý luận “chắc chắn nhất, chân chính nhất, cách mạng nhất, khoa học nhất” này

đã thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước

Ngày đăng: 05/01/2023, 23:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
46. Trần Quang Huy (1995), 19-8, Cách mạng tháng Tám là sáng tạo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Tám là sáng tạo
Tác giả: Trần Quang Huy
Nhà XB: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Năm: 1995
47. Đỗ Quang Hưng (1989), “Chính sách phương Đông” của Quốc tế Cộng sản, lý thuyết và thực tiễn”, Tạp chí Lịch sử Đảng (1), tr. 9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phương Đông của Quốc tế Cộng sản, lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Tạp chí Lịch sử Đảng
Năm: 1989
48. John Lê Văn Hoá (2003), Tìm hiểu nền tảng văn hoá dân tộc trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nền tảng văn hoá dân tộc trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh
Tác giả: John Lê Văn Hoá
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2003
49. Phan Xuân Hoà, Từ nội các Trần Trọng Kim đến chính phủ Bảo Đại, Quyển 1, Nhà in Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nội các Trần Trọng Kim đến chính phủ Bảo Đại
Tác giả: Phan Xuân Hoà
Nhà XB: Nhà in Hà Nội
50. Trần Thị Thu Hoài (2012), Sự biến đổi chính trị ở Việt Nam từ 1858 đến 1945, Luận án tiến sĩ chính trị học, Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi chính trị ở Việt Nam từ 1858 đến 1945
Tác giả: Trần Thị Thu Hoài
Nhà XB: Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
51. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Tập bài giảng Chính trị học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Chính trị học
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
52. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2010), Tập bài giảng Chính trị học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Chính trị học
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
53. Học viện Hành chính (2009), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
54. Học viện Hành chính (2009), Giáo trình Chính trị học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính trị học
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
55. Nguyễn Văn Hồng, Bài nghiên cứu: “Đông Du Trung Quốc, Việt Nam”, Một hiện tượng lịch sử khu vực thời cận đại, Tài liệu đánh máy do tác giả cung cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Du Trung Quốc, Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
56. Nguyễn Văn Hồng, Bài nghiên cứu: Tôn Trung Sơn - Hồ Chí Minh mối đồng cảm lịch sử và thời đại, Tài liệu đánh máy do tác giả cung cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nghiên cứu: Tôn Trung Sơn - Hồ Chí Minh mối đồng cảm lịch sử và thời đại
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
57. Nguyễn Văn Hồng (2001), Mấy vấn đề lịch sử Châu Á và lịch sử Việt Nam, một cách nhìn, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lịch sử Châu Á và lịch sử Việt Nam, một cách nhìn
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB Văn hoá Dân tộc
Năm: 2001
58. Nguyễn Văn Hồng (2010), Hồ Chí Minh nhà cách mạng dân tộc hiện thân văn hoá châu Á và thời đại, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nhà cách mạng dân tộc hiện thân văn hoá châu Á và thời đại
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB Quân đội Nhân dân
Năm: 2010
59. Mary Somers Heid Hues (2007), Lịch sử phát triển Đông Nam Á, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phát triển Đông Nam Á
Tác giả: Mary Somers Heid Hues
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2007
60. Nguyễn Văn Kiệm (2003), Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2003
62. Nguyễn Văn Kim (1999), Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa: nguyên nhân và hệ quả, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa: nguyên nhân và hệ quả
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
63. (2000), Khái quát về lịch sử nước Mỹ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về lịch sử nước Mỹ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
64. Đặng Xuân Kháng (2008), “Vấn đề xây dựng bộ máy Nhà nước hiện đại ở Nhật Bản dưới chính quyền Minh Trị”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử (9+10), tr. 80-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng bộ máy Nhà nước hiện đại ở Nhật Bản dưới chính quyền Minh Trị
Tác giả: Đặng Xuân Kháng
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu lịch sử
Năm: 2008
66. Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945)
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
67. Nguyễn Văn Khánh (2004), “Hệ thống ngạch bậc công chức của chính quyền thuộc địa ở Bắc và Trung Kỳ qua Nghị định năm 1936”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (2), tr. 59-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống ngạch bậc công chức của chính quyền thuộc địa ở Bắc và Trung Kỳ qua Nghị định năm 1936
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w